album của BCT

album của BCT
một vài hình ảnh chia sẻ với bạn đọc

Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

NGUYỄN HUY THIỆP LÀ NGƯỚI THẾ NÀO

NGUYỄN HUY THIỆP LÀ NGƯỜI THẾ NÀO? Bùi Công Thuấn Trước đây tôi đã định viết về Nguyễn Huy Thiệp (NHT) nhưng lại thôi, vì người ta đã viết quá nhiều về Nguyễn Huy Thiệp, mình không nên làm ồn thêm. Nhưng có một sự thật là Hội Nhà Văn Việt Nam chưa hề trao cho Thiệp giải thưởng nào. Thiệp nhận được giải thưởng của nước ngoài. Tác phẩm của NHT được dịch nhiều sang tiếng Pháp (ở Pháp Thiệp có 9 đầu sách được dịch). NHT được nhận giải thưởng Nonino ở Ý . Họ đọc Thiệp qua bản dịch tiếng Anh. NHT thú nhận điều này :” người đã đề cử tôi cho giải thưởng Nonino có nói với tôi đại ý rằng: “Tôi chỉ đọc ông có hai truyện nhưng tôi đã “ngửi” thấy ở ông có điều gì đấy...”. Với bản dịch Crossing the River của Dana Sachs và 10 người khác nữa ở Mỹ, Nguyễn Huy Thiệp đã bị “giết phăng”, “giết không kịp ngáp” ở trong thế giới tiếng Anh... Đấy là một thực tế mà khi trao đổi với đại diện các nhà xuất bản có tên tuổi trong chuyến đi châu Âu vừa rồi tôi (NHT) mới nhận ra.(1) 1.Sự nổi tiếng của NHT có căn gốc từ đâu? Trước hết NHT có tài kể chuyện lạ và hấp dẫn. Chủ để truyện ẩn rất sâu, điều này bộc lộ cái “thâm” của sĩ phu Bắc Hà. Tôi ít thấy người cầm bút đương thời có cái “thâm”, cái “độc” và cái “tài” như NHT. Người ta công nhận Thiệp viết hay nhưng không dám trao giải thưởng. Người ta nhận rõ NHT góp phần đổi mới văn hoạc VN nhưng không dám đưa NHT vào SGK. Có người bảo, NHT là cục xương khó nuốt của Hội Nhà Văn VN. Văn Học VN đương đại có hai người gây được những bước ngoặt quan trọng về thi pháp truyện ngắn. Đó là Nam Cao và NHT. Sau Nam Cao, một thời người ta bắt chước cách viết của ông. Cũng vậy, NHT đã mở ra một cách viết mới mà cho đến nay nhiều người vẫn bắt chước (truyện Dị Hương vừa đạt giải, đã bắt chước cách viết của Kiếm Sắc) Nhưng điều gây tranh cải và làm cho Thiệp nổi tiếng là ở thái độ của NHT trong tác phẩm, và cái cách NHT dùng văn chương cho những mục đích ngoài văn chương của mình. Thiệp có tài viết những đoạn văn ỡm ờ, kể những câu chuyện ỡm ờ, nửa thông minh, nửa mù mịt, nửa chân thật, nửa đểu cáng, và đặc biệt là tài dấu mặt sau rất nhiều kiểu mặt nạ. Truyện của NHT lạ là ở chỗ, trước đó, nhà văn VN viết bằng phương pháp Hiện Thực XHCN. NHT triệt để bác bỏ kiều bút pháp này. NHT lạ ở chỗ, trước đó VHVN chỉ viết tụng ca, anh hùng ca, thì NHT lật đổ tất cả mọi thần tượng, kể cả Quang Trung (Phẩm Tiết) là người anh hùng của dân tộc. Cái thâm của Thiệp là ở chỗ, Thiệp mượn và bịa đặt ra chuyện xưa để nói về cái hiện thực hôm nay.Thiệp phủ định thực tại xã hội XHCN Thiệp đang sống, cái thực tại mà văn chương giai đoạn trước ca ngợi hết lời (”Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!; “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”). Thiệp phủ định chủ nghĩa Marx –Lenin là nền tảng tư tưởng CM Việt Nam, . Và gần như Thiệp phủ định tất cả. Trong Vàng Lửa, NHT viết :”Châu Âu chín chắn hơn. Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng …”Đó là cách NHT mượn chuyện người để phủ định cái thực tại ở ta. Cứ theo câu chữ hàm ý mà đọc, thì Thiệp cho rằng ở ta vinh quang dân tộc là do cách mạng, do hai cuộc kháng chiến và do chủ nghĩa Mác-Lênin. Những điều như thế ở VN đã trở thành chân lý, thành tín niệm, không tranh cãi và được rao truyền trên tất cả các kênh truyền thông hàng ngày. Thiệp phủ định những điều ấy nhưng không nói thẳng ra, và người ta hiểu ý Thiệp nhưng không bắt bẻ Thiệp được. Dây là một đoạn diễu nhại cái nhìn theo chủ nghĩa Marx :”Hắn bắt một con thạch sùng rồi để lên bàn. Hắn trình bày thế giới bằng cách miêu tả con thạch sùng ấy. Thượng tầng kiến trúc là đầu, hạ tầng cơ sở là chân, khúc đuôi là đạo đức. Hắn cho rằng đạo đức rụng rồi lại mọc, đạo đức có thể ngoe nguẩy một mình, còn toàn bộ sự sống chuồn mất”(Mưa) Mượn lời Trương Chi, Thiệp chửi đời là cứt:”…chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng, mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc.-Cứt”(Trương Chi) “Bạch thầy! Đâu đâu con cũng thấy toàn là súc vật. Mọi sự thảy súc vật hết. Cả sự chung tình cũng súc vật. Ý thức hướng thiện cũng súc vật nốt”(Sang Sông ) NHT chửi cả Hội Nhà Văn thế này: “ …Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… "vô học", tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ tức là những người chỉ dựa vào "cảm hứng" để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả. Giai thoại có một nhà thơ nói về tình cảnh thơ ở trong bài thơ sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: "Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/ Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/ Vợ tôi nửa dại nửa khôn/ Hôm nay lại bảo: Dí l… vào thơ!", tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa. Tôi biết sẽ có nhiều người phản ứng lại điều tôi nói "trắng phớ" ra như thế nhưng ở đây nó là thực tế. Tôi chỉ nói ra một thực tế "tàn nhẫn" mà mọi người vẫn tránh né hoặc "không nỡ" nói ra mà thôi. Đã đến lúc người ta phải nhìn vào thực tế để thúc đẩy văn học cũng như thúc đẩy xã hội phát triển. “ ( NguyỄn Huy Thiệp – Trò Truyện Với Hoa ThủyTiên.) Đoạn đối thoại sau đây , Thiệp biết rõ sẽ bị nhiều người chửi nhưng Thiệp tiếp tục chửi:”Nghe tôi nói nhé : lớn lên chú đừng sa vào con đường văn chương chữ nghĩa. Thế nào chú cũng ăn đòn. Người ta sẽ nguyền rủa đấy. Chú không chống nổi sự ngu dốt của bọn có học đâu. Tôi đây này, tôi hiểu sâu sắc sự ngu dốt của bọn có học tai hại thế nào, vừa phản động, nó vừa ngụy biện, lại vừa mất dạy. Sự ngu dốt của bọn có học tởm gấp vạn lần so với người bình dân…Tôi thấy buồn vì văn học của ta ít giá trị thật. Nó thiếu tín ngưỡng và thẩm mỹ thực”(Những Bài Học Nông Thôn) Đoạn đối thoại sau đây Thiệp tự bộc lộ sự đánh giá về chính mình: Tôi cười bảo :Anh biết không :người cách mạng chỉ chú tâm vào mục đích cuối cùng mà thôi. Anh Bường bào :” Đừng có bẫy tay vào chính trị tư tưởng, mày đều lắm”…”Bản chất của mày là một thằng trí thức lưu manh chính trị. Tởm lắm! (Những Người Thợ Xẻ) Thiệp nói về việc đi dạy học của mình :”Lúc nãy ở trong chùa nói chuyện với sư, giật mình nghĩ lại thấy mấy chục năm nay mình đi dạy học, dạy trẻ con toàn những thứ láo khoét”(Chăn Trậu cắt Cỏ) Vâng, như thế thì dù NHT kể truyện hay, nhưng NHT không có mục đích sáng tạo nghệ thuật, thì tác phẩm của NHT không hẳn là có ích cho đời, và có ích cho văn chương (tất nhiên là có ích cho những ai muốn dùng Thiệp để chống lại hiện thực Xạ Hội Chủ Nghĩa). NHT chỉ dùng văn chương làm phương tiện bộc lộ thái độ với chính kiến trước thực tại. Truyện của Thiệp hấp dẫn là bởi Thiệp biết khai thác nhiều kỹ thuật viết khác với bút pháp của chủ nghĩa Hiện Thực XHCN, nhưng mục đích của Thiệp là dẫn dụ người đọc vào những câu truyện mà ẩn sâu bên dưới lớp vỏ ngôn từ là thái độ chính trị của Thiệp. 2.Thái độ chính trị của Thiệp là gì? Rời bỏ chủ nghĩa Hiện Thực XHCN, rời bỏ chủ nghĩa Marx, NHT tìm về cội nguồn tinh thần nào ? Đọc truyện của Thiệp, tôi thấy lổn nhổn, nếu không nói là bát nháo đến dở hơi (!) những ý niệm của chủ nghĩa Hiện Sinh, của Thiền, của Đạo, của Freud, của Thiên Mệnh. Tất cả còn sống sít, chưa được tiêu hóa (có lẽ NHT chưa được học đến nơi đến chốn. Thực tiễn cuộc sống của NHT cũng không cho phép ông tiếp cận với những tư tưởng này khi ông đi dạy học và sống ở miền Bắc VN trước 1975) Xin đọc: “oái oăm ở chỗ đạo là thứ danh không phải danh, điều ấy đẻ ra những khó khăn trong xuất xử. Chính Khổng Tử cho rằng người làm quan là để thi hành điều nghĩa chứ đạo thì chẳng thi hành được”(Nguyễn Thị Lộ). Rõ ràng NHT phê phán Lão Tử về Đạo. Trong Đạo Đức Kinh Lão Tử Viết: Đạo Khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh”. Thiệp chỉ hiểu cái nghĩa đen mặt chữ của ý niệm Đạo. Cũng vậy, Khổng Tử coi trọng Nhân và Lễ, Mạnh Tử mới coi trong Nghĩa. Thuyết Thiên Mệnh của Khổng Tử và Đạo vô vi của LãoTử khác xa nhau. NHT cho vào một rọ và quậy cho nó nháo nhào lên. NHT chưa học vỡ nghĩa sách thánh hiền (mượn chữ của Nguyễn Tuân), nhưng cứ hô hoán lên, khiến những người không biết, tưởng Thiệp nói điều chân lý, họ vừa sợ Thiệp, lại vừa chê trách thánh nhân! Cũng trong truyện Nguyễn Thị Lộ, NHT gán cho Nguyễn Trãi phạm trù “cô đơn” của Triết học Hiện Sinh. Quả thực, sự vay mượn tư tưởng này không thể chấp nhận, bởi thời của Nguyễn Trãi chữa có triết học Hiện Sinh. Như kiểu người ta chê trách Nguyễn Du sao không cho Từ Hãi đi làm cách mạng rồi lên làm chủ tịch nước!!! Thiệp nhận ra sự khiếm khuyết của văn chương VN là không có tư tưởng, và Thiệp nỗ lực bù vào chỗ khiếm khuyết ấy, nhưng tôi cho rằng Thiệp thất bại cả về tri thức, cách thể hiện tư tưởng và bút pháp. Chẳng hạn tư tưởng Hiện Sinh trong tác phẩm văn học phương Tây được trình bày bằng cách viết dòng ý thức thông qua miêu tả Hiện Tượng Luận. Thiệp chưa đạt tới cách viết này (Muối của Rừng). Khi chuyển sang khai thách tư tưởng Thiền (Sang Sông ), Thiệp cũng không đạt được cách nói vô ngôn là đặc trưng mỹ học Thiền. NHT thất bại trong việc tìm kiếm một tư tưởng thấu đạt đến chân lý cho cuộc đời, anh trở nên bi quan.|”Chúng tôi cần gì nhiều tiền, nhiều nhà, nhiều đạo đức, nhiều anh hung Thắt buổi sáng, đã trưa, đã chiều. Thoắt mùa xuân, đã thu, đã đông…Chỉ có nỗi buồn là vĩnh cửu”( Con Gái Thủy Thần) “Kìa trăm năm Tài mệnh là gì Chỉ thấy đớn đau” (Kiếm Sắc) Tôi nhặt những ánh mắt đời Hòng dõi theo ánh mắt tôi Dõi vào cõi ý thức Cõi ý thức mênh mông xa vời Dầu tôi biết vô nghĩa,vô nghĩa, vô nghĩa mà thôi” (Thương Nhớ Đồng Quê) “Đời người ta, ai chẳng đã từng săn đuổi bao điều phù du?” (Những Ngọn Gió Tua Hát) Không cần phải đọc kinh Phật, bạn đọc cũng hiểu NHT thiên về tư tưởng Phật, đời vô thường, đời là bể khổ (Khổ Đế trong Tứ Diệu Đế). Những tưởng NHT tìm thấy chân lý gì sau khi từ bỏ Chủ nghĩa HTXHCN, chủ nghĩa Marx, hóa ra anh lại chạy vòng vòng trở về thứ triết lí tiêu cực của Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngân Khúc. Đó là một bứơc thụt lùi đáng thương hại! Nghĩ thân phù thế mà đau, Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê. Tang thương đến cả hoa kia cỏ này. Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy, Kiếp phù sinh trông thấy mà đau. Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì ! Hơn thế NHT còn bộ lộc những nhận thức tư tưởng hết sứ méo mó.Qua lời nhận vật Bường, NHT phỉ báng thế này :” Con ơi, thế Giêsu Crit có đểu cáng và độc ác không? Như Lai có đểu cáng và độc ác không?”( Những Người Thợ Xẻ) Đến như thế thì người đọc không còn gì để trao đổi với NHT nữa, bởi Như Lai và Giêsu Christ là hai con người truyền rao chân lý từ bi, bác ái. Hai con người ấy bằng chính đời sống tại thế của mình, đã đã chứng minh cho sự Giác ngộ và sự Cứu độ chúng sinh. Hơn 2000 năm nay, nhân loại đã tôn thờ hai con người ấy như đấng thiêng liêng, và tìm đến Phật, đến Giêsu như là người giúp mình sang sông “đáo bỉ ngạn”. Vậy mà NHT coi Đấng Giác Ngộ và Đấng Cứu Rỗi ấy đều là đểu cáng và độc ác, vậy còn ai trên cõi đời này đáng được NHT cho là từ bi, bác ái ? ? 3.Hãy xem NHT quan niệm thế nào về văn chương? “Bác ơi, chữ nghĩa nó ghê gớm lắm. Nó là ma đấy. Yếu bóng vía là nó ám mình, nó làm cho thê thảm đau đớn mới thôi”…”Văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống. Có thứ văn chương sửa mình. Có thứ văn chương trốn đời trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn”(Giọt Máu II) “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh”(Giọt Máu VII) “Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất…Nó gây ra sự nổi loạn trong cuộc đời thường”(Chút Thoáng Xuân Hương) Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm khi Bộ Giáo Dục không đưa thứ văn chương “làm loạn”, của NHT vào sách giáo khoa. Nhiều người đã ca tụng NHT khi thấy NHT từ bỏ chủ nghĩa Hiện Thực XHCH, thấy NHT phê phán hiện thực đất nước xây dựng theo chủ nghĩa xã hội dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, thấy NHT lật nhào thần tượng (mượn Quang Trung để lật nhào thần tượng cách mạng). Đó là quyền của người đọc. Nhưng bình tâm mà đọc NHT, thì thấy rõ hạn chế này ở ngòi bút NHT. Văn NHT thiếu tư tưởng nhân đạo. Cái nhìn của NHT thiếu sự “thành ý, chính tâm”. NHT chỉ thấy cái ác, cái dâm cái loạn, cái đểu cáng. Còn nếu muốn nghe NHT nói chính trị, thì người đọc sẽ lắc đầu mà đi thôi. Xin đọc “Dân chúng nhẹ dạ nông nổi cũng như thế đấy. Các nhà chính trị, các thiên tài là kẻ có khả năng xô dạt dân chúng về cả một phía. Dân chúng cầu lợi. Chỉ cần tí lợi là họ sẽ a dua nhau bu đến. Họ không biết rằng điều ấy chất chứa toàn bộ sự vô nghĩa trong đời sống của họ. Họ sinh ra, hoạt động, kiếm ăn, cứ dạt chỗ nọ rồi dạt chỗ kia mà chẳng tự định hướng cho mình gì cả. Chỉ đến khi nào dân chúng hiều rằng không được cầu lợi, mà có cầu lợi thì cũng chẳng cho ai, người ta chỉ hứa hẹn suông để bịp bợm thôi, thảng hoặc có cho thì cho rất ít, lợi bất cập hại. Lợi phải do chính dân chúng tạo ra bằng sức lao động của mình. Họ cần hiểu rằng phải cầu một thứ cao hơn thế nữa, đấy là giá trị chân chính cho toàn bộ cuộc sống của mình, quyền được tự mình định đoạt cuộc sống, tóm lại là tự do”(Những Bài Học Nông Thôn) Tôi không hiểu NHT đã “giảng đạo” hay lên lớp chính trị cho ai, vì anh nói đến sự vô nghĩa của đời sống (chủ đề của tôn giáo), anh lại nói đến ý nghĩa của lao động (một phạm trù của chủ nghĩa Marx-Lao động là vinh quang), rồi lại nói đến kinh tế (hoạt động, kiếm ăn). Mãi đến cuối đoạn văn mới lộ ra rằng con người, nhân dân cần tự do, nhưng họ không biết rằng tự do là giá trị trên hết, họ cũng không biết rằng họ đang nô lệ, đang bị các nhà chính trị lừa gạt… Và theo cách viết đeo mặt nạ của Thiệp, thì Thiệp đang nói về nhân dân VN, nhân dân VN đang bị nô lệ mà không biết. Thiệp nói về các nhà chính trị VN: Họ chỉ “hứa hẹn suông để bịp bợm thôi”. Hãy bỏ qua tâm ý của Thiệp, thì bạn đọc nhận ra rõ ràng rằng Thiệp chẳng có một lý thuyết xã hội nào, hay nền tảng triết học tư tưởng nào để lập ngôn, chỉ có cách nói đưa đẩy vòng quanh, cảm tính, như thế Thiệp sẽ chẳng đối thoại với ai được (những lý thuyết gia kinh tế, chính trị), còn quần chúng nhân dân thì chán ngấy chính trị rồi. Họ sẽ lật tẩy cái bản mặt của Thiệp mà rằng :” “Đừng có bẫy tay vào chính trị tư tưởng, mày đều lắm”…”Bản chất của mày là một thằng trí thức lưu manh chính trị. Tởm lắm! (Những Người Thợ Xẻ) Tôi đã từ bỏ Nguyễn Huy Thiệp từ lâu lắm rồi! Bởi chăng nên mất thì giờ vào những thứ vô bổ mà thiệp chào mời như đoạn văn Thiệp viết ở trên. Tháng 4.2012__________________________

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

TÔI ĐI NHẶT BỤI VÀNG

TÔI ĐI NHẶT BỤI VÀNG
(Tuỳ bút-thơ của Xuân Bảo. Nxb Hội nhà văn-2008)

Tập sách Tôi Đi Nhặt Bùi Vàng gồm 3 phần. Ký sự, thơ Đường luật của Xuân Bảo và thơ họa của bạn bè

ĐẾN VỚI THƠ ĐƯỜNG

Phần ký sự ghi lại quá trình nhà thơ Xuân Bảo (XB) đến với thơ Đường luật. Dấu ấn sâu đậm đối với Xuân Bảo là ở Bảo Tàng Lịch Sử năm 1974. Henry Kissinger sang thăm Việt Nam, ông ta chỉ vào bài thơ Nam Quốc Sơn Hà và khẳng định, “Đây là điều I, chương đầu của Hiệp Định Paris” (tr8). Điều ấy làm Xuân Bảo ngỡ ngàng. Năm 2003, bài Hà Nội-Nỗi Nhớ, bài thơ đầu tiên của XB được in trong tập Bút Xưa (tập V), sau đó XB đi dự trại sáng tác ở Đà Lạt, gặp gỡ thi hữu Hoài Thu, Đăng Tâm (Ninh Thuận). Xuân Giáp Thân, XB được thư mời của Hoài Yên đề nghị gửi bài cho chủ đề Ngàn năm Thăng Long. Đầu năm 2004 XB được Hội VHNT Đồng Nai đề cử vào ban Nội dung Ngày Thơ VN lần thứ hai, nhờ đó XB cảm nhận được đặc sắc thơ của Bác qua bài Nguyên Tiêu. Những năm đầu thế kỷ XXI, đọc những tập thơ Bút Xưa, XB ngộ ra thơ Đường luật VN bỗng hồi sinh và khởi sắc. XB cũng được nhiều thân hữu họa thơ. Dự các cuộc hội thảo thơ (02.04.2000 và 27.04.2002), XB càng tin tưởng rằng “Thơ Đường luật VN không thể chết, không hề chết mà nó còn lung linh khoe sắc thời gian qua”(tr21). Và XB khẳng định trong bài Tham luận :” Giờ đây, thơ Đường luật đã được làm bằng thi liệu của cuộc sống hiện đại, đề cập đến muôn mặt đời thường của xã hội. Vậy thì thơ đường luật Việt Nam phải có vị trí xứng đáng trong làng thơ Việt Nam. Đó là một chân lý”. Cứ thế XB miên man về hành trình làm thơ Đường luật, yêu thơ Đường luật và trở thành nhà thơ với những bài thơ in trong các tuyển tập thơ Đường luật và in trong tập sách này.

Phần này sẽ giúp ích cho những ai muốn tìm hiểu quá trình XB yêu thơ Đường và sáng tác thơ Đường như thế nào. Điểm xuất phát của XB là lòng tự hào dân tộc. XB đã học tập thơ ca dân tộc. Những cuộc gặp gỡ với bạn thơ cùng với các hoạt động thi ca đã giúp XB nhận ra giá trị của thơ Đường luật đồng thời khơi nguồn sáng tạo cho XB

NHỮNG HẠT BỤI VÀNG

Sáu “hạt bụi vàng “ mà Xuân Bảo tìm được đa số đã lên lão, nhưng “Tinh thần chưa quá date”. Đó là các cụ Thanh Trúc (1930), Hạnh Phương (1947), Tòng Lâm (75 tuổi), Nguyễn Xuân An (1926). XB kể lại việc đi tìm, gặp gỡ và giới thiệu sơ lược về các cụ, kèm theo trích tuyển một đôi câu, một đôi bài (có cụ không có thơ trích tuyển). Những bài thơ mà Xuân Bảo trích đăng của họ, tôi không thấy bài nào xuất sắc, nếu không nói là làng nhàng (chữ của Nguyễn Khuyến). Xin đọc :

Tám chục xuân rồi hả?
Vui thơ quên tuổi già
Tinh thần chưa quá “date”
Sức khỏe dường lưng “gas”
Tâm đắc bao nhiêu cụ?
“Thôi xao” được mấy bà?
Mái đời sương điểm tuyết
Hồn bút vẫn mơ hoa”
(Tám chục - Hỏi mình. Thanh Trúc)

Một cụ được Xuân Bảo giới thiệu là túc Nho, hiểu sâu rộng về truyện Kiều, đã viết nhiều bài khảo cứu về truyện Kiều. Cụ cảm hứng “chú giải truyện Kiều” như sau:

Buồn tình chú giải truyện Kiều chơi
Mới biết Nguyễn Du thật tuyệt vời
Mỗi chữ tưởng như chừng dễ hiểu
Vài dòng giải nghĩa mãi chẳng xuôi
(Xuân An)
Khen Nguyễn Du tuyệt vời chỉ là cách vuốt đuôi thiên hạ mà thôi! Cụ Xuân An viết vài dòng mà không giải nghĩa được một chữ của truyện Kiều là do năng lực ngôn ngữ của Xuân An hạn chế. Người bình dân thuộc lòng truyện Kiều, đâu cần chú giải. Họ còn lẩy Kiều, tập Kiều, bói kiều rất nhập tâm nữa. Bởi thơ Nguyễn Du là tấm lòng thấu suốt nghìn đời, là tấm lòng đến với tấm lòng. Đọc Kiều mà phải thông qua chú giải thì không hiểu Kiều được. Việc chú giải truyện Kiều đã có các nhà chuyên môn, đâu cần nhà thơ!! đúng là cụ Xuân An “Buồn tình chú giải truyện Kiều chơi”, cụ làm chơi thôi, không phải là thật, không phải là chú giải của khoa ngôn ngữ, văn bản một cách chuyên nghiệp. Xin bạn đọc đừng hiều lầm!

Đọc những câu thơ Xuân Bảo trích dẫn, tôi chưa nhận ra hạt bụi vàng (chữ của Nguyễn Khải) nào lấp lánh cả. Phải chăng đó là cách dùng chữ của XB để bày tỏ sự trân trọng với người làm thơ đã “quá date”. Trân trọng cho phải phép Lễ-Nghĩa trong giao tiếp mà người Việt gọi là “kính lão”!

DẤU ẤN CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT XUÂN BẢO

Phần Thơ Đường Luật có nội dung, đề tài tương đối rộng . Nhiều bài viết về Bác Hồ, về quê hương, về địa danh Đồng Nai (Trấn Biên, Tân Lân, Tân Triều, Xuân Lộc, Rừng Sác), Hà nội, Angkor. Xuân Bảo nghĩ suy về hiện tại, quá khứ, nỗi oan khiên của Nguyễn Trãi, tiếng trống trận của Quang Trung, giọt lệ Huyền Trân…

Thơ Xuân Bảo vừa có nét tài hoa vừa thể hiện được cái tình cuả nhà thơ đối với quê hương đất nước, gia đình, bè bạn.

Ánh dương rắc hạt sáng đường trần
Én vẽ trời xanh nét nét xuân
Lạc bước thi nhân vào cõi mộng
Hài in lối cũ gót giai nhân
(Nét Xuân)

DÒNG SÔNG QUÊ MẸ

Nao nao nhớ lại quãng đời qua
Bến nước, sân đình, với gốc đa
Thạch Hãn ngàn đời xuôi biển biếc
Nguồn Hàn muôn thuở đọng phù sa
Vấn vương kỷ niệm thời thơ dại
Đau đáu niềm riêng lúc tuổi già
Dù có mọi miền qua mọi chốn
Nhớ về quê mẹ nặng lòng ta

Có nhiều bài tạo được ấn tượng với người đọc về một phong cách lịch lãm, tao nhã, một nửa như cốt cách các nhà thơ Đường, một nửa như thi nhân Lãng Mạn thời Thơ Mới (1930-1945)

ĐỈNH BẠCH MÃ

Bạch Mã chon von Vọng Hải đài
Ngũ Hồ sóng sánh ánh dương mai
Đầu ghềnh vượn nhảy thân mờ tỏ
Cuối thác ve ngân tiếng vắn dài
Lãng đãng mây vờn mây ấp núi
Rì rào gió thoảng gió mời ai
Đổ Quyên thơm nức mùi hoa nở
Ta với tay lên tưởng chạm trời

Cảm hứng chung của thơ Xuân Bảo là tụng ca đất nước, con người. Khí vị thơ Xuân Bảo là khí vị thơ của những nhà Nho xưa khi “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo / thảnh thơi thơ túi rượu bầu”, tuy cũng có bài lấy cảm hứng thế sự (Ngày Thơ Việt Nam, văn Miếu Trấn Biên, Làng Bưởi Tân Triều, Đàn Đá Bình Đa…)

Có điều, hiện thực hôm nay đã rất khác với những gì XB ghi nhận trong thơ. Cũng vậy, cảm thụ thơ hôm nay không còn là cảm thụ theo Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa của những năm 1945-1975. Lúc ấy, nhà thơ và người đọc thơ luôn bay lên trong cảm xúc lãng mãn, theo kiểu “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”(Lê Anh Xuân). Năm 1961, miền Bắc mới chỉ vừa ra khỏi chiến tranh, nhưng Tố Hữu đã đứng trên đỉnh cao muôn trượng nhìn nhân loại dưới chân :”Chào sáu mốt đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng/ Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc trông nam trông cả địa cầu”. Ngày ấy dân ta đi lượm ve chai để xây dựng chủ nghĩa xã hội :”Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá/ Mội hòn than mẩu sắt cân ngô/ Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ”! (Đã hơn 50 năm xây dựng chủ nghĩa Xã Hội, đến bây giờ, 2012, mới chỉ là định hướng xã hội chủ nghĩa). Nguyễn Khải đã viết truyện ngắn Cái Thời Lãng Mạn, và Nguyễn Minh Châu đã đọc Ai Điếu cho cái thời này. Những năm đổi mới (1986-1995), Văn chương Việt Nam đã phản tỉnh với Thời Xa Vắng, Mảnh Đất lắm Người Nhiều Ma, Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú, Thiên Sứ, truyện của Nguyễn Huy Thiệp…

Nói thế để thấy thơ tụng ca lãng mạn không còn là thơ của ngày hôm nay. Thế nhưng Xuân Bảo vẫn tụng ca:

Dòng sông ngăn bước nước dâng tràn
Thủy điện sôi trào thác Trị An
Động Ó tưng bừng vùng sinh thái
Đồng Trường rộn rã chốn tham quan
“Mã Đà sơn cước anh hùng tụ”
Vĩnh Cửu thâm lâm giặc Mỹ tan
Oanh liệt một thời lừng lẫy thế
Chiến khu đẹp mãi nước non ngàn
(Đây Trị An)
Rằng, nhà thơ đã ca ngợi Trị An rất đẹp, rất anh hùng, nhưng đó là của ngày xưa “oanh liệt một thời”. Còn hôm nay, báo chí đã đăng nhiều bài về những tiêu cực của các quan chức xẻ thịt lòng hồ Trị An. Ngay cả công trình thủy điện Trị An cũng không đạt yêu cầu như mục đích xây dựng. Dân Đồng Nai có đủ điện để dùng đâu!.

Hiện thực hôm nay có bao nhiêu điều nóng bỏng, nhưng thơ Xuân Bảo lại đứng ngoài cuộc. Biển Đông đã dậy sóng, lũ lụt hàng năm gây bao thiệt hại cho dân, tội ác giết người diễn ra hàng ngày, nhiều vụ tham nhũng thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng, sự suy thoái đạo đức trong một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên là nguy cơ về sự tồn vong của chế độ ( nghị quyết TW 4), nợ ngước ngoài của Việt Nam đã trở thành gánh nặng cho các thế hệ con cháu. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng quyết liệt, bao nhiêu công trình gây lãng phí. Xin đơn cử nhà máy lọc dầu Dung Quất, xây tốn 3,5 tỷ USD, giờ cần 1,5 tỷ USD nữa để nâng cấp, thời gian xây dựng mất 20 năm. Chưa có một quốc gia nào làm ăn như vậy! Trớ trêu thay, một nước có dầu mỏ mà người dân hàng ngày cứ phải sử dụng dầu ngoại nhập với giá xăng tăng liên tục. Các tập đoàn, các nhóm lợi ích đang ra sức lũng loạn nền kinh tế, …

XB có bài thơ nào thể hiện thái độ của mình trước hiện thực ấy không? Khi nhà thơ đứng ngoài nhân gian thì thơ ca trở thành vô bổ. Người đời đọc thơ Đỗ Phủ, thơ Hồ Chí Minh bởi thơ ca là tiếng nói lương tri và trách nhiệm của nhà thơ trước thời đại.

Đọc bài thơ sau đây, bạn đọc sẽ phải hoài nghi về thái độ tụng ca của Xuân Bảo

Thời gian vun vút bóng câu qua
Thân phận con người thật xót xa
Quảng Trị xa rồi thời trai trẻ
Sài gòn gần lại lúc về già
Thánh răn tích đức vun điều thiện
Phật dạy tu nhân tránh ác tà
Diệu pháp hồng ân vơi nỗi nhớ
Mái chùa ríu rít tiếng chim ca
(Xa Quê Nỗi Nhớ)
Vâng, đó là thái độ nhận thức rằng “đời là bể khổ”, và nương náu mái chùa, tu nhân, tích đức mới là niềm vui. Vậy phải chăng” Oanh liệt một thời lừng lẫy thế” (Đây Trị An) cũng chỉ là trầm luân trong bể khổ của một thời lầm lạc, chưa ngộ được chân lý Thiền?

“Thơ Đường luật VN không thể chết, không hề chết…”

Thơ Đường luật là thể thơ nghiêm nhặt về niêm luật, giới hạn về câu chữ, lại đã có những thành tựu lớn trong lịch sử văn chương Việt Nam, thế nên những người làm thơ Đường luật đi sau khó vượt qua được con đường sáng tạo của nhà thơ lớp trước. Hầu như người làm thơ Đường luật hôm nay chỉ rập khuôn cách viết của người đi trước, đa phần là tụng ca sáo ngữ, không có khám phá mới nào về thi pháp. Vì thế thơ Đường luật trở nên khô khan, khuôn sáo và giả tạo. Nó tự đánh mất độc giả.

Xuân Bảo không vượt qua được hạn chế này của người làm thơ Đường luật đương đại.

HÀ NỘI-NỖI NHỚ
Nhớ lắm Hồ Gươm nhớ thiết tha
Nhớ mây Hà Nội, sóng Hồng Hà
Nhớ làng Võng Thị lung linh nguyệt
Nhớ trại Ngọc Hà rự rỡ hoa
Nhớ sáng Ba Đình cờ lộng gió
Nhớ chiều Bách Thảo nhạc hoan ca
Nhớ người yêu cũ ngày xưa ấy
Nhớ mối tình đầu dạ xót xa

Bài thơ rất chuẩn mực về niêm luật. Đọc bài thơ trên, người đọc biết được Xuân Bảo viết về Hà nội nhờ từng câu thơ có nhắc đến địa danh Hà Nội: Hồ Gươm, Ngọc Hà, Ba Đình, Bách Thảo. Tuy vậy Xuân Bảo không khám phá được gì là riêng của Hà Nội, mà tất cả hầu như rất chung chung. Mây Hà nội, sóng Hồng Hà có gì khác với mây ở Huế hay sóng sông Đồng Nai? Không cứ gì cờ ở Ba Đình lộng gió, mà khắp đất nước đầy gió này, cờ ở đâu mà không phất phới? Điều kỳ lạ là cảnh Hà Nội đẹp vậy mà tác giả nhớ người yêu cũ dạ xót xa. Người đọc không hề thấy đâu là Thăng Long - Hà Nội một ngàn năm lịch sử, một ngàn năm văn hiến, đâu là cảnh sắc riêng của Hà Nội, đâu là những bài học ý nghĩa lịch sử mà con người Việt Nam hôm nay nhận ra từ Hà Nội. Thành ra thơ Xuân Bảo viết về Hà nội chỉ có cái vỏ chữ, không có nghĩa. Hồn thơ lạc ở phương nào.

Xin đọc một bài tứ tuyệt của Xuân Bảo

QUA XUÂN LỘC

Xuân Lộc quê ta đất đỏ au
Cao su xanh mướt, chuối tươi màu
Ai về xin gửi niềm thương nhớ
Thắm thiết tình chung mãi có nhau
( Qua Xuân Lộc –Xuân Bảo )

LỜI RU – Đăng Tâm
(Hoạ bài Qua Xuân Lộc cuả Xuân Bảo

Quê hương đọng mãi điệu à-âu
Kỷ niệm chưa phai, tóc bạc màu
Năm tháng mỏi mòn chân lữ khách
Lời ru gợi nhớ đất chôn nhau

Bài cuả Xuân Bảo không nói được bất cứ điều gì riêng về Xuân Lộc, ngoài các chi tiết ai cũng biết : Xuân Lộc đất đỏ, có cao su và chuối.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Xuân Lộc đã góp vào chiến thắng chung của dân tộc bằng cuộc chiến đấu 12 ngày đêm oanh liệt, mở cánh cưả thép phía bắc của chính quyền Mỹ -Thiệu, từ đó đại quân ta kéo về giải phóng Sài gòn làm nên thắng lợi lịch sử 1975. Xuân Lộc không chỉ có cao su và chuối. Vườn Xuân Lộc sum suê nhiều trái cây khác như Sầu riêng, Chôm chôm, Măng cụt, Mít, café..Xuân Lộc có những anh hùng như Lê A, Hồ Thị Hương, Xuân Lộc có những địa danh khá nổi tiếng như Suối Tre, K.4, Xuân Lộc còn có rất nhiều con suối như Suối Rết, Suối Đỉa, Suối Chồn, Suối Tre. Địa xanh hành chính Xuân Lộc đều bắt đầu bằng chữ Xuân như Xuân An, Xuân Bình, Xuân Trung, Xuân Mỹ, Xuân Phú, Xuân Hòa…Nhà thơ tỏ ra không hiểu cặn kẽ đất Xuân Lộc, vì thế cái tình chung, niềm thương nhớ, trở nên giả tạo và sáo rỗng.

Bài thơ họa của Đăng Tâm không còn bóng dáng gì cuả Xuân Lộc. Xuân Lộc đâu có riêng điệu ru À-âu. Xuân Lộc là nơi tụ về của dân khắp bốn phương trời, đâu có điệu ru riêng. Xuân Bảo không có kỷ niệm gì ở Xuân Lộc, nhưng Đăng Tâm lại lưu luyến kỷ niệm, bạn đọc không rõ là kỷ niệm gì, có thể là kỷ niệm của Đăng Tâm với Xuân Bảo trong một lần nào đó ghé qua Xuân Lộc chăng? Bài thơ có chữ mà không có nội dung, hay nói cách khác, viết chỉ để cho có vần có chữ sao cho họa được câu chữ của Xuân Bảo, có khi Đăng Tâm không hề biết gì về Xuân Lộc cũng nên. Vì bài thơ không có nội dung, nên lời ru gợi nhớ đất chôn nhau thành ra giả tạo. Cả hai bài xướng và hoạ về Xuân Lộc đều là sáo ngữ, chưa bao giờ thơ lại hời hợt và vô bổ đến thế!!!.

THƠ HỌA, HỌA THƠ

Những bài thơ xướng - họa như thế này trong tập Tôi Đi Nhặt Bụi Vàng là thơ của những người bạn, xưng tụng nhau theo kiểu thơ thù tạc.

Ở tuổi cổ lai hy, có bạn thơ xướng họạ thù tạc, đó là một thú chơi tao nhã. Thơ xướng họa đòi hỏi tài năng và khẩu khí, đòi hỏi công phu và nhiều bài cũng ánh lên nét đẹp tài hoa. Xuân Bảo có thơ được đông đảo thi hữu họa vần, đó là một tín hiệu về sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu giữa những tri kỷ. Bài Văn Miếu Trấn Biên là một thí dụ

Văn miếu Trấn Biên rạng sử xanh
Tôn sư trọng đạo mãi tôn vinh
“Rồng chầu xứ Huế” vùng nhân kiệt
“Ngựa tế Đồng Nai” cõi địa linh
Đức Khổng cương thường ngời thế thái
Bác Hồ tư tưởng sáng nhân tình
Hiền tài hun đúc từ nguyên khí
Bia tạc tên vàng thật xứng danh
(Văn Miếu Trấn Biên- Xuân Bảo)

Bài họa của Tiêu Thanh Giang có tình ý hơn cả

Đồng Nai sông núi đượm màu xanh
Có Trấn Biên xưa thật hiển vinh
Văn Miếu ghi ơn người sáng lập
Khuê Văn khắc đức thánh uy linh
Ngày nay con cháu rèn tâm ý
Qúa khứ cha ông rạng nghiã tình
Thành kính dâng hương lòng ngưỡi mộ
Mong sao đạo học mãi lưu danh
(Trấn Biên Xưa-Tiêu Thanh Giang)

Tiêu Thanh Giang chỉ họa vần và lấy đại ý để viết một bài thơ khác về Trấn Biên theo nghĩ suy riêng của mình, không gò bó câu chữ để đối với bài của Xuân Bảo.

Thực ra bài của Xuân Bảo có nhiều chỗ cầu kỳ thành ra rất gượng ép, Xuân Bảo muốn dẫn người họa thơ vào tử địa mà bó tay phục tài. Bài xướng thì nên vậy. Nhưng bài xướng của Xuân Bảo lại lộ ra nhiều tử huyệt của tác giả.

Câu thứ 2 lặp hai chữ “tôn”, đó là sự nghèo nàn về vốn từ và khả năng diễn đạt.
Phép đảo trong câu (5) và (6) làm hỏng ý tứ. Lẽ ra phải viết “đạo cương thường của đức Khổng”, Xuân Bảo đã gượng ép mà viết “Đức Khổng cương thường”. Cũng vậy, lẽ ra phải viết :”Tư tưởng của Bác Hồ”, Xuân Bảo lại viết :” Bác Hồ tư tưởng”. Cấu trúc này hoàn toàn sai với ngữ pháp tiếng Việt, làm hỏng sự trong sáng của tiếng Việt, điều mà bác Hồ luôn nhắc nhở người cầm bút.

Trong ngữ nghĩa đời thường, chữ “ thế thái nhân tình” có nghĩa tiêu cực, chỉ thói xấu của người đời (Xin đọc Thế Thái Nhân Tình của Nguyễn Bỉnh Khiêm), Xuân Bảo lại đem vào đánh giá đạo đức Khổng Tử và tư tưởng Hồ Chí Minh. Rằng đạo đức của Khổng Tử và tư tưởng HCM sáng ngời thế thái nhân tình. Tức là làm sáng cái đức xấu? Nhà Nho xưa luôn chú tâm làm sáng cái đức sáng (“tại minh minh đức”).Tôi cho rằng đó là chỗ người làm thơ kém tinh tế về ngữ nghĩa của ngôn từ, chứ không phải là cố ý hạ thấp giá trị đạo đức tư tưởng của các bậc thánh hiền.

Bài của Tiêu Thanh Giang tỏ ra hiểu sâu sắc hơn giá trị của Văn Miếu Trấn Biên, tuy có tụng ca song thành tâm hơn đối với người xưa. Bài này hơn hẳn bài của Xuân Bảo cả về tình ý và nghệ thuật thơ.

HY VỌNG MUỘN MÀNG

Chúng ta biết thơ Đường độc đáo ở tứ thơ tư tưởng. Vẻ đẹp thơ Đường là vẻ đẹp trí tuệ. Dù kể việc , tả tình hay bộc lộ nghĩ suy, thơ Đường có khả năng để lại những dấu ấn không phai trong thi ca nhân loại. Xin đọc các bài Tuyệt Cú của Giả Đảo ; Đề Đô Thành Nam Trang của Thôi Hộ; Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch… ; Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm cuả Nguyễn Khuyến…)

Thơ Đường luật của Xuân Bảo không có được tố chất này. Dường như người làm thơ không hiểu được đặc trưng thi pháp thơ Đường (?), không nghĩ đến việc cách tân thơ Đường luật, như những nhà thơ tiền bối (từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Khuyến ) đã nỗ lực Việt hóa thơ Đường. Có lẽ XB làm thơ là để vui tuổi già, để thù tạc? Nếu vậy còn mong gì có thơ để góp tiếng nói với thời đại và lịch sử.

Xin chia sẻ với Xuân Bảo ý này của cụ Thanh Trúc (ghép bài của Thanh Trúc với bài của Xuân Bảo)

Tám chục xuân rồi hả?
Vui thơ quên tuổi già…

…Thân phận thật xót xa
Xa rồi thời trai trẻ.

Tháng 3. 2012

_________________________________________________
Tham khảo

Nhân Tình Thế Thái – Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thế gian biến cải vũng nên đồi ;
Mặn, nhạt, chua cay, lẫn ngọt bùi.
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử ;
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.
Xưa nay đều trọng người chân-thực ;
Ai nấy nào ưa kẻ đãi-bôi[1].
Ở thế, mới hay người bạc ác :
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.

MÊNH MÔNG MỘT KHỐI TÌNH CHUNG

THƠ HỒNG PHƯƠNG,
MÊNH MÔNG MỘT KHỐI TÌNH CHUNG
(Đọc tập thơ Mênh Mông của Hồng Phương. Nxb Thanh Niên 2007& những bài thơ Hồng Phương tuyển chọn)

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Hồng Phương đặt tên cho tập thơ của mình là Mênh Mông hẳn đã gửi gắm trong đó một tấm lòng trước hiện thực mênh mông của đất nước trong suốt những năm tháng gian nan và bày tỏ những nghĩ suy tâm huyết về thời đại vẻ vang của dân tộc mình. “Máu xương hòa biển hòa sông/ ba mươi năm đánh giặc thấy mênh mông cuộc đời”(Cuộc Đời Mênh Mông). Phần thơ viết về Đất Nước, về quê hương, chiếm phần lớn số bài trong tập thơ (58/88 bài).

Đó là đất nước từ những ngày mùa thu tháng tám năm 1945 (Mùa Thu Tháng Tám), trải suốt 60 năm (Mừng Đất Nước Sáu Mươi Năm-Nhớ Lại), đất nước của những con người anh hùng, Gian Khổ Gì Bằng Lính Đặc Công, Máu Em Lai Láng Chị Sáng Vần Thơ, “Từ đấy, mẹ thờ thêm hai bát nhang/ Một bát thờ con chống Mỹ/ Một bát thờ chồng chống Pháp/ Mẹ không khóc/ Lưng mẹ còng theo thời gian”(Mẹ Cười Nghiêng), sự hy sinh lớn lao không thể kể hết được .”Khăn tang nào phủ hết mộ Trường Sơn”(Nhắc Nhở Nhau). Nhà thơ bày tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân sâu xa về Bác Hồ, về các chiến sĩ đặc công rừng Sác, về chiến khu D, về di tích Trung Ương Miền

Nhắc tên Bác lòng tự hào
Những lời Bác dạy con nào dám quên
Việt Nam – Bác là ông tiên
Giáng trần độ thế vạn niên ơn Người
(Bác là ông tiên)

Rừng Sác Cần Giuộc luồng, lạch, lau
Chặn đường Soài Riệp tuyến Lòng Tàu
Nơi đây tiếp sức Tàu Không Số
Xác giặc nay còn đắm biển sâu
(Gian Khổ Gì Bằng Lính Đặc Công)

Bùi ngùi kỷ niệm chiến khu D
Sốt núi, mưa nguồn, rắn, vắt, ve
Củ chụp, măng rừng tay súng chắc
Mồ chôn xác giặc-Một lời thề
(Bùi Ngùi Kỷ Niệm)

Thơ tình yêu của Hồng Phương cũng là thơ tình của lứa đôi chiến đấu. Họ hò hẹn rồi xa nhau, mong chờ và hy vọng.

…Vui lên nghe em con sông Hồng
Bên sông Vàm Cỏ
Mang nỗi niềm hai đầu thương nhớ…
Anh cứ mân mê chiếc áo mùa đông em đan gửi ra mặt trận
Ấm lòng người lính gác biên cương
Hậu phương tiền tuyến mặn nồng…
(Lời Ngọt Ngào)
Đất trời bao la mịt mùng bom đạn
Thắng trận đi tìm em- bặt vô âm tín
…Bao đêm rồi thao thức
Hy vọng ngày được gặp lại nhau
Kỷ niệm chiến tranh nhiểu quá thương đau..
(Thời Trai Trẻ)
Tuy vậy hầu hết thơ tình trong tập thơ này được viết theo thi pháp thơ Lãng Mạn 1930-1945 với hình ảnh tượng trưng. Cho đến nay thi pháp này đã trở nên lỗi thời, nhiều bài thơ tình của Hồng Phương trở nên cũ kỹ và sáo rỗng

Tình đầu rễ bám chắc hồn nhau
Nhụy đã trao hương vướng mạch sầu
Muốn chặt đứt cành chôn lấp lá
Dễ gì- càng lấp hố càng sâu
(Dễ Gì)

Ai hỏi tôi giờ ở đâu?
Tôi đang ở chốn không nhau
Chong đèn nhớ về một thuở
Những nẻo đường xưa lối cũ
Mênh mang thương nhớ một thời…
(Ai Hỏi Tôi)

Mong tắm mưa ngâu chẳng thấy về
Tình chàng ý thiếp cứ lê thê
Cầu Ô chưa bước đã gãy nhịp
Gửi lại sông Ngân một câu thề
Mưa ngâu không đến, đến mưa dầm
Tiếng pháo mừng xuân đành lặng câm
Vừa bước lên cầu ai rút ván
Bão lòng lại xoáy trong mưa đêm
(Chờ Mưa Ngâu)
Bạn trẻ hôm nay mà đọc những bài thơ tình như Chờ Mưa Ngâu, họ sẽ tự hỏi không biết nhà thơ định nói gì. Ý tứ vừa ước lệ, vừa quê mùa lộn xộn. Đang nói mưa ngâu tháng Bảy, lại liên tưởng đến tiếng pháo mừng Xuân. Cầu Ô chưa bước đã gãy thì ai “bước lên cầu”, “ai rút ván” ? Thành ngữ “qua cầu rút ván” trong dân gian có nghĩa không tốt, sao có thể dùng diễn tã tình Ngưu Lang - Chức Nữ? Câu thơ “mưa ngâu không đến, đến mưa dầm” không rõ chủ thể, rằng, em không đến vào lúc mưa ngâu mà lại đến lúc mưa dầm, hay nhà thơ mong chờ mưa ngâu, nhưng mưa ngâu không đến (mưa tình yêu) mà mưa dầm lại đến (mưa mùa, mưa cách trở). Những lời, những ý về “tình chàng ý thiếp”, mưa ngâu, sông Ngân, cầu Ô thước đã được khai thác cạn kiệt trong thơ cổ điển từ lâu lắm rồi.

Trong Chinh Phụ Ngâm (1741):

Khác gì ả Chức, chị Hằng
Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng
(câu 239-240)

Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông
(câu 331-332)

Đây là đoạn thư Đạm Thủy gửi cho Tố Tâm (tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách-1922): "Anh ơi, đêm hôm nay là đêm gì mà mưa gió âm thầm, góc trời đen nghịt, có phải mồng ba tháng bảy, là ngày ả Chức chàng Ngâu một năm mới thấy mặt nhau một lần không, anh nhỉ? Thảo nào mà chiều hôm nay em tiếp được thư anh, nhưng thư không phải là người, chỉ là ảnh và bút tích của người mà thôi, còn chàng Ngâu và ả Chức là người cả, chả biết rằng Ngưu Lang Chức Nữ những khi xa cách nhớ thương bên sông sùi sụt có oán hận những người đem sông Ngân mà chắn qua con đường ái ân không nhỉ?

Khi sử dụng lại một chất liệu nào đó, điều quan trọng là nhà thơ phải có những khám phá mới. Đó là quy luật của sự sáng tạo. Hồng Phương không có được năng lực này.

Rất nhiều bài thơ của Hồng Phương thiếu chất thơ. Dường như nó được viết theo quán tính, không được kết tinh từ ý thức sáng tạo nào. Tác giả nghĩ gì viết nấy, không câu chấp ngôn ngữ, không chú ý đến nhạc thơ. Năng lực kể chuyện trong thơ tự sự mờ nhạt. Nhân vật trữ tình không có tâm trạng. Ở thể loại thơ nào, Hồng Phương cũng không khai thác được đặc trưng thi pháp thể loại, dù là Lục Bát hay thơ Đường, thơ 7, 8 chữ như kiều thơ Lãng Mạn. Nhiều bài sáo rỗng, vô cảm, và cũ kỹ. Vì thế thơ Hồng Phương khó mà đọng lại trong lòng người đọc.

Xin đọc thơ Đường luật với những chất liệu quá cũ như xuân lan thu cúc, tùng bách, chị hằng, con nai ngơ ngác… gần như là một sự hỗn độn nháo nhào mọi thứ mà tác giả cóp nhặt được mà người đọc tinh ý có thể nhận ra nguồn.

Khéo vẽ bốn mùa núi biếc xa
Xuân lan thu cúc hạ liên hòa
Hạc hồng sải cánh vờn mây trắng
Tùng bách vươn cành ngắm suối ca
Chỉ cuốn luồn bay thêu lá cỏ
Kim tỳ năm ngón dệt cành hoa
Chị hằng lấp ló, nai ngơ ngác
Tia sáng gập ghềnh nỗi nhớ xa
(Tranh Thêu)

Thơ Lục Bát sai vần, ý tứ diễn tả phi logic làm người đọc ngơ ngẩn.

Cánh nhạn vượt mấy dòng sông
Giăng đường tơ nối tấm lòng đôi ta
Rơi rơi lệ thấm thư nhòa
Đầu lòng công chúa tên là Hiền Lương
Hoàng tử con tên Trung Thành
Gọi thế cho đẹp tấm lòng mẹ cha…
(Cháu Đích Tôn Thăm”Nhà” Ông)

Thơ 7 chữ sau đây, câu chữ chưa được chọn lọc, bỏ hẳn luật gieo vần , và dù người đọc có nghĩ đến những hình ảnh siêu thực cũng không hiểu nổi

Dưới ruộng đồng chiêm đất hoác miệng
Trên nương khoai héo bắp khô màu
Kênh nương nứt nẻ queo đường ruột
Chờ trộ mưa rào đỡ khát khao
Bất chợt cơn mưa đường biển vào
Nắng vàng đang trải cuốn mau mau
Hoa cười nụ héo liền ôm nhụy
Sóng lúa rập rờn mơn mởn rau
(Chờ Mưa)
Thật kỳ lạ. ruộng đồng chiêm đất hoác miệng, tức là đất khô hạn, nứt nẻ hoác ra, không một loài cây nào có thể mọc. Vậy mà chỉ một cơn mưa bất chợt đến là “Sóng lúa rập rờn mơn mởn rau”. Thật là một phép lạ! Chỉ một cơn mưa đến là cánh đồng nứt nẻ toang hoác ấy đã xanh tốt lúa dạt dào, gió thổi trên đồng lúa tạo nên những con sóng điệp trùng . Và lạ hơn nữa, trên cánh đồng “sóng lúa rập rờn” ấy, bỗng dưng rau ở đâu lại lọt vào cuối câu! Có lẽ tác giả cần viết them chú thích cho những điều lạ lùng như thế này thì may ra người đọc mới có thể tiếp cận bài thơ.

Có một hiện tượng hơi lạ trong thơ Hồng Phương là, nếu viết ở dạng bài thơ có nhạc có vần, thơ Hồng Phương không đứng được, nhưng khi bài thơ ấy chuyển sang thơ văn xuôi, người đọc lại thấy có hơi thơ. Bài Mẹ Cười Nghiêng sau đây in trong tập Mênh Mông ở dạng bài thơ, khi in lại trong tập thơ tuyển (bản photo), Hồng Phương viết dạng thơ văn xuôi

CƯỜI NGHIÊNG
Một đoạn đường cong con đi mẹ tiễn, tần ngần trên bến sông quê, chuyền tay con đôi dép lốp, nói gì con không nghe kịp, ngoái nhìn, mẹ quay mặt. Đò tròng trành, lòng con lòng mẹ cũng tròng trành. Mái chèo khua lỗi nhịp vỗ tan tác từng mảnh sao mờ.
Đêm đêm theo bóng một con đò, mẹ chờ giằng giặc.
Một cú sét! Hy sinh mặt trận phía Nam. Từ đây mẹ thờ thêm một bát nhang. Một bát thờ con chống Mỹ, một bát thờ chồng chống Pháp
Mẹ không khóc lưng mẹ còng theo thời gian
Mẹ cười nghiêng giữ lại thật lâu trong tâm tưởng hình bóng hai đảng viên Cộng Sản ngày ngày nghi nút khói nhang.
Mẹ luôn cười nghiêng!

Nói vậy để thấy Hồng Phương cũng đã trăn trở đối với thơ của mình. Bạn đọc có thể chia sẻ sự cố gắng của Hồng Phương trong bài Vào Viếng Lăng Bác, bản in đầu trong tập Mênh Mông (2007) và bản in sau trong tuyển tập (2012), mặc dù sự cố gắng ấy đã không đem đến hiệu quả nghệ thuật như người đọc mong đợi

KÍNH DÂNG BÁC MỘT TRỜI HOA
Vào lăng viếng Bác giữa mùa hoa
Đón Bác năm nào ngỡ sáng qua
Lặng lẽ bao người lau nước mắt
Ước gì dừng bước ngắm mặt cha
Ngàn thu ngon giấc mãi chẳng xa
Niềm vui Nam Bắc trọn một nhà
Cả nước thi đua học đức Bác
Lập công dâng Người một trời hoa 2007)
VÀO VIẾNG LĂNG BÁC
Vào lăng viếng Bác giữa mùa hoa
Đón Bác năm nào ngỡ sáng qua
Chầm chậm nghiêng đầu lau nước mắt
Kiễng chân ngoái mặt ngắm cha già
Chúng con ước nguyện noi gương sáng
Cả nước thi đua học đức cha
Mãi mãi ơn sâu tình nghĩa nặng
Đời đời tạc tượng ngắm Sơn Hà.
(2012)


Tôi thực sự ngạc nhiên về hồn thơ trong veo và tình yêu không mệt mỏi của Hồng Phương đối với thơ. Nếu được trau chuốt hơn, và được soi rọi bằng ánh sáng của một ý thức sáng tạo riêng, thơ của chị có thể sẽ đạt được những giá trị mà chị mong đợi.
Tháng 3. 2012
____________________________________

GIỮA XA XĂM ĐỢI CHỜ

GIỮA XA XĂM ĐỢI CHỜ
(Đọc tập thơ Tự Tình của Hoàng Đình Nguyễn.Nxb Hội Nhà Văn 2011)
Bùi Công Thuấn



1.Một hồn thơ giàu nặng nghĩa tình

Đọc tâm tình của những người “bạn vàng” viết cho Hoàng Đình Nguyễn (HĐN), tôi hiểu anh là người đã trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ suốt từ Nam chí Bắc. Anh đã sống trong tình thương yêu của gia đình, đồng đội. Tình quê hương, tình gia đình, nghĩa tình cách mạng ở anh sâu nặng. Trong bài thơ Kỷ Niệm Một Dòng Sông, anh đã ghi lại cái ơn cứu sinh của một bà mẹ nhân dân

“Tôi ngoi lên từ dòng sông ấy
Mưa giăng giăng phủ kín đất trời
Sau trận tập kích phá đồn tôi lạc xa đồng đội
Giữa đêm mưa mịt mùng và bởi nhửng vết thương
Tôi như cánh chim lạc hướng giữa đường…

Tôi tỉnh lại với bao điều khác lạ
Căn nhà nhỏ tối om, bóng hình một bà má.
Leo lét ngọn đèn dầu, không soi rõ mặt nhau.
Vết thương trên người được băng bó đã lâu.

Tôi lại được sống
Giựa tình thương của má
Những bà má giống mẹ tôi nhọc nhằn vất vả
Nhưng tình thương yêu vô bến vô bờ
(Kỷ Niệm Một Dòng Sông – 2007)

Vì thế những bài thơ anh viết về Cha (Trước Mộ Ba), về mẹ (Nhớ Mẹ, Má Ơi), về quê hương (Mùa Thu Ngày Ấy Bây Giờ) để lại được dấu ấn trong lòng người đọc về một hồn thơ có chiều sâu của tình tự dân tộc và cách mạng.

…Mùa thu ấy quê mình rực rỡ cờ sao
Những người lính nông dân chân chất hôm nào
Đã nắm chặt tay thề một long với Đảng
Đi suốt cuộc trường chinh
Kháng chiến trường kỳ…
(Mùa Thu Ngày Ấy Bây Giờ-2009)

2. Tình thơ yêu mãi ngàn sau

Nhưng mảng thơ đậm nhất trong Tự Tình là mảng thơ tình.

Đó là mối tình đầu đã xa, một mối tình đơn phương (?) chưa có nhiểu kỷ niệm ngoài một lần hẹn hò (Buổi Hẹn Đầu), một mối tình không thành, nhưng vẫn đời chờ, vẫn trăn trở tra hỏi, vẫn ước mơ vô vọng. Một cuộc tình làm người thơ ngẩn ngơ trước con đò, bến sông và thao thức khôn nguôi trong tâm thức. Thời gian và không gian càng xa thì cuộc tình ấy lại càng trói chặt trái tim mà vết thương tâm, không sao may vá được. Vì thế người thơ như người mộng du trong cõi thực, cứ đi tìm một bóng hình hư ảo, tuy hư ảo nhưng lại cụ thể trong từng bước chân, từng hơi thở. Rồi chợt giật nhận ra mình cô độc suốt cõi nhân sinh mải mê đi kiếm tìm cái bóng của chính mình

Nhớ em
con nước xốn xang
đò xưa bến cũ mang mang nỗi buồn
(Mong Manh Chờ Đợi)

Ngàn năm cho đến mai sau
Vẫn còn nhớ mối tình đầu mong manh…
(Tự Tình)

Buổi chiều đứng giữa chơi vơi
Lặng thầm cúi nhặt bóng tôi bên người
Đã qua cuối đất cùng trời
Trở về chết lặng
lở bổi sông quê
(Chuyện Xưa)

Em chợt đến
Rồi chợt đi
Chút hư vô
Còn để lại

Có một ngày
Trong xa ngái
Kẻ mộng du
Lặng lẽ tìm…
(Mộng Du)

..Em là gió là giông
Em là mưa là bão
Em là gì trong tôi
Thật hay là hư ảo
(Em Là)

Bạn đọc nào đã trải nghiệm một cuộc tình như vậy có thể chia sẻ với HĐN những thảng thốt trong tận đáy sâu tâm thức của mình về một cuộc tình như lửa cháy mỗi khi bắt gặp một hình ảnh nào đó của quá khứ. Một chút nắng phai, một thoáng gió hiu hiu, một tiếng ầu ơ cuối chiều cũng nặng trĩu nhớ thương.

Nắng thôi trải bạc đồng rồi
Ai ngồi hát khúc ầu ơ cuối chiều
Đường làng gió thổi hiu hiu
Ai ngồi ai nhớ
Ai yêu. Ai chờ…
(Cuối Chiều)

HĐN có nhiều tứ thơ hay ở mảng thơ này trên cái nền dòng sông, cánh đồng, bến đò xưa với nỗi nhớ, sự chờ mong, trăn trở mệt nhoài trong cõi sống và cõi vô biên

Về quê ngang bến sông xưa
Lặng nghe ngọn gió
Trong mưa bồi hồi
Sông quê
Bên lở bên bồi
Cắm sào cúi nhặt bóng tôi thuở nào
(Sông Quê)
Trăng già rụng xuống sông quê
Con đom đóm sáng vụng về lẻ loi
(Em Về)
Nhớ em
Con nước xốn xang
Đò xưa bến cũ mang mang nỗi buồn
Ngồi nhìn vệt nắng mà thương
Liu xiu gió thoảng
Mùi hương bay về
(Mong Manh Chờ Đợi)

3.Thơ Hoàng Đình Nguyễn không mới

Những tứ thơ mới, đẹp và giàu sức sáng tạo trong thơ HĐN không có nhiều. HĐN nói rằng ”Thơ của tôi là tiếng nói của lòng tôi… Thơ còn mãi / những tình yêu/ những nỗi nhớ/ Những vui buồn”. Vâng , có lẽ anh làm thơ là để đáp ứng tiếng lòng sâu thẳm thao thức của mình, vì thế anh ít chú ý tìm kiếm những tứ thơ mới, cũng không chú ý đến cách tân nghệ thuật, tìm kiếm những cách thể hiện mới. Anh làm thơ như tự nhiên trong lòng bật ra những nghĩ suy là vậy.

Thơ anh chủ yếu là thơ suy nghĩ. Cái hay của thơ suy tưởng (thí dụ thơ Chế Lan Viên) là ở sự khám phá hình ảnh và tư tưởng, ở sự đào sâu hiện thực và đào sâu suy tư về hiện thực ấy dựa trên những tư tưởng lớn, tư tưởng tiến bộ. Thơ HĐN là thơ suy nghĩ nhưng lại không có tư tưởng, thành ra những gì anh tỏ lộ trở nên nhẹ tênh, và kiểu tư duy nghệ thuật của anh cũng cũ như vậy.

Đã quá nhiều người viết về tình yêu, Tự Tình là tập thơ tình yêu, nhưng HĐN không có khám phá gì mới tâm trạng yêu. Những trải nghiệm tình yêu trong thơ anh rất nghèo nàn (quanh quẩn chỉ là nhớ, mong, cô đơn). Hình tượng, tứ thơ để thể hiện tình yêu trong thơ anh cũng chỉ là dòng sông quê, con đò, cánh đồng chiều, cánh cò lẻ loi.

Tìm em
ở giữa cánh đồng
lao xao cò trắng
Bên dòng sông quê
(Tìm em)
Tuy khổ thơ có hình ảnh, nhưng đó cũng chỉ là những khái niệm, không phải là hình ảnh biểu cảm của thơ. Một cánh đồng chung chung, không rõ là đồng miền Bắc hay đồng miền Nam. Cò trắng và dòng sông quê cũng siêu hình như cánh đồng vậy, không có gì là cụ thể, là nơi hò hẹn, gắn bó kỷ niệm của nhà thơ. Những hình ảnh như thế không đủ sức gây ấn tượng cho người đọc, bởi cánh đồng, con cò, dòng sông đã là chất liệu được khai thác cạn kiệt rồi. Những nhà thơ khác có một con sông nghệ thuật cụ thể. Sông của Nguyễn Đình Thi là sông đỏ: “những dòng sông đỏ nặng phù sa”. Tế Hanh có dòng sông xanh:”Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ nước gương trong soi tóc những hàng tre”. Hoàn Cầm có dòng sông nghiêng: ”Sông Đuống trôi đi/một dòng lấp lánh/ nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”…

HĐN cũng dùng lại tất cả những ý tứ, ngôn từ người khác đã dùng, đến nỗi con chữ trở nên trơ trơ, câu thơ có vỏ chữ mà không có nghĩa, không tải được hồn, không có chút lửa nào đủ sức đốt cháy cảm xúc người đọc. Những chữ sau đây đã quá mòn sáo : nỗi nhớ, đợi chờ, trở về, nắng gió, dông bão, bến bờ, , lá vàng, lá rụng, bến sông trưa, bến sông trăng (chữ của Hàn Mặc Tử), bến sông xưa, buồn tênh, trống vắng, mộng mơ, bơ vơ, xa xăm đợi chờ, tháng năm đợi chờ, nắng gió xôn xao (tên bài hát : Ngõ Vắng Xôn Xao). Chỉ riêng bài Tôi Tìm Tôi HĐN lặp lại 3 lần chữ “mênh mông”. Đọc thơ HĐN, người đọc không thể hình dung ra khuôn mặt thơ HĐN, bởi thơ anh quá cũ. Anh có kỹ thuật thơ điêu luyện nhưng lại hạn chế trong năng lực sáng tạo, và không có những tìm tòi mới về nghệ thuật thể hiện.

Bài thơ sau đây chỉ là suy nghĩ đơn thuần viết dưới dạng văn vần, không phải thơ.

Đôi lúc ngồi buồn tênh
Ngẫm sự đời mà chán
Tự bảo mình cố quên
Để cho lòng thanh thản

Đôi khi trong hoạn nạn
Mới hiều nhau ngọn ngành
Ai chung tình, ai bạn
Giữa rừng người vây quanh

Khi tuổi già vừa đến
Thấy yêu hơn cuộc đời
Làm thơ và tán chuyện
Trải lòg vào xa xôi…

Ngày nào đó bạn ơi
Nếu thấy lòng trống vắng
Hãy tâm tình cùng tôi…
Xin đừng ngồi im lặng
(Cùng Tôi)
Tôi nói không phải thơ bởi vì bài thơ Cùng Tôi chỉ là suy nghĩ, diễn đạt bằng ngôn ngữ ý niệm, không có một tứ thơ nào. Câu thơ là câu văn xuôi, câu thơ báo chí chuyển tải một nghĩa tường minh, nghĩa thông tin, thiếu hẳn nghĩa biểu cảm, nghĩa hình tượng, nghĩa phong cách. Đặc trưng của ngôn ngữ văn chương là tính đa nghĩa, tính biểu cảm, tính hình tượng và tính phong cách. Khá nhiều bài trong tập Tự Tình có ngôn ngữ ở dạng này, ngôn ngữ ý niệm, ngôn ngữ thông tin, không phải ngôn ngữ nghệ thuật (Lữ Khách, Tuổi Trẻ Tôi, Thơ Tôi, Người Hát Thơ Đồ Chiểu Nơi Bến Phà, Trở Lại Với Dòng Sông, Tôi Tìm Tôi, Bỏ Lại Tuổi Thơ, Tôi và Anh, Điều Chưa Nói hết Tượng Đài…) , và vì thế những gì anh tỏ lộ rất ít chất thơ. Người đọc khó mà cảm nhận và nâng niu thơ anh được, mặc dù có thể chia sẻ với anh vài suy nghĩ nào đó. Đó là điều rất tiếc đối với một hồn thơ sâu nặng dào dạt nghĩa tình như anh.
Xin lưu ý bạn đọc về ý thức sáng tạo của HĐN trong bài Thơ Tôi :” Thơ là nhân chứng của thời gian/ Là nhật ký, là chứng từ/ Là hóa đơn cuộc sống/Là yêu thương/ Và lòng căm giận…” HĐN không bận tâm đến nghệ thuật thơ là vậy.

Tháng 3. 2012
___________________________

SAO ANH LẠI "TRỐN" , HỠI NHÀ THƠ!

SAO ANH LẠI TRỐN, HỠI NHÀ THƠ!
(Đọc tập thơ TRỐN của Đào Trọng Thử, Nxb Hội Nhà Văn.2011)
Bùi Công Thuấn

Tập thơ đọng lại trong tôi nỗi buồn và nhiều trăn trở. Nỗi buồn thế sự của nhà thơ về thế hệ mình, thời đại mình và về chính mình. Thơ Đào Trọng Thử (ĐTT) là thơ châm biếm – trữ tình, chất trữ tình là chính. Bởi dường như anh nhận ra rằng, sự phê phán châm biếm của anh đã bị thời đại vượt qua, và tiếng thơ của anh như tan vào cõi không. Trữ tình và châm biếm hòa quyện vào nhau, và đó là phẩm chất nghệ thuật riêng của thơ anh.

Đào Trọng Thử quan tâm đến điều gì của thực tại?

Anh châm biếm cái sai, cái nghịch lý, cái bất nhân bất nghĩa, cái trái đạo đức của nhân dân, để khẳng định cái tình cái nghĩa, đặc biệt đối với những người đã chiến đấu và hy sinh. Anh không chịu đựng được những sự việc, những con người, những hoàn cảnh của đời sống kinh tế thị trường trái với lối sống tình nghĩa, nghèo mà thanh cao của thời chiến đấu hy sinh. Trong tập thơ này, trái tim người lính trong anh vẫn dành cho đồng đội. Niềm vui, nỗi đau của anh xuất phát từ sự hy sinh của những người bạn, tương phản với đời sống xã hội thực tại.

Bốn trăm chiến binh dự Mậu Thân đẫm máu
Các anh hy sinh khi tập kích Biên Hòa
Giặc chôn các anh chung nấm mồ to quá
Hài cốt mỗi người không thể nhận ra

Đành chia thôi : Ôi đống xương khô lạnh
Đầu , mình, tay, chân kiếm đủ, chia đều
Chia lần lượt, trời ơi sao vẫn thiếu
Tất cả lặng câm không nghe ai kêu?!

Cha chia cho con nào nhà nào đất
Mafia chia nhau món lợi nhuận kếch xù
Quân tham nhũng chia nhau những đồng tiền bẩn…
(Chia)
Chiến tranh kết thúc lâu rồi
“Nhắn tìm đồng đội” của tôi chưa dừng
Nhắn người :- người dửng dừng dưng
Nhắn đất :-đất lặng không ngừng… chia lô…!
( Nhắn Tìm Đồng Đội)

Đoạn thơ sau đây mang đặc trưng trữ tình - châm biếm của thi pháp ĐTT. Anh châm biếm rất khôn ngoan, mỉa mai rất sâu cay sự giả dối trong cách người ta tổ chức mừng chiến thắng, nhưng không thể bắt bẻ câu chữ của anh được, bởi anh nhìn thấu cái bất nhân bất nghĩa của con người hôm nay với người đã hy sinh, và bởi cái tình của anh với đồng đội sâu nặng quá.

Đồng đội cũ gặp nhau
Xanh xao
Nói cười như mếu
Lang thang lên tàu vào Nam-ra Bắc
Lên tàu ra Bắc xuôi Nam
Tự hào
Đưa tay ngang mũ để chào
Mắt ầng ậc nước
“Nước mắt dành cho ngày gặp mặt”
Nước mắt trong những ngày lận đận
TỔ QUỐC ĐÃ TOÀN THẮNGT!
Chúng mình còn gian lao!
Nếu không có ngày 30 tháng Tư
Ta cũng không vợ, không con, không nhà
Không ruộng,
Ngồi trầm tư trên bàn thờ khói hương đứt quãng
Xương đen nằm ngoài nghĩa trang
Làm ma trẻ ngắm tượng đài sừng sững
TỔ QUỐC GHI CÔNG…

…Mừng Việt Nam ta thắng Mỹ
Nhà nhà cụng ly
Người người cụng ly
Chiến sỹ cụng ly
Quân tham nhũng cụng ly
Cùng nhau giết chó ăn mừng…

Đất nước đang thời mở cửa
Gió bốn phương, tám hướng ùa vào
Mát đấy rồi đau âm ỷ đấy
ĐAU SUỐT ĐẾN ĐỜI CON-ĐỜI CHÁU
CHÚNG MÌNH…!
(Lắng Tiếng Vỗ Tay- Nhân dịp kỳ niệm 35 năm Việt Nam thắng Mỹ- 30.04.2010)

Trái tim anh còn đau nỗi đau của dân tộc trong thời đại nhiễu nhương, thời đại cả dân tộc sợ ngáo ộp (Có Một Con Ngáo Ộp), thời đại oan sai không biết tìm Bao Công ở đâu (Bao Công ), thời đại mà chênh lệch giàu nghèo không sao hiều nổi (Dột), thời đại mà nhân dân xài tiền xu còn bọn nghĩ ra tiền xu lại xài tiền tỷ, chúng ném vào mặt nhân dân những đồng xu đen như ném cho lũ ăn mày (Tiền Xu), thời đại mà người thua kiện luôn là dân đen (Sạch), bởi đó là thời đại người ta đã quên bài hát “ vì nhân dân quên mình “(Bài hát Ấy Quên Rồi)

Tôi lớn lên ngáo ộp có lâu rồi
Nó hiện nguyên hình từ thời cải cách
Trong mỗi mái nhà tranh
Trên mỗi bức tường bức vách…
Làng xóm lặng câm như bãi tha ma…

…Trong tăm tối:
Người với người nhìn nhau ngờ vực
Con cảnh giác cha
Vợ ngờ vực chồng
Cháu đấu tố ông
Con đòi giết bố
Ngáo ộp âm thầm
Rình người khốn khổ
Nỗi kinh hoàng bạc nhược suốt trăm năm…

…Có một con ngáo ộp
Ngự trị trong anh
Ngự trị trong em
Ngự trị trong lòng dân tộc
Khổ đau cho tổ quốc này
Buồn thay!
(Có Một Con Ngáo Ộp)
Bài thơ dùng ngôn ngữ ẩn dụ chỉ những người đương thời với tác giả mới hiểu, hoặc nếu biết lần theo câu thơ Tố Hữu thì có thể nhận ra (1). Những thế hệ hôm nay sẽ chẳng hiểu được ngáo ộp “mình đồng da sắt/ Trăm mắt, trăm tay “ thật sự là gì, và bởi họ không hiểu nên không còn sợ ngáo ộp nữa. Thí dụ, vụ cưỡng chế đất tại Tiên Lãng mà Đoàn Văn Vươn dám chống lại Ngáo Ộp. Rất tiếc tập thơ này in trước sự kiện nấy, nếu không tôi tin Đào Trọng Thử đã có thơ, nhưng mà nhà thơ đã “TRỐN” thực tại hôm nay rồi, bạn đọc sẽ chẳng được đọc những bài thơ không sợ ngáo ộp của Đào Trọng Thử. “Buồn thay!”Ấy là tôi chỉ giả định vậy thôi, nhà thơ hôm nay đã không còn là anh lính chiến năm xưa nữa, mà “ giờ đây thanh thản đợi giờ để bay”(Lên Lão)

Và đây là nỗi đau đã bật thành tiếng cười bất lực, bởi thời đại hôm nay đã đánh mất lý tưởng:

Thời anh là lính chiến
Đêm ngày “Hành quân xa”
“Bác vẫn cùng chúng cháu”
Ngày nào anh cũng ca

“Vì nhân dân phục vụ”
“Vì nhân dân hy sinh”
Vì nhân dân quên mình”
Cà toàn quân cùng hát

Đất nước giờ đổi khác
Thêm nhiều bài hát hay
“Vì nhân dân “ quên khuấy
Cúi đầu chào- bó tay…!
(Bài hát Ấy Quên Rồi)

Đào Trọng Thử trốn đi đâu?

Đào Trọng Thử lấy tên tập thơ là “TRỐN”, bạn đọc sẽ tự hỏi tại sao nhà thơ lại trốn, trốn đi đâu, thái độ của anh là thế nào trong cuộc chạy trốn?

Vào rừng để nhớ chiến tranh
Một thời khốc liệt toàn anh lính quèn
Phố phường sống gấp không quen
Quên nhanh thớ lợ, nghèo hèn nhớ lâu

Rừng ơi đồng chí ở đâu?
Cây rưng rưng lặng. Ve sầu điên điên…!
Vào rừng ngỡ gặp bạn hiền
Bạn hiền nhiều đứa xuôi miền hư vô

Vào rừng chạy trốn hoan hô
Hoan hô xô lệch cơ đồ nước Nam
Trốn phố phường cái túi tham
Cùng rừng ta tiếp tục làm con dân..!
(Trốn)
Như vậy là đã rõ. Anh trốn cuộc sống gấp ở phố phường, trốn sự giả dối, trốn sự gian tham. Anh lên rừng sống với đồng đội lính quèn chân thật, sống với những đồng chí, những người đã xuôi miền hư vô. Thực ra đó chỉ là cách nói ẩn dụ. Nhà thơ không thích hợp với đời sống kinh tế thị trường, bởi vì người “Làm kinh tế có trăm phương ngàn kế”(Âm Thịnh), lũ người sống xung quanh chẳng khác gì lũ đười ươi, thực ra đười ươi khác người bởi chúng không ngậm tăm như người (Ngậm Tăm). Anh không sống được với bọn quan tham kiếm tiền như làm xiếc (Xiếc), trong khi người nghèo hiền lành chân thật như Thạch Sanh vẫn bị lừa (Thạch Sanh). Dẫu vậy, anh không dấu được những cơn giận điên người trước thủ đoạn và tội ác mà tập đoàn Vê-Đan gây ra cho quê hương Đồng Nai (Bột Đắng)

Ai trực tiếp giết sông
Là gián tiếp giết người
Sông chết bây giờ
Người sẽ chết mai kia !

Lửa đã cháy! Chuột đã lòi mặt chuột
Tập đoàn Vê-Đan ăn năn hối cải
Đã muộn rồi !
Bột ngọt các ngươi trở nên đắng chat
TẬP ĐOÀN VÊ-ĐAN LÀ TẬP ĐOÀN TỒI”

Câu thơ ngắn lại với giọng quyết liệt, câu thơ bùng lên như lửa cháy. Những tưởng lửa căm giận, lửa của lòng yêu nước thương dân sẽ thiêu sạch bọn chuột Vê-Đan. Vậy mà anh chỉ kết luận bằng một câu chẳng có một tí trọng lượng nào. Câu thơ đa số là tiếng bằng, nhạc điệu buồn, chậm lại và buông xuôi như người lính gục xuống. “TẬP ĐOÀN VÊ-ĐAN LÀ TẬP ĐOÀN TỒI”
. Phải chăng bút lực của anh đã sức cùng lực kiệt? hay kẻ thù quá lớn đến nỗi, dù súng đạn anh có thừa, anh cũng chẳm làm nên trò trống gì? Thơ anh chỉ còn là những lời hô hào suông, không lay động được những tâm hồn đồng điệu khác, không gợi được cái hào khí hùng ca của thơ ca thuở trước! Hay tại đề tại anh chọn báo chí đã khai thác cạn kiệt, mà tài thơ của anh không thể gây sóng? tất nhiên chẳng ai đòi nhà thơ phải xông lên chiến đấu như người lính năm xưa, nhưng ít ra tư tưởng, tình cảm và ngọn lửa yêu nước trong lòng anh phải rực sáng, trong thời đại mà anh bảo là “Chặng đường phía trước còn tăm tối/ Đời còn lâu nữa mới bình minh “(Tự)

Hồn thơ ĐTT chỉ thực sự bình yên khi trở về với đồng quê xanh mát tình người

Phở bò, lẩu Thái cho qua
Mẹ ghiền bánh đúc – thứ quà nhà quê
Bánh đúc bát, bánh đúc sề
Lạc rang ít hạt bùi tê tái…bùi…

Mẹ ăn bánh : Con bùi ngùi
Bao bà Mẹ - Giống mẹ tôi hở giời?!
Nồng nàn tấm bánh đúc vôi
Quốc hồn dân Việt dâng đời thảo thơm…!
(Ca bánh Đúc- Kính tặng các bà mẹ Việt Nam)

Cha tích cực trồng cau
Để kiếm mo làm quạt
Trời dộp phồng khô khát
Thương mẹ già mỏi tay …!
(Mo Cau)
…Ước gì trở lại ngày xưa
Đời yên tình thắm trâu đùa cùng ta
Cỏ non xanh lại đồng nhà
Trâu xơi thỏa chí, khỏi qua đồng người”
(Trâu Về)
Ở những bài thơ trên (Ca Bánh Đúc, Sen, Hoa Lau, Rau tàu bay, Lá Trung Quân,Thày Ơi, Nước Mắt Chảy Xuôi, Mo Cau, Trâu Về..), thơ ĐTT hiền lành hơn, chất trữ tình đậm đặc hơn. Hồn thơ sâu nặng nghĩa tình. Tính châm biếm chỉ còn là nỗi xót xa rất nhẹ nhàng. Nói điều này để thấy những bài thơ châm biếm của anh xuất phát từ những nỗi bức xúc thế sự không dằn lòng được, còn căn cốt hồn thơ anh là tiếng nói trữ tình.

Thở phào : Thoát khỏi hương dương
Chuyển sang hưởng thọ : đọan trường còn xa…?!
Bao nhiêu lần suýt làm ma
Rồi con, rồi cháu đầy nhà như ai
Ngẫm mình có tí tẹo tài
Hành nghề chữ nghĩa với vài tập thơ
Xuống ruộng chán, lại lên bờ
Giờ đây thanh thản đợi giờ để “bay”
Của riêng “còn một chút này”
Ai khen : Cảm tạ- ai rầy : Cám ơn…!
(Lên lão-2009)

Nằm trong dòng thơ trữ tình của ĐTT là những bài anh viết cho các công ty (Tình Trong Ly Cà Phê, Những tiếng Đập Sữa, Gửi Người Mặc Áo Nàng Bân, Những Cái Râu Mực). Những bài này chất trữ tình lấn át hẳn chất quảng cáo, khiến cho người đọc chợt ngỡ ngàng về tài thơ của anh. Bởi khi viết thơ châm, người thơ chú trọng đến đối tượng châm biếm và các kỹ thuật viết thơ châm, khiến cho chất nghệ thuật của ngôn ngữ văn chương bị giảm đi (thí dụ các bài : Không Đề, Gặp Lại Cây Sung, Bình Quân, Mèo, Đầy Tớ Còn Đang Họp…)

Thơ châm của Đào Trọng Thử có gì đặc sắc?

Nghệ thuật châm biếm trào phúng của ĐTT là nghệ thuật của thơ trào phúng truyền thống. Anh hay dùng thủ pháp tương phản để bật ra cái mâu thuẫn gây cười, tiếng cười đánh thẳng vào kẻ xấu, cái xấu. Anh cũng có những bài sử dụng nghệ thuật ẩn dụ để khái quát về một vấn đề (Mối, Gặp Lại Cây Sung, Không Đề, Rác, Thạch Sùng, Xuân Tóc Đỏ, Thạch Sanh, Lý Thông, Chí Phèo, Thi hào Nguyễn Du, Có Một Con Ngáo Ộp) Lập trường của anh là lập trường nhân dân, chính nghĩa của anh là chính nghĩa dân tộc, tình cảm yêu thương chiến đấu của anh là tình cảm thiên về đạo lý của nhân dân. Trong thơ anh, rất hiếm khi gặp được Cái Tôi

Tiền Xu

Kẻ nghĩ ra tiền xu
Lại đang xài tiền tỷ
Hắn ung dung
Búng
Những
Đồng
Xu
Han gỉ
Lăn
Lăn
Lăn
Về phía lũ ăn mày

Bài Cấp Độ được viết như một tiểu phẩm hài.

Đỉnh tầng năm khách sạn 5 sao
Nhìn xuống cánh đồng ven đô
Cán bộ tỉnh trầm trồ :
- Ôi! Lúa mùa chin vàng mơ, đẹp quá!
Cán bộ huyện tán dương hể hả
- Một cánh đồng màu mỡ
Dân trồng toàn lúa nếp
Hứa hẹn vụ mùa bội thu

Cán bộ xã gãi đầu, gãi tai :
- Hổng dám đâu, đất quy hoạch sân gôn
Nông dân đã nhận tiền rồi
Màu vàng cỏ tranh thôi
Kính thưa các sếp…!

Nhưng tuyệt kỹ châm biếm của ĐTT phải kể đến bài Lắng Tiếng Vỗ Tay, Bài Học Vỗ Tay, Thưởng. Anh nói rất thật, nhưng lại là châm biếm, và châm biếm sâu cay. Cái đau không phải là ở đối tượng bị châm biếm mà lại nỗi đau không kìm nén được trong lòng anh. Anh phê phán thói giả hình, thói vong ân bội nghĩa của cuộc đời và xót xa cho những người đã chiến đấu và hy sinh. Anh chỉ ra trong cái ồn ào, xô bồ, phô trương hình thức, đâu là bản chất của sự giả dối vong ân. Nội dung trở nên trào phúng khi ngôn ngữ của anh đang bình thường bỗng chuyển sang cường điệu hoặc tương phản

…Ba mươi lăm năm ăn mừng toàn thắng
Người sống ngồi cùng người chết
Cùng lắng nghe biển người
Vỗ tay rào rào hoan hỷ
Bắt tay đồng chí- đồng bào
Tiếng vỗ tay đều đặn, tự hào
Tiếng vỗ tay vang vang như biển động sóng trào
Tiếng vỗ tay như sấm rền tít tận trời cao…
Mừng Việt Nam ta thắng Mỹ
Nhà nhà cụng ly
Người người cụng ly
Chiến sỹ cụng ly
Quân tham nhũng cụng ly
Cùng nhau giết chó ăn mừng
Tự hào ngày 30 tháng Tư góp mặt chúng mình
Tự hào có chúng mình mới có ngày 30 tháng Tư
Đồng đội của tôi ơi hãy im lặng lắng nghe cả nước vỗ tay
Vỗ đến tấy đỏ cả hai bàn tay vẫn còn mãi vỗ…
(Lắng Tiếng Vỗ Tay)

12 câu thơ đầu mang ý nghĩa bình thường, vì vui nên có hơi lãng mạn một chút, nhưng khi bật ra câu 13 “Quân tham nhũng cụng ly” và câu 18:” Vỗ đến tấy đỏ cả hai bàn tay vẫn còn mãi vỗ…” thì toàn bộ nội dung trước đó trở nên trào phúng, châm biếm. Bởi tất cả những gì đang diễn ra, niềm vui, niềm tự hào, tình đồng chí đồng bào, ý nghĩa sự thắng lợi, ý nghĩa của lòng tri ân chỉ là giả dối, là hình thức, là ngụy trang. Làm gì có chuyện cả nước vỗ tay đều đặn? làm gì có cảnh Nhà nhà cụng ly/ Người người cụng ly/ Chiến sỹ cụng ly/ Quân tham nhũng cụng ly/ Cùng nhau giết chó ăn mừng. Làm gì có cảnh cả nước vỗ tay/Vỗ đến tấy đỏ cả hai bàn tay vẫn còn mãi vỗ. Chính sự cường điệu, sự diễu nhại (2) này tạo ra ý nghĩa châm biếm, làm đảo ngược ý nghĩa nội dung tưởng như thật được ĐTT miêu tả. Trong đoạn thơ trên cũng cần thấy tài năng dựng cảnh, tài năng ,”chộp” những hình ảnh sắc nét, bất chợt, tài năng đặt bên nhau những cái tương phản để tạo ra một không gian nghệ thuật vừa cụ thể, vừa có sức khái quát, vừa rất thật, nhưng vừa là sự lật nhào tất cả làm lộ ra những gì là giả dối, sự giả dối lớn lao, sờ sờ ra đó trong thời đại hôm nay (cả nước-vẫn còn mãi). Cái đau là ở những người như “chúng mình”. Tự hào có chúng mình mới có ngày 30 tháng Tư/ Đồng đội của tôi ơi hãy im lặng lắng nghe cả nước vỗ tay.

Có thể bạn đọc sẽ không đồng tình với ĐTT về cách nhìn và cách phản ánh, phân tích hơi quá đáng của anh về hiện thực. Cả tập thơ chỉ phản ánh hiện thưc đau lòng của số phận nhân dân, của người lính sau chiến tranh, hiện thực giả dối, hiện thực bất công của thời kinh tế thị trường, anh ước mơ trở về “ngày xưa”, thời chiến tranh, tuy gian khổ nhưng nghĩa tình chân thực, đằm thắm. Tuy không nói thẳng ra, nhưng anh đòi hỏi phải có một xã hội công bằng, “Cơm no, áo ấm nhà nhà”, đòi hỏi những người đã chiến đấu hy sinh phải được bù đắp xứng đáng. Anh ca ngợi cuộc sống thanh bần. Cái nhìn của anh bi quan trước hiện thực, có đôi khi anh thỏa hiệp với hiện thực (Mừng Thọ Bác Bùi Tứ Hải, Thiên Đường,…).

Thực ra chiến tranh đã qua lâu rồi (37 năm), chẳng còn ai mong trở về cái thời đau thương ấy nữa. Bây giờ là thời khép lại quá khứ hướng đến tương lai, thời của “nước giàu, dân mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”sẽ chẳng ai ngồi ôm đống xương người chết mà khóc (dù công việc đền ơn đáp nghĩa, tìm hài cốt liệt sĩ vẫn đang tiến hành), chẳng còn ai thích ăn rau tàu bay, dùng quạt mo cau nữa (Rau Tàu Bay, Mo Cau). ĐTT cố níu kéo cái thời quá vãng ấy, liệu anh có đủ sức không?

Cũng cần thấy điều này về mặt nghệ thuật, ĐTT có những phát hiện rất tinh tế, rất thơ cũng rất tư tưởng ở những sự vật sự việc của đời thường, qua đó anh đặt vấn đề làm “nhức đầu” người đọc (Hoa Lau, Rau Tàu Bay, Âm Thịnh, Tiền Xu, Mối, Nhắn Tìm Đồng Đội, Cấp Độ). Đọc những bài thơ này, người đọc vừa thấm thía, vừa thú vị. Thấm thía ở vấn đề anh đặt ra, thú vị ở nghệ thuật thể hiện. Xin đọc Tiền Xu và Cấp Độ là hai bài tiêu biểu. Tuy vậy không phải bài nào anh cũng thành công. Bình Quân và Ngậm Tăm là hai bài rất ít sáng tạo nghệ thuật. Bài Ngậm Tăm (07.2010) của ĐTT chắc chắn là sự diễn đạt lại dưới dạng thơ ý tưởng chủ đề của truyện ngắn Thói Ngậm Tăm (12.2007) của Khôi Vũ. Còn Bình Quân là câu chuyện giả định được kể nhiều trong dân gian để mỉa mai cách tính GDP theo bình quân đầu người. ĐTT chỉ ghi lại câu chuyện mà không có sáng tạo gì mới hơn. Bài Mèo thực sự chưa đem đến cho người đọc cảm xúc thẩm mỹ cần thiết để cảm nhận đó là một bài thơ, ngoài sự chia sẻ một nhận định bi quan của tác giả “Người đời ai chẳng một lần/ Mèo…!”

Có một con gà luộc
Bình quân cho hai người
Kẻ giầu thản nhiên chén
Người nghèo nhăn răng cười…
(Bình Quân)
Nếu Đào Trọng thử phát huy được mặt mạnh của mình cả trong thơ trữ tình và thơ châm biếm, anh sẽ có nhiều thành công hơn, bởi anh có được cái nền tình nghĩa sâu nặng với nhân dân, sử dụng được kỹ thuật thể hiện của nhân dân, và anh hòa mình vào trong nhân dân để cảm nhận, lên tiếng về những vấn đề của đời sống đương đại, mà tầm nhìn của anh vừa có chiều lịch sử, vừa có chiều hiện đại (Có Một Con Ngáo Ộp- Bột Đắng; Sen-Cấp Độ…). Trong tập thơ TRỐN anh không có bài thơ cách tân theo khuynh hướng của thơ Việt đương đại, tuy vậy tập thơ định hình được khuôn mặt thơ Đào Trọng Thử với hai nét sắc xảo là trữ tình và châm biếm. Đào Trọng Thử vẫn trung thành với con đường đi riêng trong cá tính sáng tạo, và ít nhiều anh đã có được thành công.

Dù sao ý niệm “trốn” trong thơ ĐTT cũng gợi ra thái độ an bần lạc đạo của nhà Nho xưa, tuy ĐTT chưa bao giờ là nhà Nho, mà tính cách của anh là tính cách con nhà lính.

Cháu nội cháu ngoại đầy nhà
Gặp nhau thì vẫn cứ là mày tao
Ngỡ như vừa mới hôm nào
Tha La, Vườn Mít, đội tao đội mày
Trộm rau bắt gặp thì “vay”
Mổ thương binh giỏi, đứ tay la làng
Lính quèn rất khoái xài sangh
Đèn Nghéo, đài Nhật nghênh ngang rừng già…
Chiến trường ôn lại mắt cay
Rưng rưng nhớ bạn bấy chầy “tiêu dên”
Miền Đông ác liệt nỡ quên?
Mất toi tuổi trẻ bắt đền ai đây?!
Ăn mừng cuối tháng Tư này
Sang năm gặp lại chúng mày Hăm ba…
(Ngẫu hứng K23)
_____________________________________
(1) Bài : Ba Mươi Năm Đời Ta Có Đảng-Tố Hữu:
Ðảng ta đó, trăm tay nghìn mắt
Ðảng ta đây, xương sắt da đồng.
(2) ĐTT diễu nhại bài thơ chúc Tết năm 1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Kháng chiến lại thêm một năm mới,
Thi đua ái quốc thêm tiến tới.
Động viên lực lượng và tinh thần.
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.
Người người thi đua
Ngành ngành thi đua
Ngày ngày thi đua
Ta nhất định thắng
Địch nhất định thua.

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

THƯ LUẬN HỌC - Phan Nam Sinh

Thư luận học: Gửi anh Bùi Công Thuấn


Tôi đã nhận được những sách anh gửi tặng kể cả lúc nó còn đang ở dạng bản thảo. Xin chân thành cám ơn anh đã nhớ đến tôi! Tất cả, tôi đều đọc rất say sưa, nghiêm túc, có tác phẩm đọc tới hai ba lần, chủ yếu với tinh thần học hỏi. Đáng tiếc là do ít ngoại ngữ, nhất là từ khi về hưu đến nay, vì có một vài việc riêng cần phải hoàn thành gấp nên tôi cũng không có nhiều thời gian để tiếp xúc với nhiều loại sách vở, nhất là với các tác phẩm văn chương và phê bình văn học xuất bản trong thời gian gần đây.
Cộng với thói quen đọc theo “cách đọc truyền thống”, chưa được chuẩn bị để sẵn sàng tiếp cận với “cách đọc mới” nên đọc những gì anh viết, có những cái tôi hiểu được nhưng cũng còn khá nhiều cái, thật tình mà nói là tôi…mù tịt. Vì thế đã có vài ba lần tôi đặt bút định viết một cái gì đó về các tác phẩm của anh nhưng rồi phải bỏ nửa chừng bởi thấy không chắc mình đã hiểu đúng ý tác giả. Tuy vậy, bằng những gì mà tôi thật sự hiểu được, tôi cảm thấy rất đáng nể phục.

Tôi quí anh trước hết ở tinh thần tự học, tự bồi bổ kiến thức cho mình không ngừng nghỉ, để bây giờ theo nhận xét rất thành thực của tôi, anh đã sở hữu được một kho tri thức văn chương “bách khoa” mà trong số rất ít bạn bè tôi quen biết trước nay, không phải ai cũng có thể sánh được.

Tôi cũng quí anh ở thái độ “độc lập” trong nghiên cứu, nghĩa là không dễ gì bị lệ thuộc vào những đấng “cây cao bóng cả” từng che lấp không nhiều thì ít bóng dáng cũng như cá tính của nhà phê bình mà độc giả dù không muốn vẫn thường xuyên bắt gặp ở một vài cây bút thiếu bản lĩnh. Tóm lại là, tôi tin những gì anh viết ra là của riêng anh, là những cái anh từng nghiền ngẫm, không dễ gì có được nếu không trải qua một thời gian dài ấp ủ với nhiều lao tâm khổ tứ. Tôi tôn trọng sự trung thực và óc sáng tạo trong đời sống cũng như trong văn chương và vì thế mà đánh giá rất cao những trang viết của anh. Càng đọc anh, tôi càng có cảm giác là anh đã độc lập được với mọi ám thị mà mình có thể bị lây nhiễm và nhờ thế mà được đền đáp; ý tôi muốn nói là anh đã góp được chút gì đó vào tiếng nói chung như anh từng mong muốn.

Tôi còn quí anh ở thái độ chừng mực khi phê bình, nhưng những lúc cần “quyết liệt” thì cũng dám quyết liệt. Tôi không có ác cảm gì với bà Thụy Khuê nhưng cái cách anh vạch ra ác ý của tác giả này trong khi phê bình tiểu thuyết “Ngồi” của Nguyễn Bình Phương thì người đọc nào, miễn là còn giữ được chút ít lòng tự tôn dân tộc cũng đều lấy làm…hả dạ! Bởi không cần phải tinh ý lắm, người đọc cũng có thể dễ dàng nhận ra mục đích ngoài văn chương nhưng lại sặc mùi chính trị của Nguyễn Thụy Khuê khi bà ta đánh đồng Việt Nam hôm nay với Giao Chỉ của ngàn năm trước để rồi tùy tiện bôi bẩn bức tranh xã hội ta vào nửa đầu thập kỷ thứ 21, lúc Nguyễn Bình Phương viết tiểu thuyết “Ngồi” là dậm chân tại chỗ trong sa đọa nhiều chiều. Dẫu sao thì bà Thụy Khuê cũng là người của “phía bên kia” nên thái độ quyết liệt của anh cũng là điều dễ hiểu. Cũng với một thái độ gần như thế, khi viết về “người đằng mình”, anh cũng thật rạch ròi, dứt khoát bởi không hề ngại va chạm, một phẩm chất không thể thiếu đối với một nhà phê bình trung thực, trung thực với đối tượng phê bình và trung thực ngay với chính bản thân mình. Nhận xét này có lẽ đúng nhất với trường hợp anh phê bình tiểu thuyết “Nháp”của Nguyễn Đình Tú. Từ ý đồ ban đầu của tác giả là muốn thể hiện thứ tư tưởng mỗi con người là bản nháp của người khác hay bản nháp của số phận, qua phân tích hệ thống các hình tượng và cấu trúc tác phẩm cũng như mục đích, thái độ miêu tả của tác giả, anh nhận thấy các nhân vật trong tiểu thuyết “Nháp” không thể hiện tư tưởng nháp, nếu có thì đó chỉ là nháp làm tình và đi tới kết luận: Cuối cùng tư tưởng nháp hiện nguyên hình chỉ là sự phô trương, cổ vũ cho những trải nghiệm sex bệnh hoạn, vô luân hay Nháp trần trụi là một truyện hình sự được tác giả nêm nếm đậm đà cho hợp với khẩu vị của dân chơi. Chưa dừng lạị, anh còn chỉ ra cho độc giả biết đâu là nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên. Theo anh, đó là do Nguyễn Đình Tú không có thứ tư tưởng của J.P.Sartre hay A.Camus, lại thêm tay nghề yếu nên không thể xây dựng kiểu nhân vật như tiểu thuyết tư tưởng của các nhà văn này. Đó rõ ràng là những kết luận không dễ làm vừa lòng tác giả và những nhà phê bình từng ca ngợi “Nháp” nhưng lại nhận được sự đồng tình từ phía người đọc bởi ai cũng nhận thấy đây không phải là những kết luận võ đoán mà có căn cứ rất vững vàng. Sức thuyết phục từ các trang viết có lẽ cũng là một thành công rất đáng được kể đến trong các tác phẩm phê bình của anh.

Một điều nữa khiến tôi ngạc nhiên và cũng rất vui mừng là từ bấy lâu nay anh vẫn giữ mãi được ngọn lửa nhiệt tình với văn chương, biểu hiện ở một sức viết thật sung mãn. Tôi cũng là người thi thoảng có viết chút đỉnh theo kiểu không hoàn toàn chuyên nghiệp nên càng khâm phục sự nỗ lực của anh. Bởi tôi hiểu, với một thầy giáo về hưu, trên vai là gánh nặng tuổi tác và nhiều thứ áp lực khác nữa, không dễ gì vài ba năm một lần, cho ra đời một tác phẩm phê bình dày dặn, hơn nữa lại được viết một cách rất nghiêm cẩn như anh đã làm được.Với niềm đam mê cháy bỏng và sức làm việc đáng nể mà tôi thấy được ở anh, tôi tin là anh sẽ còn tiến xa hơn và đóng góp được nhiều nữa cho nền phê bình văn chương của nước nhà.

Nói như thế không có nghĩa là đọc anh, tôi hoàn toàn bị chinh phục mà không có chút nào băn khoăn, lấn cấn. Thật ra là cũng có một vài chỗ mà hình như suy nghĩ và cách lý giải một vấn đề nào đó giữa anh và tôi còn có độ “vênh” nhau. Tôi nói là giữa anh và tôi “có độ vênh nhau” chứ không nói là tôi đúng, anh sai hay ngược lại. Ở độ tuổi hơn bảy mươi như tôi bây giờ mà nói ra điều này chắc là đủ để anh tin tôi không phải là kẻ háo thắng.Tôi chỉ muốn nói là có độ vênh nhau ấy, có lẽ là do thế mạnh ở anh chưa được kiểm soát một cách hữu hiệu, hoặc giả là tại tôi loay hoay mà không tìm được lối vào cổng chính của thơ một số nhà thơ đương đại và cũng chưa bắt kịp với “cách đọc mới” như anh từng nói. Điều này thường xảy ra khi tôi đọc loạt bài viết của anh về thơ thiền hay khi nghe anh bàn thảo về thế nào là thơ lục bát hay. Nhưng nói ra điều này bây giờ thì nhiêu khê lắm. Hẹn một khi khác anh em mình có dịp hàn huyên Thuấn nhé!

11-11 2011

Phan Nam Sinh

__________________________________________________________________________

Ghi chú : Phan Nam Sinh là con cụ Phan Khôi

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Hội thảo THƠ VIỆT HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ MIỀN TRUNG

Hội thảo THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ MIỀN TRUNG
NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN ĐÓ…
Bùi Công Thuấn


Trong 2 ngày 8 và 9-10, tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hội thảo: "Thơ Việt Nam hiện đại, nhìn từ miền Trung” với sự tham dự của gần 140 nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình hiện đang công tác, sinh sống tại miền Trung và trên mọi miền đất nước. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch hội Nhà Văn Việt Nam chủ trì hội thảo. Hội thảo này là sáng kiến của Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam. Trước khi diễn ra Hội thảo, ngày 24/8, Hội Nhà văn Việt Nam đã có phiên họp trù bị bàn về nội dung. Theo đó, tính hiện đại của thơ được tính từ Thơ mới đến nay, giới hạn địa lý là từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.(1)

1.MỘT “HỘI THẢO MỞ”
Nhà thơ Bằng Việt, chủ tịch Hội Đồng Thơ mở đầu “Đề dẫn” : “Trước tiên, đây là một cuộc hội thảo mở. Nó mở từ ngay chủ đề của nó…Tôi nghĩ, một cuộc hội thảo mở, dù biên độ mở có vẻ hơi trừu tượng và không thật chuẩn về ngữ nghĩa theo những quy luật khắt khe của ngữ pháp, có khi lại là hay, vì nó chứa nhiều khơi gợi, tạo ra nhiều tung hứng. Và nhất là đối với Thơ, thì cái cách mở như vậy càng dễ có thêm nhiều tưởng tượng, nhiều liên tưởng, nhiều so sánh và ẩn dụ. Vậy là yên tâm rồi !.”

Tôi thực sự ngỡ ngàng về lời đề dẫn đầy ngẫu hứng của nhà thơ Bằng Việt, bởi hội thảo là một hoạt đông khoa học về thơ Việt Nam hiện đại, đâu phải hội thảo là nơi nhà thơ tụ tập để làm thơ mà cần đến “khơi gợi, tung hứng, tưởng tượng, so sánh ẩn dụ”. Nhà thơ Bằng Việt biết rõ phạm vi “mở” của cuộc hội thảo này là trừu tượng và không chuẩn về ngữ nghĩa nhưng ông vẫn “yên tâm. Khi hội thảo không đề ra một mục tiêu cụ thể, khi ý thức về chính việc tổ chức hội thảo còn mơ hồ mà ban tổ chức lại yên tâm, thì kết quả hội thảo thế nào đã có thể thấy trước được.

Tôi nghĩ nhiều người sẽ đồng ý với Trần Quang Quý về mục tiêu của hội thảo như thế này. Ông viết:” Tôi nghĩ, chủ đề “Thơ hiện đại Việt Nam nhìn từ miền Trung” là một chủ đề lớn, ..đặc biệt là sự đổi mới thi ca đương đại từ sau 1975 đến nay, ..cần một sự đánh giá công phu, sâu sắc, khách quan… sau một chặng đường dài của thơ Việt, kể từ Thơ mới 1932 - 1945, nhằm thấy được bản diện của thơ Việt trong quá trình xây dựng, bồi đắp những đặc trưng nghệ thuật, khuynh hướng nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ, giá trị nhân bản mà thơ đã và đang vươn tới; thực trạng của thơ hôm nay, thơ với công chúng…”

Trong hai ngày hội thảo, đã không có một tham luận nào “đánh giá công phu, sâu sắc, khách quan… sau một chặng đường dài của thơ Việt, kể từ Thơ mới 1932 - 1945, nhằm thấy được bản diện của thơ Việt “như điều mà Trần Quang Quý và bạn đọc mong đợi. Lác đác là những bài điểm tên nhà thơ miền trung cùng với những lời ca ngợi đã quen thuộc, chẳng hạn như :” Xin dừng lại để hồi tưởng những vinh quang thơ Việt, đó là thời điểm cả nước cùng đọc thơ Trần Đăng Khoa, đọc thơ Phạm Tiến Duật, đọc Đất nước, đọc Đường tới thành phố…”; “Tôi yêu thơ chống Mỹ từ thời sinh viên đến mãi bây giờ, cảm nhận được cái tôi sử thi rồi cái tôi sử thi nhạt dần như hiện tại nhưng tôi vẫn không ngừng yêu nó “ ;“Tôi tin khoảng trời miền Trung sẽ lại xuất hiện những tài năng cột trụ cho thơ Việt như thế kỷ vừa qua”; “thơ miền Trung thực sự đã là thơ đổi mới. Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “ Nó đổi mới trước khi có chủ trương đổi mới của văn học” . Quả đúng vậy, Nguyễn Duy đã “đánh thưc tiềm lực” từ lâu…”

2. NHỮNG LẤN CẤN VỀ CHỮ NGHĨA

Theo cách nhìn của ban tổ chức thì khái niệm Thơ Việt hiện đại là tính từ 1930 đến nay. Thế nhưng Ngô Minh lại hiểu rất khác :” Hiện đại có liên quan gì đến bọn tư bản Phương Tây đang rẫy chết không ? Sao lại không “đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”, mà lại rửng mỡ bàn chuyện hiện đại ?(1) Có sự không rõ ràng trong ý niệm “hiện đại”. Có tham luận nói Thơ Việt hiện đại là để phân biệt với thơ Việt Cận Đại, Cổ đại. Nhiều ý kiến lại nói đến Thơ Việt hôm nay, nghĩa là Thơ Việt từ sau 1975 đến nay. Tôi nghĩ, Thơ Mới đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó. Thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng đã được nghiên cứu và khẳng định giá trị. Nhưng thơ Việt từ 1975 đến nay và nhất là 10 năm đầu của thế kỷ 21 thì chưa được nghiên cứu. Dường như chúng ta cố níu kéo hào quang của quá khứ mà quên sống ở thực tại?

Nguyễn Thanh Mừng nói đến đóng góp của miền Trung về sự hình thành và phát triển tiếng Việt từ Hồ Quý Ly, lê Thánh Tôn..đến A De Rhods …, Tiếp theo dòng văn Nôm rạng rỡ, văn học quốc ngữ ra đời. Sau đó là phong trào Thơ Mới, Tự lực văn đoàn . Ông còn dông dài lần giở những thư tịch cổ nói về miền Trung trong không gian văn hóa Đông Sơn, không gian văn hóa Sa Huỳnh, không gian văn hóa Chăm-pa …Ông còn ngược lịch sử về thời đại Hùng Vương cho đến các triều đại Triệu, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, xác lập” một nước Việt co giãn từ Bắc miền Trung trở ra. Nhưng cũng từ thời Lý trở đi, vai trò “lĩnh ấn tiên phong” đã được xác lập và không ai khác, miền Trung phải gánh lấy sứ mạng ấy”. Phải chăng “nói dông dài “(chữ của Nguyễn Thanh Mừng) như thế mới đúng với yêu cầu của một hội thảo mở về thơ?

Nói thơ Việt hiện đại tính từ Thơ Mới (1930 trở đi) nhưng hầu hết các ý kiến khi nêu vấn đề lại tụ vào thơ thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ (Văn Đắc, Vũ Quần Phương, Thạch Quỳ, nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan, TS lê Thị Bích Hồng, Vĩnh Nguyên, Thanh Thảo, …) Có rất ít bài viết về thơ hiện nay . Riêng bài của Inrasa về thơ trẻ đương đại viết khá cụ thể, bao quát và có giá trị về mặt theo dõi phong trào. Tại sao có độ lệch như vậy? Điều ấy dễ hiểu, vì hầu hết các nhà thơ đang dự hội thảo đều là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến và họ đã có những thành công ở giai đoạn ấy. Và họ muốn được sống mãi trong vinh quang của thời đại ấy. Nhà thơ Ngô Minh ngạc nhiên :” Điều làm tôi nhạc nhiên là Hội thảo về THƠ HIỆN ĐẠI mà trong hội trường toàn những người đầu bạc, răng long. Người trẻ nhất cũng phải tới bốn năm chục tuổi rồi. … ở đây tịnh không có nhà thơ tuổi đôi mươi nào cả, ai nói cái mới cho mà nghe.”
Nhiều ý kiến nói về yêu cầu đổi mới thơ, nhưng không một tham luận nào nói cụ thể về vấn đế này, cũng không có ý kiến nào cận cảnh về cách tân thơ từ Thơ Mới đến Xuân Thu Nhã Tập rồi Lê Đạt, Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền và vác nhà thơ trẻ đương đại. Thậm chí có những ý kiến tỏ ra không hiểu hoặc không muốn cách tân thơ.TS Đào Duy Hiệp đã nói đến ngộ nhận này :” Đổi mới thường bị nhầm với thế sự,…”. (Xin lưu ý, đổi mới khác với cách tân thơ). Ý kiến của nhà thơ Thạch Quỳ có thể là tiêu biểu cho một cách hiểu đã lỗi thời:” Thưa các bạn ! Cái mới trong văn học không bắt nguồn từ sự đổi mới câu chữ, vần vè duy hình thức. Cái mới ở trong con người mới, sức sống mới, tâm hồn mới , trí tuệ mới. Khi con người mang cái mới đầy ắp trong mình thì họ nói lên tiếng nói mới. Hình thức mới trong thơ không phải là thứ hình thức do đầu óc nghĩ ra, vẽ ra, mà do dung lượng cái mới dung nạp trong tâm hồn đã biến thành công năng, nhiệt năng đòi hỏi phải thoát ra ngoài bằng hình thức ấy, theo cách ấy”. Còn nhà thơ Đông Trình lại gạt thẳngvấn đề :” liệu có cần bàn đến hiện đại với hậu hiện đại nữa không? Vì sao thơ chống Pháp hay thế? Có lẽ là tài năng? Người ta để Tâm trên Tài, tôi thì tôi nghĩ ngược lại. Thơ hay, thơ phát triển là nhờ các tài năng. “ Ngô Minh đã mỉa mai sự lấn cấn như thế này :” Nghĩa là thơ ta đang hiện đại, thơ miền Trung đang hiện đại. Nó đã đổi mới, hiện đại từ thời Nguyễn Du tới giờ. Hiện đại trước khi cuộc hội thảo này được tổ chức. Hoan hô thơ miền Trung.”

Xin hỏi rằng thơ kháng chiến khác Thơ Mới ở điều gì? Có phải từ con người mới không ? Xin thưa sự khác biệt là ở ý thức thẩm mỹ mới, ở thi pháp, ở yêu cầu văn chương phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ chính trị , phục vụ công, nông binh, chứ không phải xuất phát ở trong con người mới.Hội thảo còn lấn cấn quá nhiều về nội hàm những vấn đề đem ra thảo luận thì sao có thể đi đến những kết luận sáng tỏ?

Lại lấn cấn về địa giới hành chính. Thơ miền trung giới hạn từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.Điều này quả thực không ổn, bởi vì, đâu có một nền thơ riêng trong lãnh giới này. Các nhà thơ có thể sinh ra ở miền trung, nhưng tác phẩm của họ vươn tới tầm đất nước, tầm dân tộc, tầm thời đại. Hơn nữa họ hoạt động ở nhiều nơi trên đất nước, đâu cứ gì miền trung. Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Bùi Giáng là những điển hình. Cho nên Hội thảo thơ miền trung, mới có tham luận nói về thơ Thanh Hóa, Tây Nguyên (Văn Đắc, Ts Hỏa Diệu Thúy, Hữu Kim,..). Vĩnh Nguyên thì điểm tên các nhà thơ Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế. Mai Văn Hoan thì nói về thơ Thạch Quỳ, Thanh Thảo thì nói về thơ Nguyễn Khoa Điềm…Cứ theo đà này thì phải kể tất cả các nhà thơ ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng…Sẽ chẳng có một hội thảo nào đủ sức làm như thế, và dẫu có làm như thế cũng chẳng ích gì cho sự phát triển của thơ ca.

3. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN ĐÓ…

Có ý kiến đánh giá về nhà thơ, nhà văn Việt Nam thế này:” trình độ văn hóa của văn nghệ sĩ Việt Nam ở mức lè tè thế này, một lần ngồi xem ti vi, nhìn cảnh các văn nghệ sĩ Việt mặc quần áo lôm côm, sắn áo dài tay, đi giầy thể thao… một anh bạn có nói, mọi người nhìn đi, những cầu thủ nước ngoài lên lĩnh giải thưởng, họ vận com lê đồng bộ đàng hoàng, vậy mà ở đây chúng ta toàn nghệ sĩ tên tuổi “nhớn” lại ăn mặc ba vạ, lôm côm, tùy tiện như vậy, thử hỏi văn hóa của văn nghệ sĩ chúng ta ở mức nào?(3) Sao lại có thể lấy việc mặc quần áo để đánh giá trình độ trí thức của văn nghệ sĩ Việt ?! Sao lại đi so sánh cầu thủ với nhà thơ là văn. Ý rằng vì trình độ nhà thơ nhà văn Việt Nam ở mức lè tè nên “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa”. Tác giả của ý kiến này còn đi đến nhận định, chung quy sự yếu kém của văn chương Việt là do tiếng Việt lỏng lẻo và phẩm chất “hời hợt, dễ dãi, tùy tiện và buông thả, nhiều khi thiếu trách nhiệm của trí thức Việt”. Ông đề xuất :“Muốn trở thành nhà thơ lớn cũng như nền thơ lớn hiển nhiên chúng ta phải nhảy vọt qua 2 đặc điểm khiếm khuyết của ngôn ngữ tiếng Việt như đã trình bày ở trên.”
Tôi nghĩ, những ngoa ngôn kiểu này chỉ để gây sự chú ý đối với người nghe. Nó hoàn toàn chủ quan, hàm hồ và “thiếu trách nhiệm” với hội thảo, ấy là chưa nói đến sự xúc phạm đối với nhà thơ nhà văn VN.

Nhà thơ Hữu Thỉnh đã nêu ra một vấn đề còn bỏ ngỏ khi tổng kết hội thảo :” Thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó”. Đó là tình trạng vè hóa thơ (Nguyễn Trọng Tạo), “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa”(Nguyễn Hoàng Đức), “Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tư tưởng, sự khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra.”(Vũ Quần Phương), “thơ đang mất chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường… Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, được viết với một trạng thái vô cảm… thơ Việt đang trong cơn bĩ cực trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan”(Lê Thành Nghị),” Sự kiện thơ ca mất giá như thế diễn tiến qua nhiều năm”(Nguyễn Chí Hoan). .

Những ý kiến trên hoàn toàn trái ngược với những bài tụng ca về thành tựu chót vót của thơ miền trung. Vấn đề là không một tham luận nào chỉ ra được làm thế nào để vực dậy thơ Việt đang trong cơn khủng hoảng, đang trong cơn bĩ cực, đang mất chỗ đứng trong lòng công chúng, “thơ đang ở thời kỳ hỗn mang “(Trần Quang Quý). Đây đó có chỉ ra vài nguyên nhân. Nguyễn Hoàng Đức thì cho rằng vì tiếng Việt lỏng lẻo, trình độ văn hóa của văn nghệ sĩ Việt Nam ở mức lè tè nên thơ Việt èo uột.Nguyễn Trọng Tạo thì cho rằng nguyên nhân là từ ” sự thiếu hiểu biết, sự ngộ nhận non nớt của nhà thơ trước ma trận của cái mới luôn mai phục ở phía trước”. Nguyễn Chí Hoan cho rằng ngôn ngữ thời đại là một cản trở:” Đặc trưng của bối cảnh mới là ngôn ngữ dưới các dạng thức từ chương trở thành một loại hàng hoá.Ngôn ngữ từ chương dần dà không tránh khỏi biểu thị tính thực dụng thực tế mới của thời buổi , của truyền thông đại chúng với ba phẩm chất căn bản thông tin-giải trí-quảng cáo, của văn hoá đại chúng với các khoái cảm ngôn từ thông tục, cảm tính, dễ dãi và lặp đi lặp lại.Thực tế là thơ ca thẩm thấu vào mình toàn bộ sức ép từ cái phông ngôn ngữ hỗn tạp đó, chưa kể sức ép từ các chuỗi sự kiện hình ảnh”

Về đổi mới thơ hiện nay, nhà phê bình Lê Thành Nghị cho rằng, “đổi mới thơ bằng cách nào là một ẩn số “, còn TS Đào Duy Hiệp trở lại cách nhìn duy tâm :” Vấn đề ở trời cho”. Nhà thơ Đông Trình cũng một ý như vậy :” Thơ hay, thơ phát triển là nhờ các tài năng”. Nhà thơ Phạm Đức thì xổ toẹt :” Nói A cách tân, B bảo thủ là cách nói lừa trẻ con; thơ mỗi bài là một đổi mới, bài sau khác bài trước… bất biết anh viết nó bằng cách nào, nó chỉ cần vào tôi là được.”Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thì nhấn mạnh :” Thơ ca phải lên tiếng, phải đến với vấn đề nhân cách cá nhân, phẩm cách của dân tộc và phải tự mình trở thành nhân cách.”

Trong những ý kiến trên, không khỏi có những chỗ chưa rạch ròi về “đổi mới” thơ và cách tân thơ. Nếu nói đổi mới là bài thơ sau khác bài thơ trước, thì đó không phải là cách tân. Đó là quy luật của sự sáng tạo. Sáng tạo là không lặp lại, là khám phá ra cái mới. Nhà thơ không sáng tạo thì đồng nghĩa với nhà thơ đã chết.Và sự vượt qua chính mình là điều khó nhất đối với hành trình sáng tạo của nhà thơ.

Nói cách tân một nền thơ, một thời đại thơ là nói sự thay đổi hoàn toàn về ý thức thẩm mỹ, về thi pháp và về mục đích sáng tác, vai trò xã hội của thi ca. Thơ Mới được viết bằng bút pháp của Chủ Nghĩa Lãng Mạn, lấy cái tôi cá nhân chủ nghĩa làm trung tâm, lấy sự thể hiện cảm xúc và suy nghĩ cá nhân làm nội dung, nhân vật trữ tình trong Thơ Mới là nhân vật tâm trạng, hình thức thơ thường là 7 chữ, 8 chữ. Thơ kháng chiến thay đổi hẳn về lý tưởng thẩm mỹ. Đó là nền thơ lấy công, nông ,binh làm nhân vật trung tâm, lấy bút pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa làm phương pháp sáng tác (Miêu tả hiện thực cách mạng kết hợp với lãng mạn cách mạng thông qua điển hình hóa), lấy việc phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị làm mục đích. Thơ hướng về quần chúng mà kêu gọi, động viên chiến đấu, sản xuất, thơ tập trung ca ngợi cái mới, con người mới (thử so sánh Khi Chiều Giăng Lưới của Xuân Diệu với Tiểu Đội Xe Không Kính của Phạm Tiến Duật). Rõ ràng muốn cách tân thơ thì phải xuất phát từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật. Ta hiểu ra thơ hiện nay rất cũ vì nhiều bài thơ vẫn được viết bằng thi pháp Thơ Lãng Mạn hay thi pháp thơ kháng chiến.

Những nỗ lực cách tân thơ Việt đã diễn ra mạnh mẽ, nhưng chưa có thành tựu đáng kể. Trần Dần, Lê Đạt tập trung vào cách tân hình thức câu, chữ. Thanh Tâm Tuyền sử dụng “dòng ý thức” của văn chương Hiện Sinh. Khế Yêm , Đỗ Quyên thể nghiệm thơ Tân Hình Thức. Các nhà thơ trẻ hiện nay (Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng, Ly Hoàng Ly, Lê Vĩnh tài…) đang khám phá thủ pháp Hậu Hiện Đại. Ít nhiều những thể nghiệm ấy cũng có những bài đứng được, đủ sức đánh dấu như cột mốc của sự phát triển.

Hãy lấy thí dụ, thơ “dòng ý thức” của Thanh tâm Tuyền khác hẳn với thơ Lãng Mạn ở chỗ, thơ lãng mạn là dòng tâm trạng, cón thơ Thanh Tâm Tuyến là “dòng ý thức”(Xin đọc Tương Tư của Nguyễn Bính và Tĩnh Vật của Thanh Tâm Tuyền). Cũng vậy, Thơ Tân Hình Thức quan trọng ở cách vắt dòng, ở câu chuyện được kể, ở những vòng lặp và cách đọc vừa là thơ, vừa như văn xuôi (xin đọc : Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể của Khế Yêm, Tay Trái Thơ Tay Phải Núi của Đỗ Quyên). Thơ Hậu Hiện Đại phá vỡ những yếu tố cơ bản của “thơ truyền thống” là không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện. Nhà thơ đưa vào những yếu tố ngẫu nhiên, hoang tưởng. Hiện thực được miêu tả là những mảnh rời rạc. Nhà thơ lật đổ những Đại Tự Sự. Hậu Hiện Đại còn “giải thiêng” và phi tâm hóa…(xin đọc Hoe Chân Lời, Sinh Tồn của Văn Cầm Hải). Ý thức thẩm mỹ của nhà thơ Hậu Hiện Đại khác hẳn với nhà “thơ truyền thống”. Inrasara nhận định thế này : “Thơ tuôn tràn tự nhiên như nói, như thở, như ăn, uống, làm tình. Vậy thôi. Không có gì trầm trọng cả.”, ” Thời đại khác, quan điểm thơ cũng khác vừa viết vừa tự khám phá chính mình. Khám phá mình ngay trong hành động viết và qua quá trình viết. Chuyển động và thay đổi. Họ viết - thế thôi. Liên tục chuyển động và thay đổi. Không nhiều nhà phê bình nhận ra điều đó. Rất ít nhà phê bình theo kịp sự chuyển động của họ. Không theo kịp, nhà phê bình mãi ở lại căn chòi mĩ học cũ để nhìn về thơ đương đại, nhận định và phán xét nó.Tiếc thay.”

Tôi nghĩ rằng bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và thế giới thế kỷ XXI đã hoàn toàn khác với thời kỳ bao cấp trong kháng chiến. Ý thức thẩm mỹ của thời đại cũng đã khác. Muốn cách tân thơ phải xuất phát từ sự đổi mới ý thức thẩm mỹ. Đây là điều cốt tử. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nhận rõ điều này: “không thể chấp theo lối cũ. Thơ ca nghệ thuật không thể nằm ngoài chân lý ấy.Thế nhưng sau bao năm đổi mới, nền thơ Việt dường như vẫn quằn quã trong cái ngôi làng lặng yên. Chúng ta phải tự nhận ra rằng chúng ta tự trói lấy chúng ta, bảo thủ, tự bằng lòng thoả mãn với những gì có được.”, Ấy là chúng ta quen với lối mòn thi pháp của thơ kháng chiến viết bằng phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, quen với cách sinh hoạt thơ như thời bao cấp. Nhà thơ đi dự hội nghị được tỉnh cấp kinh phí. “Hội thảo 2 ngày mà có tới ba cuộc tiệc lớn : Tỉnh ủy Thanh Hóa đãi, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa đãi, Hội Nhà văn Việt Nam đãi. Bia rượu vui vẻ.”(Ngô Minh). Nhiều nhà thơ và bạn đọc quen với ý thức thẩm mỹ cũ,vẫn giữ cách nhìn văn chương quan điểm văn chương thời bao cấp, và vì thế sự cách tân thơ đối với họ là điều vô bổ. Nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan có một nhận xét rất xác đáng thế này :” sự hoàn chỉnh về hệ thống đó cũng là một rào cản, đặc biệt với những cái-tai-bên-trong, con-mắt-bên-trong của nhiều thế hệ độc giả cũng như tác giả đã hoàn toàn quen với khu vực đặc trưng nhất của không gian ngôn ngữ mà hệ thống kia dựng lên – khu vực của lãng mạn và kỹ xảo tu từ - coi như phạm trù và quan niệm về thơ ( - mà không hề tính đến các cực trị không gian đó đã đạt tới và do vậy đã gợi mở - ) , đến mức nếu ai đó vượt ra để làm khác đi thì sẽ không còn thơ nữa”

Để trả lời cho những lời kêu gọi khẩn thiết về tình trạng thơ khủng hoảng, đang trong cơn bĩ cực, đang mất chỗ đứng trong lòng công chúng, “thơ đang ở thời kỳ hỗn mang, tôi xin mượn ý của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật rằng , nhà thơ không thể chấp theo lối cũ, hãy tự cởi trói khỏi sự bảo thủ của ý thức sáng tạo và thói quen sinh hoạt cũ, bởi vì Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị cũng đã mở đường rồi. Nghị quyết ghi rõ :” Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ… tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà. “

Những vấn đề do hội thảo Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền trung đặt ra vẫn đang là thách thức với mọi nhà thơ. Chưa có câu trả lời cho con đường đi tới phía trước? Chỉ cần 15 năm (1930-1945) Thơ Việt Nam có hẳn một thời đại mới, vậy mà từ 1975 đến nay, đã 35 năm, Thơ Việt Nam đã có những thành tựu gì ? Dường như bạn đọc yêu thơ đã không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi…

12.2011
_____________________________________________

(1) Bài viết này dựa trên bản tin và kỷ yếu của Hội Nhà Văn về Hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền trung đăng trên http://vanvn.net
(2) Ngô Minh (http://ngominhblog.wordpress.com/2011/10/11/th%C6%A1-nghiem-tr%E1%BB%8Dng-th%E1%BA%ADt/)
(3) Nguyễn Hoàng Đức-Không thể có thơ hay nếu không có sinh hoạt thơ lành mạnh
Bài này đăng trên trang web của Hội Nhà Văn 3.12.2011: http://vanvn.net/news/11/1315-hoi-thao-tho-viet-nam-hien-dai-nhin-tu-mien-trung-nhung-van-de-con-do.html
(4)