Bùi Công Thuấn đọc Văn trẻ
DỊ BẢN
Tập truyện ngắn của KENG*. Nxb văn Nghệ 2009
Keng trình làng một mẫu “dị bản “ của người trẻ thời @, chủ yếu là nhân vật nữ. Kiểu nhân vật này hoàn toàn khác với người phụ nữ truyền thống. Người phụ nữ trẻ này, do một hoàn cảnh nào đó, đã bị biến dạng đi, xô lệch đi, phá cách đi so với chuẩn mực của xã hội Việt Nam. Nói cho đúng, Keng khẳng định một mẫu hình người phụ nữ trẻ mới. Đó là con người bứt phá hết mọi trói buộc của văn hoá truyền thống, khoác lên mình cái hình hài văn hoá thực dụng phương Tây, một người phụ nữ hoàn toàn “tự do”, tức là không bị ràng buộc bởi ý thức lấy chồng, thiên chức làm vợ và làm mẹ , không bận tâm giữ gìn tiết hạnh, nhất là tự do quan hệ với đàn ông và thoải mái sex với họ.
Họ có dáng nét chung thế này : trẻ, không phải bận tâm về kiếm sống. Một em thổ lộ :” Một năm rưỡi, em chuyển chỗ ở 3 lần. Hài lòng với công việc hiện tại của mình, công việc dễ thương, đồng nghiệp dễ thương, sếp dễ thương… song cuộc sống của em vẫn nhàn nhạt. Em không có một chỗ dựa khi mệt mỏi, dù chẳng lúc nào em ở một mình. Người ta lướt qua cuộc đời em, cũng như em lướt qua cuộc đời nhiều người khác để rồi cuốn xoáy theo những vòng quay rã rời. Vòng quay đó, đẩy em ly tâm khỏi xúc cảm đích thực khi sống “(tr.49). Họ giao tiếp với đàn ông một cách vô cảm. “yêu cũng được, không yêu cũng chẳng sao”, người tình nếu có, chỉ như chiếc áo khoác trong nhất thời. Đan nói :” em cặp với ai cũng chỉ để vui thôi mà “(tr.198), “Đan coi những chuyện đã qua chỉ là tình một đêm “(193). Họ là ai trong xã hội? Nhân vật Em tự định danh mình như sau :”Bạn bè của người ấy ai cũng cặp bồ, họ đều quan niệm’cặp bồ là mốt’. Dĩ nhiên em là vợ hai, là người yêu, là bồ nhí,… của người ấy. Có lần người ấy hỏi em thích được gọi bằng gì? Em lơ đễnh :’ Vợ bé, nhân tình, bồ nhí, phở,… gì cũng được’, rồi bất chợt chùng xuống ‘…hoặc là gái gọi cũng chẳng sao’. Em giải thích :’thì chẳng phải lúc nào anh gọi em mới đến sao?’ “(tr.53). Hoàn cảnh sống của họ : “ là kẻ lông bông, gia đình ở xa, một mình bon chen giữa thành phố xô bồ…”(114).Tính cách của họ hao hao nhau: ”Từng trải, gai góc, sành sỏi”(tr.74). Họ đốp chát, huỵch toet vào mặt đàn ông :”Chẳng phải đàn ông chỉ cần vui vẻ trong chốc lát thôi sao? Chẳng phải đàn ông chỉ vì chút dục vọng có thể chà đạp lên tất cả mọi giá trị sao ? chẳng phải anh đã có gia đình rồi mà vẫn lao vào em ngoại tình ?( 198)
Họ hoàn toàn xa lạ với người phụ nữ truyền thống. Người phụ nữ truyền thống coi phẩm hạnh, tình nghiã thuỷ chung là giá trị hàng đầu. Những cô gái dị bản không hề bận tâm đến phẩm hạnh, không hề biết trơ trẽn khi nhân phẩm loã lồ. Nếu người phụ nữ truyền thống coi việc có chồng, có con, đảm đang xây dựng gia đình, lấy đức hy sinh cho chồng con làm nền tảng của hạnh phúc thì trái lại, những dị bản không nghĩ đến chuyện chồng con, vì không tin ai , ăn ngủ với nhiều người mà không bận tâm đến tra hỏi về giá trị nhân phẩm. Đạo thuỷ chung, đức hy sinh là hoàn toàn xa lạ. Người phụ nữ truyền thống (nhân vật Hai Bà Trưng - Lời Than Vãn Của Bà Trưng Trắc, Nguyễn Ái Quốc ), nhân vật người phụ nữ trong văn học cách mạng còn có phẩm chất xã hội cao đẹp hơn, như phẩm chất anh hùng, tình làng nghiã xóm, tình đồng chí đồng bào, họ dám xả thân cho nghiã lớn.Nhân vật dị bản chỉ quanh quẩn trong cái tôi của mình, trong không gian ảo, quán café, khách sạn và khi không còn lối thoát, thì một vốc thuốc ngủ là xong đời (tr.175)
Xa rời truyền thống, những cô gái dị bản có gốc gác xã hội từ đâu ? Ai cũng hiểu tính cách của dị bản thực chất là văn hoá của chủ nghiã thực dụng phương Tây, chủ nghiã cá nhân, chủ nghiã sex, như một phương cách giải phóng phụ nữ (khỏi đạo đức phong kiến). Thích ai thì mời lên giường, qua đêm, “quấn quýt lấy nhau tíu tít trong phút giây, rồi lại bình thản nhìn nhau như người dưng giữa cuộc đời “(tr 39). Với họ, sex là một bản năng như mọi bản năng cần đáp ứng thế thôi. Như, đói thì ăn, khát thì uống, lên cơn xác thịt thì tìm thoả mãn, chán thì chia tay. Không đạo đức, không ràng buộc, không là bất cứ giá trị nhân phẩm nào. Nhân vật dị bản có thể rao bán trái tim, đại hạ giá, xuống mức cho không biếu không (169).
Keng tô đậm những đường nét này ở những nhân vật dị bản, một cách khẳng định, một cách tự tin, như một lẽ sống, một đắc thắng đối với phẩm hạnh truyền thống. Các nàng dị bản đã quật ngã các chàng ( với tư cách là dân chơi) trong những cuộc tranh luận. Nhân vật Tôi phải thú nhận chiu thua (tr.205). Điếu này có nghiã gì? Phải chăng Keng muốn rao truyền kiểu sống như vậy cho các bạn gái trẻ? Nếu tác giả có chủ đích như vậy thì đó là sự tha hoá trong ý thức của người cầm bút đáng lên án và sẽ là tuyệt vọng để tìm sự cứu rỗi.
Có thể tác giả KENG cũng là một dị bản, một dị dạng của nhân cách.
Keng trả lời trong một cuộc phỏng vấn :
“Mỗi nhân vật đều có một phần bản thân tôi, chỉ hư cấu về tính cách, hành động, ứng xử một chút thôi.”(1)
Hỏi :-“Keng có nói, không phủ nhận yêu nhiều người. Liệu Keng có phủ nhận đã “have sex” với nhiều người không ?”
Keng trả lời :-”Hơn 1 đã là số nhiều, dĩ nhiên trước giờ tôi không chỉ có duy nhất 1 tình yêu để nảy sinh mối quan hệ có sex với duy nhất một người” (tr.212)
Những trả lời của tác giả Keng giúp người đọc hiểu những gì Keng viết trong Dị Bản cũng là những phiên bản của chính tác giả, viết để tự bào chữa cho chính mình và rao truyền “triết lý” sống ấy cho người khác. Keng thú nhận :”… trong mắt gia đình tôi bây giờ, tôi mang tính cách của các nhân vật nữ đã xây dựng. Gia đình tôi nghĩ có thể tôi là Les (đồng tính nữ), quan hệ tình dục bừa bãi, yêu đương nhố nhăng…”(tr 210). Keng biết rõ điều này :”Không biết có ai chấp nhận nổi mình trong gia đình của họ để làm vợ, làm mẹ?Nhưng tôi sẽ vẫn là tôi, khó thay đổi “(tr.211). “Văn là người” , chắc chắn gia đình Keng có cơ sở để nghĩ như vậy, và người đọc cũng không nghĩ khác về tác giả Keng.
Minh triết phương Đông và chuẩn mực văn hoá Việt không hề có kiểu cô gái dị bản như thế. Người phụ nữ Việt hiểu rõ thiên chức làm vợ và làm mẹ. Hạnh phúc của họ là ở chính thiên chức ấy, vì “phúc đức tại mẫu”. Người vợ, người mẹ là cội phúc của gia đình. Tình yêu trong hôn nhân bao giờ cũng là tình yêu trách nhiệm, thuỷ chung, giàu đức hy sinh. Sex không phải là một giá trị, một thú vui, mà tiết hạnh mới là đạo đức. Vì thế người phụ nữ trong văn hoá Việt được nhân dân được tôn thờ. Cả nước có rất nhiều đền thờ “thánh mẫu “. Cả nước hiện vẫn đang “đền ơn đáp nghĩa” các bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sự thuỷ chung, đức hy sinh của họ làm nên đất nước này. Hơn ai hết, người phụ nữ Việt Nam thể hiện đầy đủ nhất nét đẹp của văn hoá truyền thống Việt Nam. Bởi lịch sử suốt 4000 năm dân tộc này phải chống ngoại xâm.
“Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng”
(Mặt Đường Khát Vọng- Đất Nước-Nguyễn Khoa Điềm )
Nếu những người vợ ấy không là cái gốc của gia đình và xã hội, liệu người lính ngoài mặt trận có yên tâm và có sức chiến đấu không ? và dân tộc này có còn tồn tại trước những sức mạnh xâm lược quân sự và văn hoá không? Chúng ta hiểu rõ, bản lĩnh của một dân tộc thể hiện ở vẻ đẹp và sức mạnh văn hoá của dân tộc ấy. Rõ ràng nhận thức của Keng trong Dị Bản đã mất gốc về văn hoá
Nhân vật dị bản mất gốc về văn hoá nên mất cả định hướng cuộc sống, Họ không còn tìm thấy giá trị của cuộc sống. Nhi đã trải qua cuộc tình với Bảo, Phương, Hải, Tuấn, Anh, Quân, nhưng “Đời sống của Nhi chênh vênh không điểm tựa. Công việc dính liền với cái máy vi tính khiến Nhi trải lòng mình vào mạng ảo. Chat, mail, forum, blog… ồn ào trong những ảo ảnh của con tim cô độc”(tr.71), “ Nhi cười nói ầm ĩ nhưng trong lòng đã mòn một niềm tin”(tr73)
Keng thú nhận :”Biết sao hông ? Bởi vì cuộc sống của Keng nhàm tẻ quá! Keng không biết tìm niềm vui ở đâu, cho nên chỉ còn cách dựa vào thế giới ảo, bấu víu vào những gì không thực để huyễn hoặc mình”, ”vậy thì mục đích duy nhất của Keng là hoàn thành cuộc sống của mình. Keng đã muốn hoàn thành nó từ lâu rồi, nhưng sau bao nhiêu lần tự tử thì cái mục đích đó vẫn dang dở”(tr.133). Keng đã nói như thế thì chúng ta chẳng có gì phải bàn về những cô gái dị bản như Keng nữa.
Tuy vậy, ở góc độ tác phẩm, không phải tác giả Keng hoàn toàn phủ định giá trị truyền thống trong tình yêu, hôn nhân và đạo đức. Nhân vật Chị và nhân vật Tôi nhiều lần lên tiếng nhắc nhở những dị bản, nhưng những tiếng nói ấy yếu ớt lắm.
Chị nói :”Nhưng em cũng đứng tuổi rồi, nên xác định cho mình một tương lai. Đừng như thế mãi, không tốt đâu. Em không nghĩ mình phải lấy chồng sao?” ( Yêu cũng được, không yêu cũng chẳng sao.tr47)
Tôi khuyên Đan :”Nếu em thấy tình yêu đem lại hạnh phúc, sao không thử tiến đến hôn nhân?”
Đan trả lời :”Hạnh phúc gì đâu!Thỉnh thoảng yêu để thay đổi không khí chút. Chứ gắn liền nhịp sống của mình với một người nào đó, em chịu không thấu. Thực lòng mà nói em không nhớ được mình đã yêu những ai nữa”(Dị Bản.tr.188)
Trong suốt tập truyện ngắn , tác giả Keng có nhắc nhiều đến “quá khứ đau thương “ của các nhân vật, như là nguyên nhân gây ra những dị bản , chẳng hạn trường hợp Đan bị bố dượng hãm hiếp để trả thù mẹ Đan (Dị Bản ), nhưng theo dõi các nhân vật, hầu hết họ là hậu qủa cuả lối sống công nghiệp phương Tây hiện đại, quay quắt trong sự giao lưu văn hoá mà không định hướng được đâu bản sắc Việt. Họ không thể tự quân bình được chính mình. Cách sống của họ là một hình thức phản kháng yếu đuối, nếu không noí là bất lực. Keng có nói thật điều này:”Em yếu đuối trong cái vỏ gai góc, bản lịnh…”(tr. 56):
“…lúc nào em cũng không hài lòng về bản thân mình, chán nản với cuộc sống cầu bơ cầu bất của kẻ xa gia đình, bởi vì em bơ vơ, bởi vì ngoài bản thân, em không có bất cứ một điều gì khác. Trong sự mưu sinh chật vật, em đánh mất bao điều quan trọng của đời người. Em không biết ước mơ của mình nằm ở đâu? Em bất lực nhìn sự tự tin trôi tuột khỏi suy nghĩ mình. Sự sôi sục của tuổi trẻ lụi tàn trên thể xác kiệt quệ của em, và cái lăng kính màu hồng em từng nhìn đời phai màu xám xịt”( Gia đình, Người tình & Áo khoác. Tr.56)
Những mẫu cô gái dị bản là có thật trong đời sống, nhưng chỉ là một bộ phận nhỏ của người trẻ. Chỉ có điều Keng đã tô quá đậm về họ và nâng lối sống của họ lên như một kiểu mẫu lý tưởng. Keng xác nhận :”Tôi thấy cuộc sống của mình rất tốt, độc lập, không chịu bất cứ sự kiềm tỏa nào. Có rất nhiều người tâm sự rằng mong muốn có một cuộc sống hoàn toàn tự do như tôi, để được phép quyết định mọi chuyện mình làm “(tr214).
Tôi nghĩ đó chỉ là một ảo tưởng của tác giả Keng. Trong cõi đời này, làm gì có cái gọi là “hoàn toàn tự do”. Bởi chính Keng đang là con rối của chủ nghiã cá nhân vị kỷ, chủ nghiã thực dụng, chủ nghiã sex phương Tây, mà Keng lầm tưởng là tự do. Keng mất gốc về văn hoá Việt và đang ngụp lặn lầm lạc trong văn hoá phương Tây đó thôi. “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, nó bị chi phối bởi xã hội. Giá trị của một con người là giá trị xã hội. Phẩm giá và ý nghiã đời người cũng nằm trong xã hội. Con người trần trụi, hoang dã, con người bản năng, thì không phải là con người văn hoá. Nhân loại phải mất bao nhiêu thế kỷ mới vươn lên từ con người bản năng thành con người văn hoá. Cái “hoàn toàn tự do” mà Keng miêu tả, cổ vũ trong Dị Bản là tự do sex với bất kỳ ai, không văn hoá, không đạo đức, kể cả không nhân phẩm. và cuối cùng là một vốc thuốc ngủ như chính Keng thú nhận : mục đích duy nhất của Keng là hoàn thành cuộc sống của mình. Keng đã muốn hoàn thành nó từ lâu rồi, nhưng sau bao nhiêu lần tự tử thì cái mục đích đó vẫn dang dở”(tr.133).”Hoàn toàn tự do” như thế, nào có ích gì cho ai trong cõi đời này? Nếu Đặng Thuỳ Trâm còn sống, đọc những dòng này, chị sẽ nghĩ gì về những cô gái dị bản thế hệ sau mình ?
Nhưng tôi nghĩ rằng ở ngoài đời thực, tác giả Keng không nghĩ suy và sống như nhân vật của mình. Có chăng đó chỉ là những ẩn ức của Keng, vỡ ra thành nhân vật thôi, như cái nhọt nung mủ trong não trạng, trong vô thức, phải vỡ ra sự hôi thối không thể khác được.
Như vậy, sau khi cho nhân vật thoả mãn mọi khát vọng bản năng, lăn mình trần truồng vô cảm theo tiếng gọi của chủ nghiã thực dụng, chủ nghiã cá nhân và cái gọi là tư do sex của phương Tây , Tác giả Keng đã nhận ra, từ những trải nghiệm đớn đau truyệt vọng, những giá trị nhân văn của phương Đông về những ý nghiã và giá trị đời người. Hầu như trong tập truyện, những chàng trai tốt đều bỏ những cô gái dị bản mà đi, sau khi đã cố thuyết phục họ không được. Cô gái điếm đã ngộ ra :”Nàng là một con điếm đã hoàn lương, nàng không thể sống bất cần như trước đây, nàng phải có trách nhiệm với tương lai của mình… cuộc sống của nàng rồi sẽ lại nguyên sơ xúc cảm “(Những Sợi Len Đan Rối Vào Nhau, tr.36). Vâng đúng . Trong cuộc sống , mỗi người phải có trách nhiệm với chính mình, và mọi người xung quanh. Ai cũng mưu cầu hạnh phúc, nhưng hạnh phúc không phải chỉ là tiền, là sex, là tự do thỏa mãn bản năng, là sống như loài thú hoang. Hạnh phúc lại ở trong chính việc thực hiện trách nhiệm của mình, khi mình biết hướng lòng yêu thương và hy sinh cho tha nhân. Ai cũng cần có điểm tựa tinh thần, ai cũng cần hơi ấm. “Những trái tim ấm nóng sẽ làm cuộc sống có ý nghiã hơn rất nhiều”. Trải nghiệm ấy của Keng đáng để bạn trẻ suy nghĩ.
Tác giả nhắn gửi mọi người : “Sống trên đời ai cũng cần một chiếc áo khoác cho tâm hồn, bởi có nhiều lúc ta cảm thấy lạnh. Nếu ta biết rằng mình là một chiếc áo cho ai đó, hãy cố gắng giữ ấm cho trái tim của người ấy nhé. Những trái tim ấm nóng sẽ làm cuộc sống có ý nghiã hơn rất nhiều… sau câu chuyện kể, đó là lời nhắn nhủ của em. Mong rằng sẽ không còn ai lạnh lẽo, cô độc trên đời”( ”( Gia đình, Người tình & Áo khoác. Tr.60)
Trong Dị Bản cũng có truyện khứa vào được những vấn đề xã hội, làm nhói buốt trái tim người đọc (Vàng, Dị Bản ).Những truyện này chứng tỏ Keng có năng lực viết vượt lên chính cái tôi cuả mình. Những truyện khác chỉ là tâm trạng , nghĩ suy của nhân vật tôi (phiên bản của tác giả). Keng chưa vượt qua được bước đầu tiên của nghề viết, là vượt ra ngoài nghĩ suy, trải nghiệm của cái tôi tác giả. Keng chưa hoá thân vào những kiếp người khác, chưa nói được tiếng nói nhân sinh trong những hình hài, những hoàn cảnh ngoài cuộc sống của chính Keng.
Dị Bản là một tự truyện không hơn không kém, Keng thú thực: “Dị bản thực chất là một trong số các entry tôi viết cách đây hơn một năm”.(2) tuy có hư cấu, có thay tên đổi họ nhân vật, có đặt họ vào những không gian khác nhau. Đọc suốt tập truyện, người đọc có cảm giá Dị Bản chỉ là truyện của một nhân vật. Mỗi truyện ngắn là một chương của một truyện dài. Thí dụ, truyện Chấm Hết, chỉ là nối tiếp miêu tả lần gặp gỡ thứ 6, sau 5 lần gặp gỡ trong truyện Tình Ảo Như Cánh Diều Đang Bay. Có thể liên tưởng thế này :
Keng là một dị bản, là một Les, vì thế Yêu cũng được, không yêu cũng chẳng sao. Gia đình, Người tình như chiếc áo khoác. Nàng đã trải qua nhiều người đàn ông (như NHI trong Những cuộc tình chia lià chầm chậm ). Tất cả chỉ là “khúc tình không tên, Mong Manh Hư ảo, Tình ảo Như cánh Diều Đang Bay, con đường tình ngày càng tuột dốc, đến nỗi Rao bán trái tim, tình cho không biếu không cũng bị từ chối. Cuộc đời cứ như Những sợi len đan rối vào nhau.Tự tử nhiều lần cũng không thoát trách nhiệm, sau cùng con đường duy nhất là hoàn lương, “nàng phải có trách nhiệm với tương lai của mình “(tr.36)
Cái yếu nhất của ngòi bút Keng là thiếu vốn sống, Keng tỏ ra không biết “trời cao đất dày” xung quanh mình. Không gian truyện của Keng chỉ là vài quán café xung quanh hồ Con Ruà, vài chuyến vào Nam, ra Bắc, ra Vũng Tàu hoặc sang Thái Lan. Tác giả chỉ kể chứ không miêu tả cụ thể cảnh sắc, con người, sinh hoạt của từng nơi. Xã hội Việt Nam hiện tại có bao nhiêu điều cần nhà văn lên tiếng nói, chẳng hạn nạn phá thai ở người trẻ (mỗi năm ở VN có khoảng 1.6 triệu ca nạo phá thai, do người trẻ sống buông thả như keng) ; chẳng hạn tội ác ngày càng tăng trong giới trẻ, như giết người yêu, chặt đầu, cắt khúc phi tang; chẳng hạn tình trạng mất văn hóa do sự xâm lăng văn hoá từ bên ngoài khi VN mở cửa hội nhập…Cuộc sống đang tiến về phiá trước, có bao nhiêu cái đẹp mới ở người trẻ mà những thế hệ trước không có mà nhà văn có thể khẳng định. Dị Bản trình bày một bức tranh u ám chán ngắt về người trẻ. Những con người không còn ý thức gì về chính sự sống của mình. Không lý tưởng, không mục tiêu vươn lên, không có ý thức gì về cộng đồng, về đất nước, càng không có ý thức gì về văn hoá, về cái đẹp về những giá trị nhân văn cần giữ gìn.
Thực tình mà nói, đọc Keng, vài truyện đầu, tôi còn có một chút thú vị về giọng văn đáo để của con gái xứ Bắc, về ngôn ngữ chat trên net, về cách nói năng huỵch toẹt vào mặt nhau của những kẻ không còn ý thức nhân phẩm, về cá tính mạnh mẽ của một cây bút nữ, dám thổ lộ mình trực tiếp trong tác phẩm. Keng cũng có được những câu văn hay, có những nghĩ suy triết lý (kiểu triết lý vặt), những đoạn tâm trạng thấm thiá. Nhưng đọc thêm, tôi thấy chán ngắt, bởi vì cả tập truyện chỉ có một kiều bút pháp, một kiểu nhân vật, một kiểu thể hiện . Thực ra Keng chưa hiểu gì về bút pháp, về thi pháp truyện ngắn và ý thức sáng tạo. Keng mới viết ở dạng bản năng. Cụ thể là, nhân vật chưa hiện lên được như những chân dung, những tính cách, những số phận độc đáo, có giá trị tư tưởng và thẩm mỹ.
Không gian truyện của Keng vô cùng tù túng, cuộc sống ngột ngạt không sao chịu nổi. Cách miêu tả áp đặt đến cực đoan (Nhi, Đan…). Tính sáng tạo nghệ thuật rất ít, nhiều chỗ kết nối vụng về và lặp lại. Chẳng hạn, nhân vật nữ về khuya, không vào nhà được, phải ngủ lại nhà bạn trai, chung giường tự nhiên, thế rồi là sex (Nhi với Quân, tr.72- Mộc, tr.102 – Đan và Tôi, tr 191…). Có một truyện Keng hé lộ năng lực sáng tạo của mình là Những Sợi Len Đan Rối Vào Nhau. Nhân vật cô gái điếm ngủ mơ thấy mình chết , hồi tưởng quá khứ. Sau đó tiếng mèo kêu đánh thức mình dậy. Nhưng truyện này Keng viết Cải lương quá, hời hợt và gượng gạo, thiếu tính logic hiện thực.
Tác giả Keng nói về việc “sáng tác” của mình thế này : - Tôi cũng tự nhận thấy hầu hết các nhân vật nữ trong Dị bản đều na ná nhau. Đây là lần đầu tiên tôi viết truyện. Trước đây, tôi thực sự không có ý sẽ viết truyện và in sách. Chính vì vậy mà khi viết những entry - truyện ngắn, nhân vật nào tôi cũng lôi tính cách của mình vào. Mỗi nhân vật đều có một phần bản thân tôi, chỉ hư cấu về tính cách, hành động, ứng xử một chút thôi.(1)
Tác giả Keng tiết lộ phản ứng của độc giả sau khi tập truyện Dị Bản phát hành : ”Họ nói văn thơ của tôi vớ vẩn, rẻ tiền, tôi bị bệnh hoang tưởng, tôi cần trở về cuộc sống bình thường…”(tr 210) Phản ứng của Keng là thế nào khi mobile của cô có tin nhắn SMS “mắng chửi” cô ? :”tôi ghét bị nháy máy vô cùng, thường nó làm tôi bực bội và chỉ muốn tra ra tận cùng kẻ đó là ai để hù cho kẻ đó biết mặt. Thực tình là tôi khá đanh đá !”(210). Tôi nghĩ, khi đã cầm bút, nhà văn phải chịu đựng được những ý kiến phản hồi của độc giả. Họ có lý của họ, bởi khi tác phẩm đã được phát hành, nó thuộc về công chúng. Tác giả đã chết (R. Barthes)
Ngòi bút của Keng có một vài mặt mạnh, nhưng nó còn ở dạng tiềm năng. Nếu Keng tiếp tục viết như đã viết Dị Bản thì phản ứng của bạn đọc cũng sẽ giống với thái độ gia đình Keng như tác giả thổ lộ ; ”Gia đình tôi nói không muốn đọc những tác phẩm sau này của tôi nữa nếu cứ tiếp tục viết như thế”(tr.210).
Bùi Công Thuấn. Tháng 7.2010
___________________________________
(*) Tác giả Keng
Tên thật: Đỗ Thị Thùy Linh. Ngày sinh: 21/10/1983. Hiện đang theo nghề copywriter tại Công ty Quảng cáo
New D&N, TPHCM.
(1) http://www.khampha24h.com/modules.php?mcid=38&mid=7226&name=News&opcase=detailsnews
(2) http://www.khampha24h.com/modules.php?mcid=38&mid=7226&name=News&opcase=detailsnews
Sáng tác ca khúc, truyện ngắn và phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn. Bạn cũng có thể đọc BCT tại http://yume.vn/buicongthuan
Thứ Ba, 20 tháng 7, 2010
Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010
LOAY HOAY ĐỀ THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN
LOAY HOAY ĐỀ THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN
Bùi Công Thuấn
Đề Văn thi ĐH khối D năm nay đọc có vẻ hay nhưng thực chất là quá sức học sinh. Bởi học sinh làm bài thi như làm bài đánh đố.
Bấy lâu nay người ta hay nói đề khái niệm đề “mở” , khái niệm khuyến khích sự sáng tạo của học sinh trong bài làm thi Đại Học. “Mở” và “sáng tạo” là biện pháp chống học vẹt, học thuộc lòng, điều ấy đúng. Nhưng trong thực tiễn, đại đa số học sinh học Văn chỉ có khả năng hiểu và học thuộc lòng. Trong một 100 học sinh , khó tìm thấy một em có khả năng đọc tác phẩm và tìm ra những kiến giải mới hơn với SGK và sách tham khảo. Bởi vì SGK và sách tham khảo được các giáo sư, tiến sĩ , thạc sĩ văn chương, những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp viết, làm sao trí não non nới của các em sánh được với những bộ não chuyên nghiệp ấy mà đòi các em “sáng tạo “? Năng lực viết của các em cũng hạn chế, vì các em phải học tới 10 môn, Văn không phải là môn chính để các em dành nhiều thì giờ rèn luyện.Vậy ra đề ”mở” cho đại trà 100% học sinh “sáng tạo” là một điều không tưởng. Tôi có cảm giác Bộ có kỳ vọng biến bài làm của các em thành bài tham luận trong các kỳ hội thảo Văn học chăng? Chỉ trong các hội thảo, người ta mới cố gắng tìm kiếm những ý tưởng mới.
Vì người soạn đề “mắc kẹt” trong ý niệm không tưởng ấy, nên đề Văn thực sự đẩy các em vào trạng thái “bó tay” khi làm bài, và lối thoát duy nhất là “tán “ để may ra được điểm nào hay điểm ấy.
Xin đọc đề Ngữ Văn khối D
Câu III.b. Theo Chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí
Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật
Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
Dạy và học tác phẩm văn học thầy và trò cần nắm chắc các yếu tố cấu trúc của tác phẩm, đó là cốt truyện, nội dung, chủ đề, nhân vật, bút pháp, phong cách. Phân tích kỹ các yếu tố này đã không đủ thời gian. Không thầy cô nào có thì giờ để đi sâu vào từng chi tiết. Chỉ những nhà nghiên cứu chuyên sâu, có thì giờ, tỉ tê nghiền ngẫm, mới có thể phát hiện chi tiết truyện và giá trị các chi tiết ấy. Nếu ra đề mà nhắm vào các chi tiết thì đó là một hình thức đánh đố.
Thí dụ, trong truyện Chí Phèo, nhân vật Chí Phèo cười mấy lần, ý nghiã nội dung và nghệ thuật của tiếng cười ấy? Thí dụ, trong truyện Vợ Nhặt, nhân vật bà cụ Tứ khóc mấy lần ? Thí dụ, trong Chữ Người Tử Tù làm sao sáu người tù có thể mang trên cổ một cái gông nặng đến bảy tám tạ? Thí dụ , trong truyện Rừng Xà Nu, khi Tnú về thăm làng, tại sao tác giả lại đặc tả bàn tay cụ Mết như cái kềm sắt trên vai Tnú? …Ra như thế là đánh đố, không phải kiểm tra năng lực đọc tác phẩm và kỹ năng làm bài của học sinh. Ra đề đến những chi tiết hiểm hóc như thế thì đâu còn là đề “mở”. đâu còn là khuyến khích sự”sáng tạo” của học sinh !
Xin đọc đề Ngữ Văn khối C:
Câu III.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau :
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11,
Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39)
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
(Tràng giang – Huy Cận, Ngữ văn 11,
Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 29)
Phần đặt vấn đề của câu hỏi này rất lơ lửng và không đúng nguyên tắc ra đề.
Trong phân môn Tập làm Văn ở PTTH không có kiểu bài nào là kiểu bài “cảm nhận “ cả. Cảm nhận là gì ? có thể hiểu là cảm xúc và nhận thức (tức là khi đọc hai đoạn thơ ấy, học sinh có cảm xúc gì, và nhận thức, suy nghĩ điều gì), Cảm nhận nghiêng về nhận thức cảm tính, quen được gọi là cảm thụ. Đã là cảm tính thì không còn khách quan. Học sinh muốn tán thế nào cũng được. Đề yêu cầu viết cảm nhận thì học sinh phải viết ý kiến riêng của cá nhân, 100 em 100 ý. Sẽ có những ý kiến hoàn toàn trái ngược với đáp án. Vậy GK có cho điểm sáng tạo không, hay vẫn theo đáp án bắt buộc ?
Cứ cho rằng học sinh biết viết cảm nhận thì yêu cầu của đề là gì ? “Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau “ là một câu văn lơ lửng. Cảm nhận về cái hay cái dở cuả hai đoạn thơ, cảm nhận về hình tượng thơ, cảm nhận về bút pháp, thi pháp, nghệ thuật ngôn từ của hai đoạn thơ hay về phong cách của hai tác giả? hay phải viết về tất cả những thứ ấy, hay chỉ nói cái khoái cảm khi đọc hai đoạn thơ ầy ?! Học sinh phải viết mỗi đoạn thơ thành một bài riêng hay phải so sánh đối chiếu, chỉ ra đoạn thơ nào hay hơn đoạn thơ nào, chỉ ra sự khác biệt giữa hai đoạn thơ…
Rõ ràng cách đặt vấn đề như thế là hết sức “mở” theo kiểu lơ lửng, đánh đố học sinh ? Còn đâu tính khoa học, tính giáo khoa của một đề thi? Những học sinh đã được “luyện “ thì biết rằng đề yêu cầu phải phân tích riêng từng khổ thơ, sau đó so sánh, lý giải sự giống nhau và khác nhau của hai khổ thơ, hai tác giả và trình bày cảm nghĩ riêng của cá nhân. Những điều ấy được hiểu ngầm đằng sau câu chữ, học sinh phả đoán ra, lần ra. Như vậy không là đánh đố học sinh hay sao.Câu đặt vấn đề cần phải tường minh và xác định rõ yêu cầu kiến thức, kỹ năng Bộ cần kiểm tra đánh giá là gì. Đề ra “lơ lửng”, đánh đố, không phải là đề “mở”.
Xin đọc đề nghị luận xã hội khối D:
Câu II.
Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhóang.Từ ý kiến trên anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.
Để làm được đề này, học sinh phải hiểu đạo đức thật là gì, từ đó mới biết đạo đức giả. Nhưng khổ một nỗi trong nhà trường ( môn Ngữ Văn ) không dạy cho các em đạo đức thật là đạo đức gì. Đó là đạo đức phong kiến Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Công, Dung, Ngôn, Hạnh, hay đạo đức cách mạng "trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng "? Cả hai thức đạo đức này đã rất xa lạ với thứ đạo đức của nền kinh tế thị trường, đạo đức của chủ nghiã cá nhân và chủ nghiã thực dụng .Vậy các em sẽ làm thế nào ? Những vấn đề như thế vượt quá sức hiểu của các em. Thay vì dựa trên những kiến thức chuẩn xác và thực tiễn cụ thể (điều này các em không được dạy), các em sẽ chỉ tán liều để lấy 1 điểm. 100% các em sẽ làm bài như vậy. Bộ GD-ĐT sẽ đánh giá được gì về nhận thức và năng lực của học sinh qua một đề thi như vậy.
Xin đọc Chiếc Thuyền Ngoài Xa cuả Nguyễn Minh Châu. Khi thấy nhân vật người đàn bà bị chồng bạo hành, nhân vật Phùng xông vào đánh người đàn ông chài để bênh vực chị. Nhân vật Đẩu định đưa chị ra toà ly dị chồng để giải thoát cho chị. Theo quan điểm đạo đức bình thường thì đó là những hành động tốt. Thế nhưng kết quả thì ngược lại, Phùng bị thằng Phác thù ghét và cả Phùng và Đẩu đều bị người đàn bà chài chê là kém hiểu biết. Đâu là tốt, xấu? đâu là đạo đức thật ?
Xin đọc Một Người Hà Nội cuả Nguyễn Khải. Trong khi những người con Hà Nội ra đi chiến đấu, thì ở nhà, tháng nào bà cô Hiền cũng tổ chức tiệc tùng họp mặt những người bạn quý tộc, để được sống phong cách quý tộc . 660 người con Hà Nội ra đi, còn lại trên dưới 40 người trở về. Người lính sống sót (Dũng) trở về thăm nhà khi bà cô Hiền đang tiệc tùng, họ xa lạ như người dưng. Một ông già hỏi “ Đồng chí bộ đội có chuyện gì vui kể nghe nào “. Bộ đội chỉ có chuyện chiến đấu và hy sinh. Đó đâu phải là chuyện góp vui cho những ông bà quý tộc trong tiệc tùng ăn chơi. Giưã nhân vật mẹ cuả Tuất có con hy sinh và bà cô Hiền sống hưởng thụ, Nguyễn Khải ca ngợi ai ? Nguyễn Khải gọi bà cô Hiền là hạt bụi vàng cuả Hà nội. Vậy bà cô Hiền đúng, hay bà mẹ Tuất có con hy sinh là đúng? đâu là đạo đức thật và đâu là đạo đức giả trong sự ca ngợi của Nguyễn Khải?
Hai tác phẩm trên dạy cho học sinh đạo đức gì ?Thực dụng chủ nghiã như bà cô Hiền, hay cam chịu nhẫn nhục như người đàn bà chài? Dạy cho học sinh sự khôn ngoan cơ hội chủ nghiã cuả bà cô Hiền hay dạy cho học sinh chấp nhận thói vũ phu của nam giới ? Đâu là đạo dức thật, đâu là đạo đức giả? Đâu là thực tiễn học tập của học sinh và đâu là sự không tưởng của người ra đề?
Quả thực, đề ra chẳng khác gì đánh đố học sinh vậy.
Xem xét đề khối D, Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận anh/chị về đoạn thơ sau:
những tiến đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo chòang đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vần trăng chếnh chóang
trên yên ngựa mỏi mòn
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hòang
áo chòang bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
(Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo, Ngữ văn 12,Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 164-165)
Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được viết bằng bút pháp siêu thực, nhiều hình ảnh siêu thực rất khó giải mã đúng. Hoc sinh chưa hiểu chủ nghiã siêu thực là gì, chưa được tiếp cận nhiều với nghệ thuật siêu thực làm sao các em có thể hiểu được thấu đáo hình tượng thơ. Mỗi học sinh lại có thể có những liên tưởng khác nhau khi giải mã ngôn ngữ thơ . Ở trường Phổ Thông, mỗi thầy cô cũng liên tưởng và giảng rất khác nhau. Nhiều hình ảnh không hiểu đành phải “lờ đi”. Ra đề vào một tác phẩm chưa có sự thống nhất chuẩn kiến thức , có khác nào thả các em giữa biển cho các em bơi. Dù có bơi (tán) giỏi thế nào, giữa biển khơi , không có gì bám víu, trước sau cũng chết chìm.
Để làm được câu so sánh hai đọan thơ trong Tràng Giang và Đây Thôn Vĩ Dạ (khối C), các em phải biết thi pháp của hai bài thơ ấy, biết phong cách của hai tác giả thì mới có thể làm được. Cụ thể ,đoạn thơ của Hàn Mặc Tử có những yếu tố của bút pháp siêu thực, đoạn thơ của Huy cận đậm đặc thi pháp cổ điển Đường Thi. Những kiến thức ấy với học sinh phổ thông là chưa thể vươn tới được.
Cũng vậy, câu cảm nhận về hai đoạn văn của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường (khối C), học sinh trước hết phải nắm được phong cách mỗi tác giả, và phong cách ngôn ngữ văn bản mới có thể làm tốt. Thế nhưng sách giáo khoa nói rất sơ sài về phong cách mỗi tác giả. Kiến thức về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân vẫn còn tranh cãi, các em có kiến thức đâu để làm bài?
Nói rằng đổi mới trong cách ra đề, thực chất Bộ vẫn loay hoay tìm cách đánh đố học sinh, đẩy các em phải đến các lò luyện thi. Vì ở đó chỉ có thầy cô dạy luyện thi mới “giải mã” giúp các em biết nghệ thuật đánh đố của người ra đề. Đề yêu cầu các em viết "cảm nhận " chính là để các em"tán". Em nào biết “tán” là đạt. Bộ lại đi sâu vào các chi tiết tác phẩm, theo kiểu tiả tót câu chữ, mà không dựa trên những lý thuyết văn chương, lý thuyết phê bình mới để đặt ra những vấn đề giúp học sinh có những khám phá mới về tác phẩm . Hơn thế đề ra vẫn rất xa rời với đời sống văn học đương đại, mà ở đó, đang có nhiều vấn đề cần có y kiến chung của xã hội, cần cho các em có y kiến ( thí dụ hiện tượng văn chương sex bẩn chẳng hạn : Bóng Đè, I'm Đàn Bà, Dại Tình , Sợi Xich..)
Tôi nghĩ Bộ cần nghiên cứ kỹ hơn về yêu cầu của một đề thi, về cách ra đề môn Ngữ Văn, về mục đích giáo dục mà môn Văn cần đạt tới qua đề thi. Xin đừng ảo tưởng về đề “mở”, đề đòi hỏi học sinh “sáng tạo”. Những kiểu đề ấy dành cho luận văn tốt nghiệp Đại Học, luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ. Và ngay cả những luận văn ấy, cũng không ít sự sao chép, “ăn cắp” văn của người khác. Không biết thầy cô dạy Văn và học sinh Phổ Thông học Văn còn khổ vì thi cử đến bao giờ?
Tháng 7.2010
Bùi Công Thuấn
Đề Văn thi ĐH khối D năm nay đọc có vẻ hay nhưng thực chất là quá sức học sinh. Bởi học sinh làm bài thi như làm bài đánh đố.
Bấy lâu nay người ta hay nói đề khái niệm đề “mở” , khái niệm khuyến khích sự sáng tạo của học sinh trong bài làm thi Đại Học. “Mở” và “sáng tạo” là biện pháp chống học vẹt, học thuộc lòng, điều ấy đúng. Nhưng trong thực tiễn, đại đa số học sinh học Văn chỉ có khả năng hiểu và học thuộc lòng. Trong một 100 học sinh , khó tìm thấy một em có khả năng đọc tác phẩm và tìm ra những kiến giải mới hơn với SGK và sách tham khảo. Bởi vì SGK và sách tham khảo được các giáo sư, tiến sĩ , thạc sĩ văn chương, những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp viết, làm sao trí não non nới của các em sánh được với những bộ não chuyên nghiệp ấy mà đòi các em “sáng tạo “? Năng lực viết của các em cũng hạn chế, vì các em phải học tới 10 môn, Văn không phải là môn chính để các em dành nhiều thì giờ rèn luyện.Vậy ra đề ”mở” cho đại trà 100% học sinh “sáng tạo” là một điều không tưởng. Tôi có cảm giác Bộ có kỳ vọng biến bài làm của các em thành bài tham luận trong các kỳ hội thảo Văn học chăng? Chỉ trong các hội thảo, người ta mới cố gắng tìm kiếm những ý tưởng mới.
Vì người soạn đề “mắc kẹt” trong ý niệm không tưởng ấy, nên đề Văn thực sự đẩy các em vào trạng thái “bó tay” khi làm bài, và lối thoát duy nhất là “tán “ để may ra được điểm nào hay điểm ấy.
Xin đọc đề Ngữ Văn khối D
Câu III.b. Theo Chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “bát cháo hành ” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí
Phèo (Chí Phèo – Nam Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật
Từ dành sẵn cho Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
Dạy và học tác phẩm văn học thầy và trò cần nắm chắc các yếu tố cấu trúc của tác phẩm, đó là cốt truyện, nội dung, chủ đề, nhân vật, bút pháp, phong cách. Phân tích kỹ các yếu tố này đã không đủ thời gian. Không thầy cô nào có thì giờ để đi sâu vào từng chi tiết. Chỉ những nhà nghiên cứu chuyên sâu, có thì giờ, tỉ tê nghiền ngẫm, mới có thể phát hiện chi tiết truyện và giá trị các chi tiết ấy. Nếu ra đề mà nhắm vào các chi tiết thì đó là một hình thức đánh đố.
Thí dụ, trong truyện Chí Phèo, nhân vật Chí Phèo cười mấy lần, ý nghiã nội dung và nghệ thuật của tiếng cười ấy? Thí dụ, trong truyện Vợ Nhặt, nhân vật bà cụ Tứ khóc mấy lần ? Thí dụ, trong Chữ Người Tử Tù làm sao sáu người tù có thể mang trên cổ một cái gông nặng đến bảy tám tạ? Thí dụ , trong truyện Rừng Xà Nu, khi Tnú về thăm làng, tại sao tác giả lại đặc tả bàn tay cụ Mết như cái kềm sắt trên vai Tnú? …Ra như thế là đánh đố, không phải kiểm tra năng lực đọc tác phẩm và kỹ năng làm bài của học sinh. Ra đề đến những chi tiết hiểm hóc như thế thì đâu còn là đề “mở”. đâu còn là khuyến khích sự”sáng tạo” của học sinh !
Xin đọc đề Ngữ Văn khối C:
Câu III.a Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau :
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11,
Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39)
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
(Tràng giang – Huy Cận, Ngữ văn 11,
Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 29)
Phần đặt vấn đề của câu hỏi này rất lơ lửng và không đúng nguyên tắc ra đề.
Trong phân môn Tập làm Văn ở PTTH không có kiểu bài nào là kiểu bài “cảm nhận “ cả. Cảm nhận là gì ? có thể hiểu là cảm xúc và nhận thức (tức là khi đọc hai đoạn thơ ấy, học sinh có cảm xúc gì, và nhận thức, suy nghĩ điều gì), Cảm nhận nghiêng về nhận thức cảm tính, quen được gọi là cảm thụ. Đã là cảm tính thì không còn khách quan. Học sinh muốn tán thế nào cũng được. Đề yêu cầu viết cảm nhận thì học sinh phải viết ý kiến riêng của cá nhân, 100 em 100 ý. Sẽ có những ý kiến hoàn toàn trái ngược với đáp án. Vậy GK có cho điểm sáng tạo không, hay vẫn theo đáp án bắt buộc ?
Cứ cho rằng học sinh biết viết cảm nhận thì yêu cầu của đề là gì ? “Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau “ là một câu văn lơ lửng. Cảm nhận về cái hay cái dở cuả hai đoạn thơ, cảm nhận về hình tượng thơ, cảm nhận về bút pháp, thi pháp, nghệ thuật ngôn từ của hai đoạn thơ hay về phong cách của hai tác giả? hay phải viết về tất cả những thứ ấy, hay chỉ nói cái khoái cảm khi đọc hai đoạn thơ ầy ?! Học sinh phải viết mỗi đoạn thơ thành một bài riêng hay phải so sánh đối chiếu, chỉ ra đoạn thơ nào hay hơn đoạn thơ nào, chỉ ra sự khác biệt giữa hai đoạn thơ…
Rõ ràng cách đặt vấn đề như thế là hết sức “mở” theo kiểu lơ lửng, đánh đố học sinh ? Còn đâu tính khoa học, tính giáo khoa của một đề thi? Những học sinh đã được “luyện “ thì biết rằng đề yêu cầu phải phân tích riêng từng khổ thơ, sau đó so sánh, lý giải sự giống nhau và khác nhau của hai khổ thơ, hai tác giả và trình bày cảm nghĩ riêng của cá nhân. Những điều ấy được hiểu ngầm đằng sau câu chữ, học sinh phả đoán ra, lần ra. Như vậy không là đánh đố học sinh hay sao.Câu đặt vấn đề cần phải tường minh và xác định rõ yêu cầu kiến thức, kỹ năng Bộ cần kiểm tra đánh giá là gì. Đề ra “lơ lửng”, đánh đố, không phải là đề “mở”.
Xin đọc đề nghị luận xã hội khối D:
Câu II.
Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhóang.Từ ý kiến trên anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống.
Để làm được đề này, học sinh phải hiểu đạo đức thật là gì, từ đó mới biết đạo đức giả. Nhưng khổ một nỗi trong nhà trường ( môn Ngữ Văn ) không dạy cho các em đạo đức thật là đạo đức gì. Đó là đạo đức phong kiến Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Công, Dung, Ngôn, Hạnh, hay đạo đức cách mạng "trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng "? Cả hai thức đạo đức này đã rất xa lạ với thứ đạo đức của nền kinh tế thị trường, đạo đức của chủ nghiã cá nhân và chủ nghiã thực dụng .Vậy các em sẽ làm thế nào ? Những vấn đề như thế vượt quá sức hiểu của các em. Thay vì dựa trên những kiến thức chuẩn xác và thực tiễn cụ thể (điều này các em không được dạy), các em sẽ chỉ tán liều để lấy 1 điểm. 100% các em sẽ làm bài như vậy. Bộ GD-ĐT sẽ đánh giá được gì về nhận thức và năng lực của học sinh qua một đề thi như vậy.
Xin đọc Chiếc Thuyền Ngoài Xa cuả Nguyễn Minh Châu. Khi thấy nhân vật người đàn bà bị chồng bạo hành, nhân vật Phùng xông vào đánh người đàn ông chài để bênh vực chị. Nhân vật Đẩu định đưa chị ra toà ly dị chồng để giải thoát cho chị. Theo quan điểm đạo đức bình thường thì đó là những hành động tốt. Thế nhưng kết quả thì ngược lại, Phùng bị thằng Phác thù ghét và cả Phùng và Đẩu đều bị người đàn bà chài chê là kém hiểu biết. Đâu là tốt, xấu? đâu là đạo đức thật ?
Xin đọc Một Người Hà Nội cuả Nguyễn Khải. Trong khi những người con Hà Nội ra đi chiến đấu, thì ở nhà, tháng nào bà cô Hiền cũng tổ chức tiệc tùng họp mặt những người bạn quý tộc, để được sống phong cách quý tộc . 660 người con Hà Nội ra đi, còn lại trên dưới 40 người trở về. Người lính sống sót (Dũng) trở về thăm nhà khi bà cô Hiền đang tiệc tùng, họ xa lạ như người dưng. Một ông già hỏi “ Đồng chí bộ đội có chuyện gì vui kể nghe nào “. Bộ đội chỉ có chuyện chiến đấu và hy sinh. Đó đâu phải là chuyện góp vui cho những ông bà quý tộc trong tiệc tùng ăn chơi. Giưã nhân vật mẹ cuả Tuất có con hy sinh và bà cô Hiền sống hưởng thụ, Nguyễn Khải ca ngợi ai ? Nguyễn Khải gọi bà cô Hiền là hạt bụi vàng cuả Hà nội. Vậy bà cô Hiền đúng, hay bà mẹ Tuất có con hy sinh là đúng? đâu là đạo đức thật và đâu là đạo đức giả trong sự ca ngợi của Nguyễn Khải?
Hai tác phẩm trên dạy cho học sinh đạo đức gì ?Thực dụng chủ nghiã như bà cô Hiền, hay cam chịu nhẫn nhục như người đàn bà chài? Dạy cho học sinh sự khôn ngoan cơ hội chủ nghiã cuả bà cô Hiền hay dạy cho học sinh chấp nhận thói vũ phu của nam giới ? Đâu là đạo dức thật, đâu là đạo đức giả? Đâu là thực tiễn học tập của học sinh và đâu là sự không tưởng của người ra đề?
Quả thực, đề ra chẳng khác gì đánh đố học sinh vậy.
Xem xét đề khối D, Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận anh/chị về đoạn thơ sau:
những tiến đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo chòang đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vần trăng chếnh chóang
trên yên ngựa mỏi mòn
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hòang
áo chòang bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
(Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo, Ngữ văn 12,Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 164-165)
Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được viết bằng bút pháp siêu thực, nhiều hình ảnh siêu thực rất khó giải mã đúng. Hoc sinh chưa hiểu chủ nghiã siêu thực là gì, chưa được tiếp cận nhiều với nghệ thuật siêu thực làm sao các em có thể hiểu được thấu đáo hình tượng thơ. Mỗi học sinh lại có thể có những liên tưởng khác nhau khi giải mã ngôn ngữ thơ . Ở trường Phổ Thông, mỗi thầy cô cũng liên tưởng và giảng rất khác nhau. Nhiều hình ảnh không hiểu đành phải “lờ đi”. Ra đề vào một tác phẩm chưa có sự thống nhất chuẩn kiến thức , có khác nào thả các em giữa biển cho các em bơi. Dù có bơi (tán) giỏi thế nào, giữa biển khơi , không có gì bám víu, trước sau cũng chết chìm.
Để làm được câu so sánh hai đọan thơ trong Tràng Giang và Đây Thôn Vĩ Dạ (khối C), các em phải biết thi pháp của hai bài thơ ấy, biết phong cách của hai tác giả thì mới có thể làm được. Cụ thể ,đoạn thơ của Hàn Mặc Tử có những yếu tố của bút pháp siêu thực, đoạn thơ của Huy cận đậm đặc thi pháp cổ điển Đường Thi. Những kiến thức ấy với học sinh phổ thông là chưa thể vươn tới được.
Cũng vậy, câu cảm nhận về hai đoạn văn của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường (khối C), học sinh trước hết phải nắm được phong cách mỗi tác giả, và phong cách ngôn ngữ văn bản mới có thể làm tốt. Thế nhưng sách giáo khoa nói rất sơ sài về phong cách mỗi tác giả. Kiến thức về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân vẫn còn tranh cãi, các em có kiến thức đâu để làm bài?
Nói rằng đổi mới trong cách ra đề, thực chất Bộ vẫn loay hoay tìm cách đánh đố học sinh, đẩy các em phải đến các lò luyện thi. Vì ở đó chỉ có thầy cô dạy luyện thi mới “giải mã” giúp các em biết nghệ thuật đánh đố của người ra đề. Đề yêu cầu các em viết "cảm nhận " chính là để các em"tán". Em nào biết “tán” là đạt. Bộ lại đi sâu vào các chi tiết tác phẩm, theo kiểu tiả tót câu chữ, mà không dựa trên những lý thuyết văn chương, lý thuyết phê bình mới để đặt ra những vấn đề giúp học sinh có những khám phá mới về tác phẩm . Hơn thế đề ra vẫn rất xa rời với đời sống văn học đương đại, mà ở đó, đang có nhiều vấn đề cần có y kiến chung của xã hội, cần cho các em có y kiến ( thí dụ hiện tượng văn chương sex bẩn chẳng hạn : Bóng Đè, I'm Đàn Bà, Dại Tình , Sợi Xich..)
Tôi nghĩ Bộ cần nghiên cứ kỹ hơn về yêu cầu của một đề thi, về cách ra đề môn Ngữ Văn, về mục đích giáo dục mà môn Văn cần đạt tới qua đề thi. Xin đừng ảo tưởng về đề “mở”, đề đòi hỏi học sinh “sáng tạo”. Những kiểu đề ấy dành cho luận văn tốt nghiệp Đại Học, luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ. Và ngay cả những luận văn ấy, cũng không ít sự sao chép, “ăn cắp” văn của người khác. Không biết thầy cô dạy Văn và học sinh Phổ Thông học Văn còn khổ vì thi cử đến bao giờ?
Tháng 7.2010
Thứ Ba, 13 tháng 7, 2010
CÔ GÁI BỊ BỊNH CÙI THOÁT Y DƯỚI TRĂNG

Bùi Công Thuấn đọc văn trẻ
THOÁT Y DƯỚI TRĂNG
Tiểu thuyết của Thuỷ Anna. NXB Văn Học 2010
Văn chương Việt đăng ngày 12/7/2010
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=13253&LOAIID=28&LOAIREF=1&TGID=743
“Bóng trăng đổ ập xuống căn nhà rất sớm. Di tắm trần như nhộng dưới bóng trăng nhễ nhại, cảm giác đau đớn và bỏng rát khi dội nước lên cơ thể đang nổi mần đỏ. Dường như trăng càng sáng nỗi đau đớn hành hạ Di dữ hơn. Cô lăn lộn dưới trăng như con sói hoang lăn lộn giữa rừng già cô độc”(tr.148). Đó là hình ảnh Di sau khi cô phát hiện ra mình bị phong cùi. Và chỉ một thời gian ngắn ngủi sau đó linh hồn Di tan vào ánh trăng. Hình ảnh cô gái thoát y dưới trăng có ý nghiã gì ?
Thoát Y Dưới Trăng (TYDT) kể lại số phận của ba nhân vật Di, Mạnh và Mây. Di lên 10 thì bố bị lò gạch sập đè chết. Mẹ Di phải chịu đựng kiếp đời tủi nhục làm đĩ nuôi con. Mẹ Di chết vì lây bịnh Sida của người tình là một con nghiện. Số phận dun rủi, Di phải nuôi con người anh họ can tội giết vợ ngoại tình và cưu mang thêm đưá bé bị bỏ rơi trong bụi rậm. Công việc chuyển cá từ thuyền lên xe không đủ tiền nuôi hai đưá bé, Di phải bán mình cho Lão Độ lấy 6 triệu. Sau đó, để có thể nuôi con, Di lại làm lẽ lão Hồng 3 năm, với điều kiện có con cho lão. Nhưng lão vô sinh. Di thoát được tay lão trở về nhà xưa. Để làm được giấy khai sinh cho con, Di phải ngủ với lão trưởng phòng. Một sáng sớm tập thể dục trên bãi biển, Mây quen với Di. Mây có mẹ là bác sĩ viện trưởng một bệnh viện tư, cha là PGĐ Cty Xuất nhập khẩu Tranh đá mỹ nghệ. Từ lúc học lớp 10 cô đã ăn chơi thoải mái. Mây ăn ở với Mạnh cho đến khi anh chán cô. Mạnh là PGĐ CyTNH. Xuất thân từ một trẻ mồ côi, thuở nhỏ Mạnh cũng phải chứng kiến cảnh mẹ làm đĩ nuôi con. Lớn lên Mạnh sống với băng nhóm trẻ bụi đời, rồi nhờ thời cơ mà phất lên. Khi biết Mây giao du với nhiều người, Mạnh cho bọn đàn em xử Mây, nhưng không ngờ Mậy lại bị làm nhục như vậy. Di đã cứu Mây. Bà viện trưởng xử lý cái thai cho con và cho Mây sang Hàn Quốc lánh mặt mấy tháng. Mạnh bị đột quỵ sau một đêm uống rượi và lo lắng. Bọn đàn em thuê Di làm ôsin chăm sóc Mạnh. 4 tháng sau Mạnh hồi phục. Di lại trở về ngôi nhà xưa cuốc đất trồng rau nuôi con. Cô bị lây bịnh cùi do bốc mộ thuê cho môt bà già cùi. Mạnh tịnh tâm ở chuà một tháng rồi đi tìm Di. Hai người bày tỏ tình yêu. Đám cưới được tổ chức khi máu trên các vết thương cùi của Di chảy ròng ròng. Mây có đến dự đám cưới nhưng không vào. Nhìn Mạnh dìu Di, Mây tha thứ cho Mạnh. Di ra đi trong vòng tay tình yêu của Mạnh.”Di đã tìm thấy hạnh phúc ở chặng đường ngắn ngủi trong cuộc đời “(tr169)
Thuỷ Anna nói về chủ đề của tác phẩm :” Đây là cuốn tiểu thuyết viết về những người trẻ. Ba nhân vật của em bao gồm Di, Mạnh và Mây. Ba nhân vật này có công việc và hoàn cảnh sống hoàn toàn khác nhau nhưng có điểm chung là họ đều bị gạt ra ngoài xã hội, ước mơ khao khát rất bình thường thôi là gia đình rất bình thường, không phải to tát nhưng họ vẫn không đạt được ước mơ nhỏ bé ấy.
Thuỷ Anna nói về thông điệp tác giả gửi đến người đọc qua tác phẩm : Đó là khát khao mãnh liệt của con người để vượt qua được bế tắc, khổ đau của cuộc đời nhằm đạt được hạnh phúc. Thân phận con người trong "Thoát y dưới trăng" hơi bi đát một chút, hơi cay đắng một chút nhưng điều em muốn mang đến cho độc giả là có những thân phận cực kì bất hạnh và cay đắng trong cuộc đời vốn tươi đẹp này. Vì thế những người trẻ phải luôn biết trân trọng những thứ nghiêm ngắn mà mình đang có.(1)( Hồn Nhiên phỏng vấn Thuỷ Anna)
Vấn đề là ở chỗ nhà văn đã xây dựng tác phẩm như thế nào đề thể hiện nội dung và chủ đề, tư tưởng trên? Sự thành bại của tác phẩm tuỳ thuộc vào tài năng xây dựng được những hình tượng tư tưởng có sức thuyết phục.
Với nội dung và chủ đề như vậy, tác phẩm đã giúp người đọc nhìn thấy chung quanh mình đang có những số phận phải sống trong hòan cảnh khốn nạn đáng được cảm thông, chia sẻ. Tác phẩm toát lên tình cảm nhân đạo đáng trân trọng.
Xét về nghệ thuật tiểu thuyết, Thoát Y Dưới Trăng có nhiều vấn đề cần được trao đổi.
Trước hết là văn báo chí lấn át văn tiểu thuyết. Ít nhất là 100 trang đầu, người đọc truyện có cảm giác như mình đọc một bản tin báo chí, tuy có tường thuật chi tiết hơn một chút. Đó là những bản tin đã cũ nhàu mà người đọc gặp trên báo hàng ngày. Dường như tác giả chưa phân biệt được đặc trưng phong cách văn báo chí và đặc trưng thể loại tiểu thuyết (?). Báo chí thuật lại một tin, một sự việc đã xảy ra. Tác giả là người hiện diện trực tiếp để tường thuật; còn tiểu thuyết là dựng lại dòng chảy cuộc sống ở thì hiện tại. Cuộc sống trong tiểu thuyết hiện lên như cuộc sống thực đang diễn ra trước mắt người đọc. Kỹ thuật dựng truyện của tiểu thuyết và cách viết một bài báo là hoàn toàn khác nhau.
Xin đọc một đoạn :” Ôi cuộc đời! Mây nghĩ thầm. Ở nhân gian này vẫn còn những ông bố bà mẹ như vậy. Kẻ thì ôm con nhễ nhại đi ăn xin, kẻ thì bán trinh con gái lấy tiền đánh bạc, kẻ thì giết con vì ghen tuông. Tội ác nào cũng có thể bỏ qua, nhưng riêng tội ác hắt hủi giọt máu của mình thì thật đáng tống xuống địa ngục”(tr/53) . Đây là một đoạn văn trong một bài nghị luận của học trò. Đoạn văn có cấu trúc lập luận diễn dịch. Câu chủ đề ở đầu đoạn, sau đó là những dẫn chứng cụ thể và phần bày tỏ cảm tưởng. Câu “Mây nghĩ thầm” có thể bỏ đi mà không ảnh hưởng đến nội dung đọan văn. Hoặc có thể thay tên Mây bằng bất cứ ai, kề cả bằng đại từ nhân xưng Tôi. Xin đọc một đoạn nữa, đoạn thuật lại Di có ý định cứu đưá bé :” Mỗi bước chân cô đi cô không ngớt cầu trời phù hộ cho đưá trẻ bất hạnh . Đưá bé đáng thương hơn cả cuộc đời của cô, nó chẳng biết cha mẹ nó là ai? Vì sao sinh ra nó mà không yêu thương nó. Cô đứng lại một giây…” . Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba “cô” chỉ ra, đó là một đoạn trần thuật, không phải đoạn miêu tả cuả văn tiểu thuyết.
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ hình tượng biểu cảm, ngôn ngữ đa nghiã và mang phong cách cá nhân, không phải kiểu ngôn ngữ trung tính của báo chí. Trong TYDT, tác giả như một khách thể thuật truyện về người khác ở ngôi thứ ba (chẳng hạn, đại từ cô ở trên và câu : lồng ngực bà mẹ thanh tân căng tròn.tr35 ); Chính vì thế cách viết của Thuỷ Anna làm giảm mất nhiều hứng thú khi người đọc tiếp cận tác phẩm. Những chuyện về trẻ bụi đời, về con nhà giàu hư hỏng là chuyện thời sự, báo chí đã nói quá nhiều. Tính thời sự trong Thoát Y Dưới Trăng lấn át tính tiểu thuyết.
Dường như có sự lung túng trong chọn lựa bút pháp, khiến cho tác phẩm khập khiễng khó đứng vững. Ở phần đầu (tr.01-156) là bút pháp hiện thức. Thuỷ Anna nói về những cảnh đời thực, bằng những dòng tả chân, nhưng ở phần sau lại chuyển hoàn toàn sang bút pháp lãng mạn. Cuộc kết hôn của hai bút pháp này không cứu rỗi được ngòi bút Thuỷ Anna. Cuộc sống làm đĩ cuả mẹ Di và mẹ Mạnh, cuộc đời dưới đáy của Di và Mạnh, cuộc sống ăn chơi con nhà giàu của Mây là hiện thực. Vấn đề là , bức tranh xã hội Thuỷ Anna vẽ ra chẳng khác bức tranh xã hội trước 1945. Di phải bán mình cho lão Độ, phải làm lẽ lão Hồng, phải ngủ với trưởng phòng, xung quanh Di không có ai là người lương thiện, cuộc sống không có chỗ cho Di làm người, ngoại trừ làm con vật, con đĩ…Chẳng nhẽ xã hội VN những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI lại đen tối, bi đát đến thế sao?
Cuối tác phẩm Thuỷ Anna để cho Mạnh lên chuà tịnh tâm một tháng, sau đó tìm đến Di. Lúc này đã ở trong trại cùi, cơ thể đang bị tàn phá dữ dội. Hai người yêu nhau trong đêm trăng và làm đám cưới trong khi cùi tay của Di máu chảy ròng ròng. Di chết trong hạnh phúc tình yêu. Tác giả có thể an ủi Di bằng cách kết như vậy. Nhưng tôi nghĩ, những cảnh như thế chỉ có thể diễn trên sân khấu cải lương (nghệ thuật ước lệ). Trong đời thực đó là những tưởng tượng hão. Tiểu thuyết không thể bẻ cong quy luật khách quan của hiện thực, dù tác giả có viết bằng bút pháp lãng mạn.
Như vậy tác phẩm không có sư thống nhất về bút pháp, phần đầu là bút pháp hiện thực, phần sau là bút pháp lãng mạn, điều này làm mất đi khả năng thể hiện chủ đề của tác phẩm. Với bút pháp hiện thực, tác giả phải đặt được vấn đề và chỉ ra con đường gỉai quyết vấn đề. Nghệ thuật hiện thực là nghệ thuật góp phần cải tạo xã hội. Thạch Lam, dù là một nhà văn lãng mạn cũng nhận thức được yêu cầu này :”Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên ; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vưà tố cáo vừa thay đổi một cái thế giới gỉa dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn “(Lời tựa Gío lạnh Đầu Mùa). Rõ ràng thế giới mà Thuỷ Anna miêu tả là một thế giới giả dối và tàn ác, thế nhưng cách giải quyết vấn đề của tác giả lại duy tâm. Giải pháp ấy là gì ? cả Di và Mạnh đều nói đến chữ TÂM của Phật giáo. Một tay anh chị như Mạnh, một tay Phó Giám Đốc công ty như Mạnh thì không thể có chuyện vào tu trong chùa, và sau đó lại lấy một người vợ cùi! Chính Thuỷ Anna cũng nghi ngờ giải pháp của mình. Mạnh nhìn con thạch sùng trên tường và tự hỏi về con đường của mình ”Phật dạy rằng : Biển cả vô biên, quay đầu lại là bờ. Vậy sao gã này khổ thế “(tr.171). Mạnh đã quay đầu lại con đường lương thiện (?) sao không thấy bến bờ hạnh phúc ? Câu trả lời có thể là : Những vấn đề xã hội đòi hỏi phải giải quyết bằng các giải pháp xã hội, không thể chỉ giải quyết bằng chữ TÂM như cách đề xuất của tác giả.
Nhưng TÂM là gì trong cách hiểu của Thủy Anna?
Sau ba năm làm lẽ ở nhà lão Hồng, về nhà, đêm đầu tiên không phải làm nô lệ tình dục, Di ngồi bàng hoàng không tin được những gì cô đã trải qua. “Đôi mắt Di sáng lên, ánh sáng ở tâm, con đường cũng ở tâm “(tr.120) Phải chăng Di đã “ngộ” ra được điều gì ? Tâm của Di là gì? Con đường của Di là con đường nào? Còn Mạnh ? Nhờ đâu Mạnh có thể trở nên giàu có? Sao Mạnh lại xử ác với Mây? Khi ở trong chùa, Mạnh nghĩ :” Thánh nhân cũng là người, kẻ phàm trần cũng là người, Phật tại tâm”(tr.116) Khi “xuống núi” anh hay nói đến lòng vị tha :”Chẳng lẽ trải qua đau thương con người biết vị tha và sống vì người khác”(tr156).Còn Mây ? Mây là nạn nhân của chính cô. Mây chưa có ý thức xã hội, chưa có ý một tráo tim biết sám hối, sao Mây có thể đến gặp Mạnh nói lời tha thứ :” Cách duy nhất để em quên đi quá khứ buồn là học cách tha thứ. Chính vì vậy em quyết định tha thứ cho anh “( 153). Tất cả những điều Thuỷ Anna miêu tả trên, có lẽ đều là TÂM, là tấm lòng từ bi hỷ xả, biết hướng về người khác và sống yêu thương. “…tình yêu không có chỗ cho nỗi đau đời và sự thù hận “(tr.170) . Kềt thúc tác phẩm là hạnh phúc nồng ấm của tình yêu, hạnh phúc ấy lớn lao đến nỗi có thể làm tan đi những đớn đau máu chảy ròng ròng từ thân xác Di, xoá sạch những vết ô nhục và những nỗi hận thù trong tâm hồn Mây. Chữ TÂM đã sáng lên giữa đêm tối của đau thương và tội ác. Phải chăng Thuỷ Anna muốn xây dựng tác phẩm của mình thành tác phẩm tư tưởng? Nếu quả có ý thức sáng tạo này thì đây là một ý hướng tốt, tuy nhiên trong TYDT tác giả chưa thực hiện được. Đó chỉ là cách chọn lựa miễn cưỡng khi tác giả bế tắc trước phút pháp hiện thực. Máu, nước mắt, bất công, cái ác vẫn sừng sữ đó. Lão Độ, lão Hồng, lão trưởng phòng vẫn nhở nhơ ? còn sự đau đớn khôn cùng của bịnh cùi Di phải chịu là vì ai? Vì cái gì ? Hai đưá con của Di vẫn bơ vơ trôi dạt không biết về đâu, người đọc nhói tim nếu hai đứa trẻ ấy lặp lại số phận của mẹ nó!
Thoát Y Dưới Trăng thất bại trong việc lý giải những vấn đề xã hội, vậy tác phẩm còn lại điều gì ? Người đọc dễ nhận ra thái độ cảm thông, bênh vực của tác giả với những người đàn bà vì hoàn cảnh mà phải làm đĩ nuôi con (mẹ Di. Mẹ Mạnh và Di). Tuy nhiên ngay cả tình cảm nhân đạo ấy cũng không có cơ sở để đứng vững. Nếu cho điều ấy là đúng thì ngày nay những cô gái chân dài, những diễn viên, ca sĩ làm gái gọi, đi tour, họ có vì hoàn cảnh đói nghèo và bức bách đến nỗi không thể làm gì khác ngoài việc bán thân ? Câu trả lời sẽ là khác với điều Thuỷ Anna đã đặt ra. Việc miêu tả quá nhiều lần cảnh người mẹ làm đĩ trước mặt con (Di và Mạnh ) là sự cố ý lộ liễu. Không người mẹ nào lại làm chuyện tồi bại đó trước mặt con và không người con nào khi chứng kiến những cảnh thú vật như thế lại có thể tha thức cho mẹ được. Thử hỏi,trong những hoàn cảnh đói nghèo và chiến tranh ác liệt nhất suốt 30 năm kháng chiến (1945-1975), có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam chọn nghề làm đĩ nuôi con ? Hơn thế, mẹ của Di, mẹ của Mạnh còn tìm thấy hạnh phúc trong công việc hoàn toàn bản năng ấy. Khi đẩy vấn đề lên tầm khái quát, Thuỷ Anna đã đặt vấn đề một cách võ đoán, ngay cả đó là hư cấu cũng không thể chấp nhận được.
Sự bênh vực, cảm thông với những người phụ nữ phải bán thân để nuôi con là đáng qúy, nhưng vấn đề là giải pháp nào để giúp họ thoát ra khỏi cảnh ô nhục đó ? Tác giả không có câu trả lời, bởi vì tác phẩm đã cô lập hoá nhân vật, không đặt họ trong một bối cảnh lịch sử cụ thể nào. Các tổ chức đoàn thể Nhà Nước, các tổ chức từ thiện xã hội, các chính sách xoá đói giảm nghèo…đều có thể giúp đỡ họ được. Vậy mà tác giả lại miêu tả xung quanh các nhân vật của mình chỉ có caí xấu, cái ác và bóng tối. Điều này làm sao có thể thuyết phục được người đọc ?
Thoát Y Dưới Trăng cũng có nhiều hạn chế về kỹ thuật dựng tiểu thuyết.
Đó là những trang văn xô bồ, ít chất văn chương. Nhiều câu chữ còn rất thô, thiếu sự tinh tế của tiếng Việt, dùng từ sai ngữ pháp, dùng từ không đúng nghiã, lặp từ vụng về.
Thí dụ
“Là một bác sĩ, bà nghĩ rằng, sẽ vô hiệu hoá nếu dùng lửa dập lửa”(tr.112). Chữ vô hiệu hóa dùng không đúng cách về ngữ pháp. Vô hiệu hoá là một động từ, đòi buộc sau nó phải là một tân ngữ. ( thí dụ : vô hiệu hoá âm mưu khủng bố )
“Tất cả những tiềm thức ấy trôi đi rất nhanh, nó giống như một thước phim mà được quay khi đang cưỡi ngựa”(tr.92) Trong mỗi bộ não người chỉ có một vùng tiềm thức, không thể có những tiềm thức. Hơn nữa, tiềm thức là một danh từ không đếm được, không thể đặt Lượng từ những đứng trước.
“Di biết rất rõ rằng, cuộc sống phải luôn luôn chấp nhận sự thay đổi để thích nghi với cuộc sống mà mình đang có”(tr.131). Trong một câu mà dùng hai lần chữ cuộc sống, chứng tỏ khả năng diễn đạt không phong phú nếu không nói là vốn từ của tác giả rất nghèo.
Ngôn ngữ nhân vật chưa được cá thể hoá, vì thế nhân vật không có cá tính. Tác phẩm chỉ có một giọng của tác giả. Di, Mây, Mạnh có cùng một giọng điệu, cùng một kiểu nói năng. Hình ảnh Mây hoàn toàn là sự áp đặt chủ quan, cách nhìn phiến diện có phần méo mó của tác giả đối với thế hệ học trò phổ thông. Thuỷ Anna đặt vào miệng Mây, cô học trò lớp 10 mới 17 tuổi, lời khẳng định này : “Ở lớp em, các bạn sống thử với nhau lâu rồi. Đã yêu nhau thì phải yêu đến tận cùng chứ” (tr 97), và miêu tả lối sống của Mây :“hàng xóm láng giềng cứ xì xèo về chuyện cô Mây hay về nhà rất muộn, có các chàng công tử nhìn phong lưu mã thượng, có xe ô tô đưa đón đi về. Mà cứ dăm bữa, nửa tháng lại thấy cô Mây thay người khác “(tr.45). Có thể có trong đời thực một cô học trò như thế, nhưng không phải là tất cả. Sự áp đặt này là chủ ý điển hình hoá hay do năng lực thâm nhập thực tế và khả năng tiểu thuyết hoá của Thuỷ Anna còn hạn chế ? Cũng có thể là do cách viết trình thuật báo chí, nhân vật tôi (tác giả) quán xuyến tất cả (?).
Yếu tố thời gian trong Thoát Y Dưới Trăng cũng rất lỏng lẻo, nếu không nói là không logic với cốt truyện. Thời gian trong TYDT là thời gian thực, không phải là thời gian tượng trưng hay thời gian nghệ thuật. Truyện được kể theo thứ tự thời gian : một ngày, một tuần, một tháng, hai tháng mười ngày, một năm, ba năm, nhưng hành động của hai nhân vật lại diễn ra trong một thời gian so le. Di đi làm vợ lẽ cho Lão Hồng ba năm trở về nhà, Mây đi Hàn Quốc ba tháng về, hai người gặp nhau. Mây cho quà con của Di. Người đọc có cảm giác ba năm làm lẽ của Di xảy ra cùng một lúc và bằng với 3 tháng đi Hàn quốc của Mây. Nhiều cảnh đang từ hiện tại, nhân vật hồi tưởng quá khứ sau đó không thấy trở về hiện tai, hoặc người đọc không rõ đâu là thời gian tiểu thuyết (thời gian sự việc đang diễn ra ở hiện tại)?
Thoát Y Dưới Trăng lấy nguyên văn ý tưởng và cách thể hiện cuả I’m Đàn Bà (Y Ban ) ở đoạn tả Di làm ôsin cho Mạnh, giúp Mạnh hồi sinh, sau đó chung đụng xác thịt với Mạnh, làm nảy nở tình yêu (tr.130-139) . Việc lấy ý tưởng của người khác là không nên (tôi không tin rằng Thuỷ Anna không biết I’m Đàn Bà của Y ban), vì sẽ tạo ra sự ngộ nhận nơi người đọc và lộ ra sự hạn chế trong năng lực sáng tạo của tác giả. Ai cũng hiểu rằng, năng lực sáng tạo là một tố chất quyết định tài năng của nhà văn.
Tôi cứ băn khoăn điều này, phải chăng tác giả bắt Di phải đi con đường số phận do mình hư cấu ? Bỗng dưng người anh dẫn con về và bỏ trốn vì tội giết vợ, rồi bỗng dưng có đưá trẻ bị bỏ rơi trong bụi rậm, thế là Di phải làm mẹ hai đưá trẻ. Khả năng kiếm sống cũa Di để nuôi hai con trở nên ngặt nghèo, đẩy Di vào con đường bán thân cho lão Độ. Sao Di không đem cháu bé cho tổ chức từ thiện nào ? Chính cái bỗng dưng ấy làm người đọc hoài nghi tính logic hiện thực của cốt truyện. Rồi lại bỗng dưng Di đi bốc mộ cho bà già bịnh cùi, để lây bịnh cùi. Y khoa chỉ ra rằng, bệnh cùi từ lúc nhiễm đến lúc phát là rất lâu, có khi 15-20 năm, vậy mà chỉ mấy tháng thì tay Di đã bắt đầu cụt dần, máu chảy ròng ròng…(ngày nay y khoa đã có thuốc chữa khỏi căn bệnh này).Tất cả những điều như thế đặt một dấu hỏi lớn về tính chân thật nghệ thuật của tác phẩm
Có một chi tiết có thể làm người đọc bình thường rối trí. Đó là, toàn bộ đối thoại của các nhân vật đều không được đánh dấu bằng dấu gạch ngang đầu dòng. Lời đồi thoại được viết liền mạch với lời kể cuả tác giả. Điều này có ý nghiã gì ? Phải chăng viết như vậy, tác giả muốn lưu ý người đọc rằng đó là dòng ý thức của nhân vật, không phải là dòng hiện thực đang diễn ra. Tôi thấy rằng cách viết của Thuỷ Anna chưa đạt tới kỹ thuật “dòng ý thức” của văn chương hiện sinh. Cách trình bày như vậy chỉ làm rối trí người đọc thôi, không mang lại hiệu quả diễn đạt nào.
Trở lại tên truyện Thoát Y Dưới Trăng và đoạn tả cảnh Di tắm trần dưới ánh trăng:”Bóng trăng đổ ập xuống căn nhà rất sớm. Di tắm trần như nhộng dưới bóng trăng nhễ nhại, cảm giác đau đớn và bỏng rát khi dội nước lên cơ thể đang nổi mần đỏ. Dường như trăng càng sáng nỗi đau đớn hành hạ Di dữ hơn. Cô lăn lộn dưới trăng như con sói hoang lăn lộn giữa rừng già cô độc”, tôi đã tra hỏi xem tác giả có ngụ ý gì trong hình ảnh ấy và nhan đề ấy ? Có thể nhận xét của An ninh Thủ đô là một kiến giải.
An ninh Thủ Đô nhận xét thế này : Ngoài lối hành văn truyền thống, biểu cảm, thì ấn tượng đối với “Thoát y dưới Trăng” chính là những… “cảnh nóng” được chị xây dựng trong câu chuyện đầy bản năng nhưng cũng rất con người, đó là những hình ảnh gây xúc động đối với người đọc. (2)
Có thật rằng nhan đề truyện và đoạn tả cảnh trên là chí có dụng ý gây tò mò ? Tôi đã không đọc được ngụ ý gì trong đoạn tả trên, ngoài hình ảnh trần trụi của việc tắm. Nhưng nếu chỉ quy TYDT về còn lại ấn tượng ở những “cảnh nóng”, tôi nghĩ người đọc đã không hiểu đúng những thông điệp cuả tác giả. Có điều, tác giả khai thác nhiều lần đoạn tả cảnh mẹ làm đĩ với khách một cách hoang dã trước mặt con, và sử dụng những hình ảnh tục để tô đậm những cảnh sex sẽ là trái với quy luật sáng tạo nghệ thuật của văn chương.
Xin đọc :” mẹ là người lọc lõi trong tình trường, mẹ kéo khoá quần gã xuống. Di nhìn thấy rõ cái bộ phận đàn ông của gã như con chó con mới đẻ. Mẹ mơn trớn con chó con ấy đến khi gã không chịu được nữa vùng lên và quăng mẹ Di xuống ven đường, lột sạch quần áo, cả cái quần chip mẹ mới mua chiều nay trên phố huyện, trông diêm duá, nửa kín nửa hở. Mỗi nhịp gã thúc mạnh xuống người mẹ Di, lạ thay, mẹ tỏ ra mãn nguyện”(tr.12)
Sẽ chẳng ai tin rằng người mẹ này vì nghèo khổ mà phải làm đĩ nuôi con, như ý định của tác giả trong tác phẩm. Nếu An Ninh Thủ Đô có cho rằng “ấn tượng đối với “Thoát y dưới Trăng” chính là những… “cảnh nóng” được chị xây dựng trong câu chuyện đầy bản năng nhưng cũng rất con người, đó là những hình ảnh gây xúc động đối với người đọc”, thì nhận xét đó có lý của nó, nhưng Tôi không rõ “xúc động” người đọc nhận được qua “cảnh nóng” ấy là xúc động gì? Hay cũng chỉ là “xúc động” bản năng ? Nếu vậy thì cả người viết và người đọc (ANTĐ) chưa hiểu điều này là, con người khác loài vật ở chỗ, con người đã nâng bản năng lên thành văn hoá. Đó là điều đáng tiếc. Tôi nghĩ, có lẽ do mục đích câu khách, hay do “phong trào” viết sex bẩn như một mốt thời trang của tư tưởng giải phóng phụ nữ (kiểu đòi nữ quyền phương Tây) mà Thuỷ Anna chịu ảnh hưởng chăng ? Dù thế nào, Thuỷ Anna đã tỏ ra chưa đủ tự tin trong sự sáng tạo của mình.
Thoát Y Dưới Trăng có được ý tưởng sáng tạo tốt, có những trang văn hay (thí dụ, đoạn tả tâm trạng Mạnh sống trong mộng du, tr.108-116), có khơi gợi được tình cảm nhân đạo nơi người đọc, nhắc nhở người đọc quan tâm đến những con người bất hạnh chung quanh mình. Tác phẩm cũng hé lộ chút ánh sáng bất chợi trong năng lực sáng tạo của tác giả (Thí dụ, đoạn tả giấc mơ của Mạnh với thằng Đỏ - tr.114), điều ấy đem đến cho người đọc hy vọng ở ngòi bút trẻ này
Xin đọc giấc mơ của Di :”Di thấy mình bay bổng trên những chòm sao. Trong giấc mơ của Di, mỗi vì sao giống như một ngôi nhà trong xóm nghèo này, nhưng trên các chòm sao ấy có đầy ắp ánh sáng. Di cầm từng nắm ánh sáng ném vung vãi xuống nhân gian như cô tiên cầm cây đũa thần kỳ ban phát phép màu. Trên cơ thể Di khoác tấm áo màu lụa có gắn đôi cánh bạc lấp lánh, khi khoác đôi cánh ấy trên vai Di có thể bay từ chòm sao này đến chòm sao khác..(tr.107)
Tất nhiên để đạt được thành tựu trong tiểu thuyết, Thuỷ Anna phải vượt qua được cách viết báo chí, đem văn chương vượt lên thời sự ; phải tự tìm kiếm cho mình một bút pháp phù hợp (không phải là sự lắp ghép hiện thực và lãng mạn một cách vụng về như trong TYDT) và phát huy hơn nữa năng lực sáng tạo để không bị ảnh hưởng người khác. Điều ấy cần có thời gian, nỗ lực rèn luyện và sự tìm tòi khổ công. Văn chương bao giờ cũng đền bù xứng đáng cho những khổ công như vậy.
Bùi Công Thuấn. Tháng 7. 2010
_______________________________________________________
(1) http://ca.cand.com.vn/vi-VN/vanhoathethao/guongmat/2010/2/159091.cand
(2) http://tintuc.xalo.vn/00-1824511543/thuy_anna_va_cuon_tieu_thuyet_thu_2.html
Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010
NHẮM MẮT THẤY GÌ ? phêbình văn chương của Bùi Công Thuấn

Bùi Công Thuấn đọc văn trẻ
NHẮM MẮT THẤY PARIS
Tiểu thuyết của Dương Thuỵ. Nxb Trẻ 2010
Dương Thuỵ tên thật là Dương Thụy Phương Khanh, sinh năm 1975 tại Sài Gòn. Tốt nghiệp Thạc sĩ Quản Trị Kinh Doanh Đại Học Liège-Vương Quốc Bỉ. Đã dự nhiều lớp tu nghiệp ở Tây Ban Nha. Vương Quốc Anh và Pháp. Từ 1997 đến 2010 đã in 11 tác phẩm. Nhắm Mắt Thấy Paris (NMTP) được viết với vốn sống của Dương Thuỵ trong quá trình học tập và làm việc của mình. Bối cảnh chính cuả tác phẩm là Paris, thành phố mà tác giả nhiều lần nhắc đến với tình cảm yêu mến. “Bản thân tôi cũng thường nhắm mắt thấy Paris và Paris từ lâu với tôi đã là một chốn đi về đầy yêu thương “(Lời nói đầu)
Câu truyện kể về nhân vật Mai, một Product Manager nhãn hàng cho giới trẻ Fleuroral của công ty L’Aurore ở sàigòn. Dự hội nghị của công ty ở Hong Kong, Mai quen biết với Louis De Lechamps, (Industry Manager), và Daniel Ng. đến từ Singpore, là sếp vùng (Asia Development Director). Cả hai người này đều có cảm tình với Mai khi thấy cô phát biểu ấn tượng trong hội nghị. Sau đó Louis đến Saigòn làm việc, anh tưởng có thể gắn bó với Mai nhưng lại xa Mai. Nhờ tiến cử ngầm cuả Daniel, Mai được sang Pháp tu nghiệp tại trụ sở tập đoàn L’Aurore một năm. Từ đây con đường sự nghiệp của Mai thăng tiến vùn vụt. Cô hội nhập rất nhanh và được Giám đốc nhân sự của tập đoàn đưa vào danh sách manager cao cấp đầy tiềm năng, sẽ làm việc trong môi trường đa quốc gia, đa văn hoá, sẽ được bổ nhiệm vào chức vụ cao cấp của tập đoàn. Nhưng tình địch của Mai là Tuyết Hường (Pink Lady), người làm cùng công ty với Mai ở Sàigòn đã giành mất Louis của Mai. Pink Lady dùng scandal tình dục làm diên đảo công ty L’Aurore : Louis bị đuổi việc, suýt tự tử chết. Sếp Lafatoine tan tành sự nghiệp, thân bại danh liệt. Daniel phải nghỉ việc. Mai đau khổ chia tay với Louis. Sau cùng Mai nhận ra tình yêu của Daniel. Truyện kết thúc vui vẻ trong tha thứ. Mỗi người đều vượt qua tai nạn nghề nghiệp và tìm thấy con đường mới cho tương lai. Mai làm trưởng phòng đại diện cho công ty mỹ phẩm Sunny Hàn Quốc. Lafatoine là giám đốc chuỗi cửa hàng bán túi xách phụ nữ nhập từ Ý. Daniel thành công trong việc mở hàng loạt các cửa hàng ăn uống. Louis đã tìm được việc làm ở Úc. Mai hẹn với Maman Christine se cùng chàng (Daniel) trở lại Paris thăm bà.
Nếu đọc để giải trí thì Nhắm Mắt Thấy Paris là tác phẩm hấp dẫn. Độ căng của cốt truyện được giữ trong suốt tác phẩm . Mỗi chương kết thúc bằng cách mở ra một căng thẳng mới. Chương cuối cùng hoá giải tất cả các mâu thuẫn trong 21 chương trước đó. Mạch truyện kết cấu logic. Nhiêu cảnh sắc Paris được miêu tả đẹp. Nhiều chương miêu tả khá sắc xảo tâm lý, tính cách nhân vật, đẩy mâu thuẫn lên cao trào. Ngôn ngữ dùng trong tiểu thuyết là ngôn ngữ của người trẻ hiện đại. Bút lực của Dương Thuỵ khá mạnh mẽ. Kết thúc có hậu làm người đọc yên tâm.
Nếu đọc Nhắm Mắt Thấy Paris để thưởng thức những giá trị văn chương thì (người đọc) có thể cần trao đổi với tác giả đôi điều.
Trước hết, cách kể truyện không mới nếu không nói là cấu trúc truyện khá đơn giản. Mạch thời gian và những bước thăng tiến cuả Mai là mạch chính. Không có các mạch phụ, không có nhiều tuyến đan xen nhau. Việc khai thác scandal tình dục như là cốt lõi của truyện cũng không có gì mới. Louis vì tình dục mà bị đuổi việc. Lafatoine vì tình dục mà thân bại danh liệt. Mai cũng vì tình dục mà mất đời con gái và bị tổn thương trầm trọng. Điều đáng nói là tác giả đã cổ vũ thái quá cho tự do tình dục và lối sống thực dụng phương Tây (đậm đặc ở chương 14,15) và nhất là ở nhân vật Pink Lady (chương 16). Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ với người đọc trẻ Việt Nam. Bạn trẻ có thể lầm tưởng như thế mới là tự do, mời là giải phóng, là hiện đại, là tiến bộ. Maman Christine nói với Mai: “tiết hạnh chẳng là gì cả nếu sau này con lấy phải một ông chồng cục mịch và trao cho ông tiết hạnh của mình. Tình cho không biếu không, con ơi! Mình không cho xả láng, nhưng nếu mình thấy đối tác xứng đáng, hãy cho đi con, vì con sẽ nhận lại gấp bội”(172) Lan cổ vũ Mai :”Chị không tin vào hai chữ thuỷ chung ở đàn ông. Những ông nào vẫn còn chung thuỷ thì thật ra là chưa có khả năng để ngoại tình”..”..Em nên sáng suốt với Louis và đừng đòi hỏi anh ta phải có trách nhiệm gì cả, sex không phải là trách nhiệm, đó là thú vui”(173). Tất nhiên là sau những lời cổ vũ như thế, cùng với sự cuốn hút cuả Louis, cô gái được giáo dục tử tế đã lao vào hưởng thụ sung sướng xác thịt, mà ngay sau đó Mai cũng xác nhận đó không phải là tình yêu.
Nhân vật Mai là nhân vật chính, lẽ ra phải là được xây dựng như một điển hình cho giới trẻ Việt nam có tài năng và phẩm chất tốt, hội nhập tốt với thế giới, nhưng trái lại, nhân vật này bị sụp đổ hoàn toàn. Hành xử của nàng như một con khùng con điên (tr.45), không bao giờ kềm chế được mình. Mai tự nhận mình là kẻ đớn hèn không hề có một hành động chủ động nào cho sự thăng tiến tương lai của mình. Số phận của Mai bị định đoạt trong tay những nhân vật khác và trôi đi theo triết lý :”Tout s’arrangera : rồi mọi thứ sẽ tự ổn “(tr.256). Người đọc thấy Mai thăng tiến vù vù, nhưng tác giả không hề miêu tả cụ thể Mai đã làm được gì để được thăng tiến. chỉ thấy Mai đứng coi người ta làm và chạy theo các nhóm đi fiels . Sau cùng việc Mai bỏ L’Aurore để làm cho Sunny Hàn Quốc cũng không được lý giải, mặc dù L’Aurore hậu đãi Mai.
Đáng trách nhất ở Mai là không hề có một chút bản lĩnh văn hoá Việt Nam nào. Khi đối xử với gia đình Louis quý tộc, Mai tỏ ra hoàn toàn thiếu văn hoá. Hơn thế Mai còn nhận mình là dân Cowboy Mỹ, để rồi bị Louis nói thẳng vào mặt rằng cowboy Mỹ cũng không hành xử thiếu văn hoá như thế. Chẳng hạn, trong khi Louis đang ở trần trong phòng của anh, Mai sang để noí chuyện. Nhưng khi thấy chiếc quần đùi hiệu Hermes đắt tiền anh đang mặc trên người, cô nhào đến cố sờ cho được. Louis bỏ chạy, Mai đuổi theo. Hai người lăn lộn trên giường. Louis không cho cô chạm được vào chiếc quần ấy. Tôi không hiểu tác giả nghĩ gì khi xây dựng những tình tiết thiếu văn hoá đến thô bỉ như thế về Mai? Trong khi tác giả viết, Mai sinh ra, lớn lên trong một gia đình nề nếp, tốt nghiệp đại học ở VN, vậy mà, khi đối diện với Louis và các sếp người Pháp khác, Mai không hề tỏ lộ được nét văn hoá VN nào, trái lại Mai bị văn hoá sex và chủ nghĩa thực dụng phương Tây đánh bại.
Một điều phi lý khác là Mai đã để cho Pink Lady đeo bám mình, ngủ chung với mình ở Paris và theo đến Milan. Pink đóng kịch đau khổ làm Mai phải xót thương, để rồi trong khi Mai đi làm thì ở nhà Mai, Pink Lady khám phá ra việc Mai giữ hàng của công ty, khám phá ra Mai gửi hàng về cho mẹ. Pink đã dùng những chứng cớ đó để dằn mặt Mai, khiến cho Mai phải kêu lên “Lần này con chết chắc rồi. Mất danh dự, mất việc làm, con sẽ bị gởi trả về Việt Nam trong ê chề”(tr,256). Khi tác giả đã sử dụng bút pháp hiện thực thì phải tuân thủ nguyên tắc logic khách quan của bút pháp này. Không thể có một nhân vật Mai hành xử như thế trong đời thực. Một thiều sót quan trọng , theo tôi, là tác giả không hề miêu tả tâm hồn Việt Nam của Mai. Mai yêu Paris và ngày càng yêu Paris. Người đọc không gặp được dòng nào Mai yêu Sàigòn, yêu cha mẹ, yêu bạn bè Việt Nam. Những điều ấy hiển nhiên đọng trong tâm hồn bất kỳ ai khi đi ra nước ngoài.
Thất bại trong xây dựng nhân vật Mai là thất bại của cả tác phẩm
Bạn đọc trẻ ngỡ rằng sẽ học được ở Mai kinh nghiệm làm việc trong môi trường đa quốc gia, học được cung cách hội nhập với thế giới mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc, học được những cái tiến bộ, cái mới để về phục vụ tổ quốc, nhưng Mai đã không đáp ứng được yêu cầu ấy. Điều này xuất phát từ sự non yếu của tác giả về vốn sống và khả năng thể hiện chủ đề.
Nhân vật Mai thất bại, thay vào đó Pink Lady lại là nhân vật xuất sắc của Dương Thuỵ. Con người này là hiện thân sinh động của lối sống thực dụng. Không có khái niệm đạo đức tốt - xấu, không có thiện - ác, càng không có tình nghĩa. Với Pink, để sống còn, chỉ có thủ đoạn. Phải thủ đoạn để đạt cho được mục đích điạ vị, tiền bạc. Pink đã gài bẫy sex đánh bại Louis và Lafatoine, cô đã thành công trong việc làm khuynh đảo công ty L’Aurore ở Saigòn. Pink đã đeo bám Mai ở tận Paris để lấy được tài liệu răn đe Mai, đặt Mai trước sự mất trắng nhục nhã. Tài năng, tâm huyết, sức lực của Mai thành số không. Công ty L’Aurore phải đền bù Pink một số tiền khá lớn. Số tiền này sẽ giúp Pink kinh doanh, mở công ty sau này. Điều đáng nói là, Pink được trình bày như một mẫu hình của giới trẻ thực dụng, thành đạt. Triết lý sống của Pink có sức thuyết phục ngưởi đọc. Đương Thuỵ nhận xét” Hường chưa bao giờ ở vào thế bị động và chờ người ta ra tay trước “(251). Pink nói vào mặt Mai:”Dân Việt Nam đớn hèn hay tin vào luật nhân quả để tự an ủi khi bị đối xử bất công. Thay vì tức tối rủa xả’Nó sẽ bị trả giá’ rồi mòn mõi ngồi chờ ông Trời ra tay, sao họ không đích thân hành xử kẻ bị cho là xấu xa? Cuộc đời này khắc nghiệt lắm, không tự cứu mình thì Trời cũng không có thì giờ mà cứu đâu!”(tr.252). Một con người đáng ghê tởm như vậy, ở cuối tác phẩm lại được mọi người tha thứ. Lafatoine nói :”..có lúc tôi cay đắng oán giận tập đoàn đã quá nặng tay đuổi việc tôi, và tôi hận Pink Lady. Nhưng giờ mới thấy tôi phải nên cám ơn cô ta”(tr.264). Dương Thuỵ để cho Lafatoine triết lý :”chỉ là tôi muốn cô hiểu rằng khi tha thứ, mình sẽ được cuộc đời đền bù gấp bội.”(tr.271)
Gấp cuốn tiểu thuyết lại, điều gì còn đọng lại trong lòng người đọc ?
Đó là chất ký sự viết về những cảnh sắc đẹp, những chuyến đi Paris, Ba Lan, Hong Kong của Mai. Quảng trường Vendôme (Paris) với những cửa hàng sang trọng, cầu Mirabeau dành cho những cuộc tình trôi theo dòng nước, những lâu đài ở thung lũng sông Loire với phong thái quý tộc Pháp, Paris Noel rực rỡ, Paris muà xuân, Paris những ngày tháng sáu, Paris tháng Bảy, cuối xuân đầu hè…có nắng hanh vàng, bầu trời trong xanh gợn những cụm mây trắng như bông, gió nhè nhẹ đủ thổi bay những chiếc lá chấp chới trong vườn Luxembourg (tr.210). Dương Thuỵ còn dẫn người đọc đến Otwock Balan là nơi có khí hậu trong lành nhất châu Âu, và Milan (ý)…Bối cảnh ấy có tạo ra sự mới lạ trong chất liệu của tiểu thuyết và chứng tỏ người viết đi nhiều, biết nhiều. Quả thực, châu Âu là một trong những cái nôi văn minh nhân loại, tất cả cô đọng ở Paris, vì thế Châu Âu luôn quyến rũ khách du lịch. Những cảnh sắc và sinh hoạt của Partis trong tác phẩm có đem đến những nét thoáng qua về Paris cho người đọc. Rất tiếc là tầm nhìn của Mai còn rất hẹp. “Paris! Paris! Thật ra mình đâu biết gì về nơi này ngòi đoạn đường từ các trạm metro”(tr.154) Cô chỉ biết Paris từ nhà trọ đến công ty, những cửa hàng mua sắm ở siêu thị, ngoài ra cô không biết gì về người dân Paris. Tác phẩm không hề miêu tả đời sống sinh hoạt của người dân Paris thuộc mọi thành phần, không khám phá đời sống văn hoá, xã hội, chính trị cuả Paris. Có thể nói Mai hiểu biết Paris rất hời hợt. Thực ra ngay ở Sàigòn là quê hương cô sinh ra và lớn lên, cô cũng không biết gì. “Mai thích khu trí trong vùng an toàn là gia đình, bạn bè thân thuộc, giới trí thức đàng hoàng và những cuốn sách văn học kinh điển “(tr,70) thậm chí không biết giữa Sài gòn có một nơi sang trọng mát mẻ là Saigon Domain nếu Louis không dẫn cô tới.
Kết thúc tác phẩm theo lối có hậu đem đến cho người đọc sự an tâm về thái độ và ý thức sáng tác của người cầm bút trẻ. Tất nhiên có hậu của Dương Thuỵ không phải là kết quả triết lý ở hiền gặp lành như trong truyện dân gian. Dương Thuỵ nghiêng về những suy gẫm triết lý. Daniel vì scandal sex mà bị mất việc, sau đó anh mở cửa hàng ăn uống và thành đạt. Anh nóì với bạn gái cũ :”Chuá đóng cánh cửa này thì sẽ mở ra cánh cửa khác”, còn Lafatoine tan gia bại sản, thân bại danh liệt vì Pink Lady lại nói lời tha thứ Link Lay, rằng “ khi tha thứ mình sẽ đượccuộc đời đền bù gấp bội…Giờ tôi không sem thành công là cáiu đích của mỗi con người. Tất cả chỉ còn lại cái tình, và hạnh phúc được sống trong thanh thản, đó mới là điều quan trọng nhất “(tr.271). Người đọc thấy thấp thoáng tư tưởng nhân văn Thiên Chuá Giáo và triết lý an vi của Lão Trang. Rất tiếc những tư tưởng này không được thể hiện bằng hình tượng, mà chỉ được nhân vật phát ngôn, như là sự tự an ủi cho sự thất bại.
Còn nhân vật Mai thể hiện tư tưởng gì ? Lúc đầu Mai hăm hở làm việc cho công ty L’Aurore, làm việc miệt mài để hội nhập và thăng tiến, Mai đã đạt được điạ vị mà mọi người trẻ đếu ao ước. Mai bằng lòng với thành đạt ấy, vậy mà trong những mail gửi cho Lan, Mai lại than thở nỗi cực nhục :”em cày như trâu, làm việc không nghỉ ngơi, lúc nào cũng cúc cung tận tuỵ. Nhiều lúc thực tình muốn chửi thề thẳng vô mặt bà sếp rồi ra sao thì ra. Nhưng đúng là dân Việt Nam mình được nuôi dạy là ‘ một câu nhịn là chín câu lành(nhất là nhịn tụi Tây). Nhịn luôn đi liền với nhục, nhục lắm chị à”(tr195). Mai cũng than thở về nạn bè phái, ô dù trong công ty và ngộ ra rằng ở đâu cũng vậy. Những tưởng Mai sẽ nung nấu lý tưởng học tập để có kinh nghiệm về Việt Nam làm việc giúp cho sự thăng tiến cuả đất nước, nhưng cuối cùng, Mai bỏ L’Aurore về làm cho Sunny Hàn Quốc tác gỉa không một lời lý gỉai. Thế nghiã là gì, nhân vật Mai chưa chuyển tải được tư tưởng gì của tác giả. Phê phán chủ nghiã Tư Bản chăng ? hay chỉ ra kinh nghiệm kinh doanh nhỏ lẻ thành công hơn như Daniel và Lafatoine? Mai không hề có lý tưởng gì, tư tưởng gì. Chẳng lẽ tuổi trẻ Việt Nam đầy tài năng, nhiệt tình, được giáo dục và đào tạo bài bản lại hời hợt đến thế sao?
Thấp thoáng đây đó Dương Thuỵ cũng phê phán xã hội Việt Nam. Điều này không công bằng khi tác giả luôn ca ngợi Paris. Trước hết, nhiều lần Louis đốp thẳng vào mặt Mai rằng cô thiếu văn hoá, dù là một cowboy Mỹ cũng không hành xử thiếu văn hoá như cô. Trước mặt giới quý tộc Pháp, Mai hiện diện như một kẻ thiếu văn hoá, một tiện dân. Tôi không rõ người trẻ Việt Nam ở nước ngoài tất cả có hành xử như Mai không, và tôi tin Mai chỉ là một trường hợp méo mó do trình độ viết của tác giả tạo ra. Mai là một hình ảnh mà tác giả viết bôi bác về giới trẻ hôm nay. Qua lời Lan động viên Mai, Dương Thuỵ chỉ ra bản chất của xã hội Việt Nam :“Giỏi thì có giỏi nhưng xã hội này vàng thau lẫn lộn, sâu bọ ngoi lên làm người. Đâu phải giỏi là hay, nhiểu khi còn khiến mình chết sớm”(tr.53). “ở Việt Nam có khối kẻ giàu một cách đáng kinh ngạc “(tr.105). Thái độ cần có với xã hội đó là chửi :”Chửi đi em! Cho đời bớt khốn nạn “(tr124), rồi nhân đó Dương Thuỵ bôi bác quá khứ qua lời Lan an ủi Mai:”Thôi, ráng cày, ráng làm mọi, rồi có ngày mình về VN mở công ty. Lúc đó mình tuyển nhân viên Tây vô để trả thù dân tộc. Nhớ nhé ! Mình từng thắng đế quốc Mỹ, diệt thực dân Pháp. Tiến lên !”(124). Có lẽ Dương Thuỵ học nhiều ở nước ngoài nên có cái nhìn lệch lạc về đất nước mình chăng. Và mặc dù được giáo dục đào tạo bài bản , chẳng lẽ Dương Thuỵ cũng có thái độ sống và hành xử như Mai? Điều này có thể hiểu được, vì Văn là người.
Cũng cần nhận rõ điều này, ảnh hưởng chủ nghiã Hậu Hiện Đại có trong tư tưởng của tác phẩm qua nhân vật maman Chritine. Christine dạy Mai phải biết chửi “merde” (cứt ) vào tất cả.”Chửi thề là cách hữu hiệu để chống stress ở Paris. Nào ! hét to lên “Merde! Merde!(tr.95). Christine giải thích :”Đừng quá băn khoăn, đừng quá nghiêm trọng hoá vấn đề, rồi mọi thứ cũng tự ổn thỏa, bởi cuộc đời này vốn không phức tạp như những triết gia thích tư duy. Sự vật hào nhoáng nếu nhìn dưới lăng kính trần tục cũng chỉ là một đống ‘merde’ mà thôi. Không phải Paris hoa lệ cũng tồn tại chung cùng những đống phân chó đó sao ?(tr.181). Đó là sự lật nhào mọi giá trị, mọi tím niệm, là sự “giải thiêng” những chân lý ở đời, là đạp đổ những “đại tự sự”. Cái gì cũng chỉ là “merde”(cứt). Cho nên việc việc giữ gìn trinh tiết và tự giải phóng mình khỏi xiềng xích của vấn đề trinh tiết cuả Mai (tr.161) cũng cũng chẳng có gì đáng bận tâm. Pink Laday đã ăn nằm với bạn giai từ khi cô còn học năm 2 Đại Học, có sao đâu! Điều ấy phản ánh sự mất phương hướng, không có lý tưởng, của tuổi trẻ. Họ trở thành nạn nhân của chủ nghiã thực dụng phương Tây. Rất tiếc trong tác phẩm Dương Thuỵ lại cổ vũ cho những tư tưởng này một cách đậm đặc. Nếu tuổi trẻ Việt Nam đều tiêm cái tư tưởng này vào đầu và hành xử hoang tưởng như vậy, không biết xã hội Việt Nam còn tha hoá thế nào?
Bỏ hết những vấn đề đã nêu ở trên đi, Nhắm Mắt Thấy Paris còn lại điều gì ? Còn lại ấn tượng về sex và vấn đề trinh tiết. Dương Thuỵ đã cổ vũ nhiệt tình cho việc gỉai phóng xiềng xích vấn đề trinh tiết, đã miêu tả sự hoan lạc cuả sex tự do , sex lạc thú thân xác, không gắn với trách nhiệm xã hội. Mai đã chủ động đòi sex ở Louis và không ân hận gì khi cuộc tình gãy đổ. Cô chỉ trơ ra rằng :” Đời tôi coi như xong rồi! Tôi không còn cửa để có một người chồng Việt Nam đàng hoàng nữa”(tr.228). rất may ở gần cuối tác phẩm, Dương Thuỵ lật mặt trái vấn đề này. Trong những phút đau đớn nhất của Louis, anh nhận ra danh dự làm người mới là giá trị quan trọng :” Suy cho cùng, tình dục là cái thá gì! Có thì được vài khoảnh khắc hưởng thụ, không thì cũng chẳng chết ai! Thậm chí bất lực càng hay, sẽ không bị đuổi việc nhục nhã và phá huỷ hết những gì đã gây dựng được”(tr.240) .
Cũng nên ghi nhận điều này, Dương Thuỵ có ý thức đặt vấn đề sex gắn với những vấn đề xã hội, không miêu tả sex kích dục, sex bẩn. Những chỗ miêu tả cảnh sinh hoạt nam nữ, ngòi bút Dương Thuỵ có sự tế nhị văn hoá. Chỉ tiếc Dương Thuỵ đã không đi đến cùng minh triết vấn đề sex trong văn hoá phương Đông và văn hoá Việt Nam. Tình yêu, tình dục là vấn đề cá nhân, nhưng hậu quả cuả nó lại là hậu quả xã hội, vì thế cần thấy rõ tư tưởng thực dụng phương Tây về sex là hoàn toàn trái với truyền thống nhân văn phương Đông. Tiết trinh là một trong những giá trị bảo đảm cho hạnh phúc gia đình của người Việt Nam. Tình yêu của người Việt Nam gắn với tình nghiã và trách nhiệm xã hội. không có “tình cho không biếu không”, không có chuyện tình dục chỉ là thú vui không đòi buộc trách nhiệm xã hội. Sau cùng Mai cũng đã nhận ra điều này khi hiểu ra Daniel mới chính là tình yêu thật sự của cô. Tình yêu bao gồm trong nó sự quan tâm chia sẻ nâng đỡ lẫn nhau, tôn trọng nhau, thuỷ chung với nhau. Daniel đạt những chuẩn mực lý tưởng đó. Là người Việt Nam trong hội nhập với thế giới, nhất thiết chúng ta phải bảo vệ những giá trị bản sắc của dân tộc. Đã qua rồi cái thời Phương Tây là văn minh, phương Tây mới là tiến bộ. Cũng cần ý thức sâu sắc cuộc xâm lăng văn hoá của phương Tây đang tràn vào Việt Nam qua cửa hội nhập, mà hậu quả của nó đối với xã hội Việt Nam đã hiển hiện nhãn tiền.
Nhắm Mắt Thấy Paris đã hoàn toàn khác với tiểu thuyết giai đoạn 1945-1975 và thời kỳ đổi mới (những năm 1986). Khác từ đề tài, bối cảnh đến nhân vật và những vấn đề tác phẩm đặt ra. Dương Thuỵ viết về thời hôm nay, về những vấn đề của người trẻ hôm nay. Rất tiếc tác giả chưa làm sáng lên được những giá trị của thời đại mới, những hình mẫu tuổi trẻ trong thời đại mới.
Xét đến cùng , tiểu thuyết là câu chuyện của con người, là quan hệ người với người, dù thời nào, bối cảnh nào thì những mối quan hệ và những bí ẩn nhân thế vẫn cần được tiểu thuyết khám phá, để vưà khắc hoạ cho được con người của thời đại, vưà nói tiếng nói lương tri của thời đại, đem ánh sáng vào những ngõ ngách khuất tối nhất của tâm hồn con người. Dương Thuỵ chưa làm được những điều như vậy trong Nhắm Mắt Thấy Paris. Nhưng tôi tin rằng Dương Thuỵ còn tiến xa trong nghệ thuật tiểu thuyết vì Nhắm Mắt Thấy Paris đã thể hiện được nhiều tố chất của một nhà văn có cốt cách và tài năng, có vốn sống và lòng say mê văn chương, có năng lực sáng tạo dồi dào. Cái thiếu ở Dương Thuỵ là ánh sáng bản sắc văn hoá Việt và minh triết phương Đông để nâng giá trị tác phẩm lên ngang tầm với thời đại.
BCT. Tháng 6.2010
______________________________________________
Đã đăng trên Phong Điệp 02.07.2010 : tác phẩm và dư luận http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=10494
Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2010
NHỚ / SINH NHẬT TÌNH YÊU - thơ Hoàng Lan
THƠ HOÀNG LAN
Đã đăng trên Văn Chươgn Việt
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=13125&LOAIID=1&LOAIREF=1&TGID=1569
Nhớ /Sinh Nhật Tình Yêu
Hoàng Lan
NHỚ
Chẳng thể nào bày tỏ được tình yêu
giữa chỗ đông người
Nhưng em hạnh phúc như chưa bao giờ hạnh phúc
được ở bên anh
được nhìn thật sâu vào mắt, chờ đợi
và đọc lời yêu thầm thì
và nắm lấy tay nhau vụng về
những ngón tay đan vào nhau chặt ơi là chặt,
Không có gì ngoài nỗi khao khát
Bờ vai em lạnh. Sao anh không ôm xiết một vòng tay
và gửi một nụ hôn qua gió
hay một cử chỉ đòi yêu
mà như hai người xa lạ,
hai pho tượng băng đăng giữa loài người
nhưng hạnh phúc anh cho em thì tuyệt vời
Hạnh phúc của em là anh
Anh là tất cả,
Lần nào cũng vậy,
Được ở bên anh em không muốn rời,
không muốn xíu nào.
Rời nhau vài giây thôi
là em lại nhớ anh khùng điên. Nhớ lắm
chia tay rồi
bao giờ em mới được bên anh
dù thế nào
em vẫn yêu,
không có anh em không gượng nổi đâu
yêu anh nhiều lắm,
cát trong lòng biển và bầu trời đầy sao
em sẽ giữ gìn em cho anh những ngày xa cách
chỉ rjêng anh thôi.
mãi mãi
và ôm anh thật chặt, không rời,
em hôn a nữa.
ước gì em được ở bên anh đêm nay.
SINH NHẬT TÌNH YÊU
Em vượt hơn một trăm cây số, và kẹt đường kinh khủng
chỉ để đươc gặp anh
mưa làm tóc em ướt mem
nhưng con đường dãi dầu làm em hạnh phúc
_em sẽ bịnh mất !
_Thực sự thì em đã sốt hai bữa rồi.
_Biết vậy anh không cho em về!
_không gặp anh em sẽ nhớ khùng điên thì sao
gặp anh là em hết bịnh liền à!
Vì anh truyền cho em nhịp đập trái tim mạnh lắm
Vì lửa yêu sưởi đốt tim em
Chẳng mưa gió nào có thể làm em lạnh ,
chẳng khoảng cách nào có thể làm em xa anh
không thể ngăn được thác nước đổ tràn
hôm nay sinh nhật tình yêu chúng mình
kỳ diệu biết bao
Ngày này năm trước em còn lang thang lang thang
Giờ đây bên anh
Tình yêu cuả em đã đầy ắp mọi nẻo
Trái đất này quá nhỏ không đủ đong đầy nỗi nhớ
Vũ trụ này quá mong manh khi giông bão đòi yêu trong em tràn qua
Cõi đời này quá ngắn ngủi không đủ một giây mê đắm
em chỉ cần có anh thôi
Anh là báu vật của trời không gì trên đời sánh được
_yêu anh em thiệt thòi nhiều không ?
_Không đâu, e có cả đất trời hạnh phúc
bao nhiêu cô gái bằng tuổi em
sa mạc bơ vơ
đi tìm tình yêu,
6 tỷ con người. Khoảng không. Vô vọng .
Còn em
Hạnh phúc đầy trời như những hạt mưa kia
Trong lành và mát rượi
Và rất cụ thể
Được ôm anh trong ngày sinh nhật đầu đời
Em sẽ ôm xiết anh mãi
Không rời
Anh chịu không
Hoàng Lan
www.vannghesongcuulong.org Ngày đăng: 25.6.2010
Đã đăng trên Văn Chươgn Việt
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=13125&LOAIID=1&LOAIREF=1&TGID=1569
Nhớ /Sinh Nhật Tình Yêu
Hoàng Lan
NHỚ
Chẳng thể nào bày tỏ được tình yêu
giữa chỗ đông người
Nhưng em hạnh phúc như chưa bao giờ hạnh phúc
được ở bên anh
được nhìn thật sâu vào mắt, chờ đợi
và đọc lời yêu thầm thì
và nắm lấy tay nhau vụng về
những ngón tay đan vào nhau chặt ơi là chặt,
Không có gì ngoài nỗi khao khát
Bờ vai em lạnh. Sao anh không ôm xiết một vòng tay
và gửi một nụ hôn qua gió
hay một cử chỉ đòi yêu
mà như hai người xa lạ,
hai pho tượng băng đăng giữa loài người
nhưng hạnh phúc anh cho em thì tuyệt vời
Hạnh phúc của em là anh
Anh là tất cả,
Lần nào cũng vậy,
Được ở bên anh em không muốn rời,
không muốn xíu nào.
Rời nhau vài giây thôi
là em lại nhớ anh khùng điên. Nhớ lắm
chia tay rồi
bao giờ em mới được bên anh
dù thế nào
em vẫn yêu,
không có anh em không gượng nổi đâu
yêu anh nhiều lắm,
cát trong lòng biển và bầu trời đầy sao
em sẽ giữ gìn em cho anh những ngày xa cách
chỉ rjêng anh thôi.
mãi mãi
và ôm anh thật chặt, không rời,
em hôn a nữa.
ước gì em được ở bên anh đêm nay.
SINH NHẬT TÌNH YÊU
Em vượt hơn một trăm cây số, và kẹt đường kinh khủng
chỉ để đươc gặp anh
mưa làm tóc em ướt mem
nhưng con đường dãi dầu làm em hạnh phúc
_em sẽ bịnh mất !
_Thực sự thì em đã sốt hai bữa rồi.
_Biết vậy anh không cho em về!
_không gặp anh em sẽ nhớ khùng điên thì sao
gặp anh là em hết bịnh liền à!
Vì anh truyền cho em nhịp đập trái tim mạnh lắm
Vì lửa yêu sưởi đốt tim em
Chẳng mưa gió nào có thể làm em lạnh ,
chẳng khoảng cách nào có thể làm em xa anh
không thể ngăn được thác nước đổ tràn
hôm nay sinh nhật tình yêu chúng mình
kỳ diệu biết bao
Ngày này năm trước em còn lang thang lang thang
Giờ đây bên anh
Tình yêu cuả em đã đầy ắp mọi nẻo
Trái đất này quá nhỏ không đủ đong đầy nỗi nhớ
Vũ trụ này quá mong manh khi giông bão đòi yêu trong em tràn qua
Cõi đời này quá ngắn ngủi không đủ một giây mê đắm
em chỉ cần có anh thôi
Anh là báu vật của trời không gì trên đời sánh được
_yêu anh em thiệt thòi nhiều không ?
_Không đâu, e có cả đất trời hạnh phúc
bao nhiêu cô gái bằng tuổi em
sa mạc bơ vơ
đi tìm tình yêu,
6 tỷ con người. Khoảng không. Vô vọng .
Còn em
Hạnh phúc đầy trời như những hạt mưa kia
Trong lành và mát rượi
Và rất cụ thể
Được ôm anh trong ngày sinh nhật đầu đời
Em sẽ ôm xiết anh mãi
Không rời
Anh chịu không
Hoàng Lan
www.vannghesongcuulong.org Ngày đăng: 25.6.2010
Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010
ĐỌC BÀI THƠ TƯƠNG TƯ của Nguyễn Bính

Văn học trong nhà trường
( Giúp các bạn ôn thi ĐH khối C&D)
ĐỌC BÀI THƠ TƯƠNG TƯ CỦA NGUYỄN BÍNH
Bùi Công Thuấn
_________________________________________________
1.Nguyễn Bính ( 1918-1966)
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính ( có thời kỳ lấy tên là Nguyễn Bính Thuyết ), gia đình nhà nho nghèo, làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội ( nay là xã Cộng Hoà) huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
NB mồ côi mẹ sớm. 10 tuổi đã phải theo anh lên Hà nội kiếm sống.13 tuổi làm thơ.19 tuổi được giải thưởng cuả Tự Lực Văn Đoàn (1937). Năm 1943 NB vào nam bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống Pháp. 1954 tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ báo chí ở Hà nội, Nam Định
NB được coi là “ thi sĩ cuả đồng quê “. Ông được Nhà Nước tặng giải thưởng HCM về VHNT 2000.
Tác phẩm chính : Tâm Hồn Tôi (1937) Lỡ Bước Sang Ngang (1940)
( SGK Văn11.tr.49 )
Tương Tư
Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng,
Thôn Ðoài thì nhớ thôn Ðông,
Cau thôn Ðoài nhớ trầu không thôn nào.
( Hoàng Mai – 1939 . Trong Tập Lỡ Bước Sang Ngang .1940)
Ghi chú : Cau liên phòng là loại cau rất thấp và có quả quanh năm.
NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÀI THƠ
1.Bố cục
a.Bốn câu đầu : Nhân vật tôi thú nhận mình tương tư “Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng. “
b.Ba khổ giưã : Nhân vật tôi tự hỏi, tự lý giải tự bày tỏ về sự cách trở người yêu
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
c.Bốn câu cuối : Dùng trầu cau ẩn dụ cho sự độc thoại nỗi nhớ
2.PHÂN TÍCH 4 CÂU ĐẦU
Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Bốn câu thơ lục bát chia làm hai cặp, được diễn đạt theo cách nói ví von cuả ca dao. Một người chín nhớ 10 mong một người cũng như thôn Đòai nhớ thôn Đông. Tôi mang bệnh tương tư, cũng như trời có bệnh gió mưa. Nhân vật tôi trực tiếp thổ lộ và biện hộ cho “ bệnh tương tư “ cuả mình
Tại sao lại là bệnh tương tư, tại sao lại phải vin vào “ bệnh nắng mưa cuả trời “ để biện hộ cho mình? Trong xã hội cũ, và cả trong xã hội hiện đại, bệnh vì tình, bệnh tương tư đối với nam giới, là thứ bệnh khó được chấp nhận, vì nó chứng tỏ sự “ yếu đuối nữ tính “. Một “ trang nam nhi “ phải xông pha nơi chiến trường, coi cái chết nhẹ tưạ lông hồng :” gieo Thái Sơn nhẹ tưạ hồng mao “ ( Chinh Phụ Ngâm ), phải có chí “ chọc trời khuấy nước “ , nếu có chết thì “chết nơi chiến trường da ngược bọc thây “( Mã Viện ), sao lại để cho tình yêu làm mềm yếu chí khí nam nhi. Nguyễn Bính ( NB ) cho rằng mưa gió là chuyện thường hằng cuả trời, thì tương tư cũng là cái thường hằng cuả con người. Tương tư là nhớ mong,. Nhớ mong nhiều lắm “Một người chín nhớ mười mong một người.”, như thôn Đoài nhớ thôn Đông. Chẳng có gì sai trái, chẳng có gì là không đúng về đạo đức.. Nhớ mong là tình cảm cuả con người như mọi thứ tình cảm khác, vì thế “ tôi yêu nàng “ đến nỗi mang bệnh tương tư cũng là thường tình con người
Khổ thơ là sự xuất hiện trực tiếp cuả “ cái tôi “ tiểu tư sản. “ cái tôi” này sánh ngang với trời. “ cái tôi” tự khẳng định mạnh mẽ trước ý thức hệ đạo đức phong kiến. Trong xã hội phong kiến không có sự tồn tại cuả “ cái tôi”, vì thế cũng không có sự tồn tại cuả tình yêu cá nhân, tất cả chỉ có sự phục tùng. Tam tòng, tứ đức , là những chuẩn mực cuả cá nhân trong cộng đồng
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng.
“ Cái tôi” đem mình sánh với trời, tức là Thiên Mệnh cuả Nho Giáo, đó là một thách thức, cũng là sự khẳng định với Thiên mệnh. Tính yêu cuả tôi, bệnh tương tư cuả tôi có trời bảo chứng. Trời thế nào, tôi thế ấy. Sự xuất hiện cuả một “ cái tôi” như thế là hết sức mới mẻ trong văn học Lãng Mạn 30-45
“ Cái tôi”thể hiện được những vẻ đẹp nhân văn cuả thời đại mới. Đó là vẻ đẹp cuả tình yêu. Nỗi nhớ mong bao trùm không gian. Tôi khẳng định quyền được yêu, được nhớ và nói ra công khai cái quyền ấy. ( ngày nay, những điều như vậy trở thành quyền con người , như một chân lý hiển nhiên, tuy vậy không phải không còn những cản trở )
Câu thơ NB vưà có cái dân dã ca dao , vưà có caí mới cuả thơ Lãng mạn. Đó là cách nói ví von, cách nói ẩn dụ, sử dụng chất liệu ca dao, sử dụng cách thể hiện biểu cảm cuả ca dao, sử dụng thành ngữ cuả ngôn ngữ dân gian : “Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông, / Một người chín nhớ mười mong một người.” . Đọc câu thơ, người đọc VN thấy quen thuộc lắm, như là tiếng nói mang hồn dân tộc. Thôn Đoài thôn Đông là cách trở như phương đông phương tây Gió mưa cuả giời làm người khốn khó. Dù vậy, vẫn yêu, vẫn chín nhớ mười mong. Câu thơ “ Một người chín nhớ mười mong một người.” là một câu phiếm chỉ, vưà là nỗi nhớ cuả nhân vật Tôi, vưà là tâm trạng cuả mọi ngừơi đang yêu. Cái lãng mạn cũng chính là ở sự tỏ lộ tình yêu. Với nhân vật tôi, tình yêu là tất cả. Tình yêu là chín nhớ mười mong, chẳng còn phần nào cuả tâm hồn, cuộc sống dành cho những trách nhiệm xã hội. Khi yêu đúng là như vậy. NB khác với ca dao ở chỗ tình yêu trong ca dao gắn với con người, quê hương và cuộc sống lao động , vì thế ca dao mang tình tự dân tộc
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dằm tương
Nhớ người dãi nắng giầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
( Ca dao )
“ Cái tôi” tiểu tư sản chỉ quy tụ về mình, biện giải cho mình, để bày tỏ một tình yêu cá nhân riêng tư. Điều này đáp ứng những kiểu tình yêu cá nhân cuả thanh niên mới.
PHÂN TÍCH 3 KHỔ GIƯÃ
Sau khi khẳng định tình yêu , biện minh cho “ bệnh tương tư “, nhân vật tôi tự độc thoại trong tâm tưởng với mình và hờn trách người yêu , tỏ lộ nỗi nhớ mong
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Cớ sao người không sang? Cùng chung một làng, không cách trở đò giang, chỉ cách có một đầu đình, nhưng sao người không sang ? ( quả là một câu hỏi hơi lạ, vì lẽ ra chàng phải sang bên nàng, sao lại đòi nàng phải tìm đến chàng ) Thời gian cứ trôi, lá xanh đã thành lá vàng. Sự chờ mong đã mỏi mòn. Ngày cũng như đêm. Tương tư thức mấy đêm rồi, hỏi ai có biết cho ai đang chín nhớ mười mong hay không ? “ Bao giờ bến mới gặp đò? Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? “ Câu hỏi như tan vào mênh mông, bởi vì tình xa xôi quá ! dù khỏang cách không gian “ có xa xôi mấy “. Nhân vật tôi cứ đằn vật, cứ tra hỏi, cứ biện giải, rồi hoài mong và tự thương thân “Biết cho ai, hỏi ai người biết cho! “ Chẳng ai biết cho lòng chàng. Vì thế dằn vặt là tự làm khổ mình. Biết vậy nhưng không sao hết dằn vật, bệnh tương tư làm con người mất ăn mất ngủ, võ vàng là thế ( Tương tư thức mấy đêm rồi,..Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng. )
Chỉ có nhân vật tôi tự độc thoại với lòng mình. Nhân vật “ ai- người yêu “ hoàn toàn không hiện diện trực tiếp trong bài thơ. Nàng không có chân dung, không được tả trong bối cảnh cụ thể, cũng không có những quan hệ, những kỷ niệm với Tôi. Vì thế nỗi nhớ mong cuả tôi là “ bệnh tương tư “ cuả một tình yêu đơn phương. Độc thoại là độc thoại cuả tôi với tôi, trong vô vọng xa xôi. Đó là tình yêu lãng mạn cuả người tiểu tư sản
Tâm trạng ấy, tình yêu ấy tuy mới mẻ nhưng được diễn tả bằng ngôn ngữ ca dao , vì thế Tương Tư mang màu sắc rất quen thuộc. Sự quen thuộc cuả màu sắc nghệ thuật Nguyễn Bính chưá đựng trong bối cảnh làng quê, sinh hoạt làng quê, tâm tình dân quê : thôn , làng , đò giang, cách một đầu đình ( ca dao: Hôm qua tát nước đầu đình ), cách xưng hô phiếm chỉ : ai- hỏi ai biết cho , dùng ẩn dụ bến-đò chỉ tình yêu. Giọng thơ là điệu nói cuả ca dao : “ Bảo rằng cách trở đò giang, Không sang là chẳng đường sang đã đành.” Câu thơ là câu văn nói đời thường “Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”. Vì thế thơ NB gần gũi như ca dao. Nguyễn Bính cũng tiếp thu nghệ thuật tả nội tâm cuả câu thơ Kiều, dung ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng ( Bốn bề bát ngát xa trông / cát vàng cồn nọ buị hồng dặm kia / bẽ bàng mây sớm đèn khuya )
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Cái mới, chất tài hoa tài tử cuả NB trộn lẫn trong chất ca dao:
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
“ hoa” là người con gái đẹp ( Kiều : “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng “ ) . Khuê các là nơi ở cuả người con gái quý tộc. Hoa khuê các là ẩn dụ chỉ “ người yêu “ cuả nhân vật Tôi vưà đẹp vưà quý phái. Tôi tự nhận “ bướm giang hồ “, là con bướm bay khắp sông hồ, kiểu tài hoa tài tử. Hoa-bướm là ẩn dụ cuả lưá đôi trong tình yêu đẹp mê đắm . Hoa đẹp mà bướm cũng đẹp, bướm luôn say đắm bên hoa . cách diễn đt cuả câu thơ là kiểu ngôn ngữ văn chương bác học, không còn là ngôn ngữ ca dao. Điều ấy bộc lộ cốt cách thi nhân cuả NB. NB là nhà thơ tài hoa tài tử cuả nông thôn ( khác với Nguyễn Khuyến là nhà thơ hồn hậu, chân chất cuả nông thôn VN )
PHÂN TÍCH 4 CÂU CUỐI
Sau những dằn vặt khôn nguôi, nhân vật tôi dường như bình tâm hơn, nhận ra một sự thật
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng,
Thôn Ðoài thì nhớ thôn Ðông,
Cau thôn Ðoài nhớ giầu không thôn nào.
Giầu cau lại được dùng làm ẩn dụ trong cách nói ví von cuả ca dao. Giầu cau là tình duyên. Tình thì có đó, nhưng duyên ở đâu. Lẽ ra tình ấy , duyên ấy sẽ bén rễ, trầu cau sẽ kết liên lưá đôi. Thế nhưng, chỉ có tình anh . Anh thôn Đoài nhớ người con gái thôn Đông. Tình duyên thôn đoài ( cau thôn Đoài ) nhớ nhớ giầu thôn Đông không biết giờ này ở thôn nào. Thế nghiã là người chẳng hề nhớ đến Tôi, chẳng hề có duyên nợ với tôi. Tôi bị bỏ lại sau lưng, vì giầu thôn Đông đã ở thôn nào khác, không biết đến cau thôn Đoài đang nhớ mình. Nhân vật “ em “ một lần nưã lại là người vô tâm, vô tình và dường như xa lạ với tôi, Em không dành cho anh chút hy vọng nào.
Ở phần trên, nhân vật Tôi chỉ thổ lộ một tình yêu lãng mạn, một tình yêu đơn phương, nhưng ở khổ cuối lại bộc lộ một khát vọng tình yêu lưá đôi. Trần cau được dùng trong hôn nhân, ước vọng gắn kết trần cau là ước vọng gắn kết lứa đôi. Điều kiện vật chất thì dư đủ. Điệp từ có nhấn mạnh đến khả năng vật chất đủ cho sự tác thành lưá đôi, cả hai môn đăng hộ đối.
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng,
Hoàn cảnh cũng thuận lợi :”Hai thôn chung lại một làng “ gần gũi lắm, hiểu biết nhau rõ lắm, tình thân đã sâu đậm lắm. Vậy mà tình yêu không theo quy luật vật chất, quy luật xã hội. Lẽ ra “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông” và thì cau thôn đoài phải nhớ giầu thôn đông, hay nói cụ thể, e phải thuộc về anh, a sẽ lấy được em, vậy mà cau thôn Đoài lại nhớ giầu không đã ở thôn nào. Thành ra tình yêu chỉ còn là khát vọng, dường như vô vọng.
Đoạn thơ vẫn đặc sắc ở cách dùng chất liệu dân gian, cách nói ví von dân gian, giàn giầu, hàng cau để chỉ tình duyên, cau là anh và giầu là em. Giầu cau là khát vọng tình duyên cuả anh, giầu cau cũng là “ bệnh tương tư “ cuả anh. Đó là một tình yêu chân thành, tha thiết và cách trở như tình duyên trong ca dao. Tuy là tình yêu cá nhân cuả người tiểu tư sản, nhưng vẫn thắm đượm những tình tự dân tộc, vì thế Tương Tư có sức lay động lòng người. Khác với nhà thơ lãng mạn khác, tỉnh yêu thường gắn với nhục thể, với cảm xúc giác quan hưởng thụ của cái Tôi
Hãy sát đôi đầu ! hãy kề đôi ngực !
Hãy trộn nhau đôi mái tóc vắn dài !
Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai !
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt !
Hãy khắng khít những cặp mội gắn chặt
Cho anh nghe đôi hàm ngọc của rtăng :
Trong say sưa anh sẽ bảo em rằng :
“Gần thêm nữa ! Thế vẫn còn xa lắm “
(Xuân Diệu – Xa Cách )
Nguyễn Bính đã đóng góp cho thơ ca Lãng mạn một tiếng nói riêng, một phong cách tài hoa, một khuynh hướng đặc sắc, khuynh hướng kết hợp thi pháp ca dao, chất dân dã với chủ nghiã lãng mạn. Phải là người gần gũi với làng quê, thấm đượm ngôn ngữ, tâm tình làng quê mới có thể sáng tạo nên những bài thơ chưá đựng được cái đẹp cuả hồn dân tộc.
_____________________________
Bạn có thể tham khảo thêm bài viết về TRÀNG GIANG của Huy cận và ĐÂY THÔN VĨ DẠ của Hàn Mặc Tử tại http://my.opera.com/buicongthuan
Thứ Năm, 10 tháng 6, 2010
Ở XỨ CHÙA THÁP
Ở VƯƠNG QUỐC CAMBODIA
Tuỳ bút của Bùi Công Thuấn
1.Kỷ niệm 20 năm
Trường PTTHDL Văn Hiến nhân kỷ niệm 20 năm thành lập đã tổ chức cho thầy cô đi tham quan Cambodia một chuyến. Công việc chuẩn bị bắt đầu từ tháng 3.2010. Thầy cô nào đi thì phải làm pass port. Chuyến đi 4 ngày 3 đêm khởi hành lúc 4 giờ sáng 5/6/2010 ngay sau khi kỳ thi Tú Tài kết thúc.Tôi được mời đi trong chuyến tham quan này. Chần cừ mãi tôi mới quyết định đi, vì nhiều lý do. Trong bụng nghĩ, Cambodia chẳng có gì hơn VN để tham quan, với lại đi mùa này rất nóng. Khả năng ngồi xe đường trường của mình là có giới hạn. Nhưng nghĩ lại, mấy khi có dịp “xuất ngoại” , hơn nữa trường kỷ niệm 20 năm. 11 năm đầu tôi làm HT, cũng có đóng góp công sức, vì thế phải gắn bó với những gì mình thương yêu suốt 20 năm thôi, không thể khác được.
2.Ở Cambodia ăn cơm bốc bằng tay.
Cô hướng dẫn viên người Cambodia nói như vậy. Từ Long Khánh, chúng tôi đến Trảng Bàng lúc 7 giờ sáng, dừng lại ăn bánh canh Trảng Bàng. Được quảng cáo là đặc sản của Tây Ninh, ai cũng háo hức ăn. Quả thực, sợi bún mềm và dai hơn sợi bánh canh Nam Bộ. Bún có mùi vị riêng. Tuy vậy không ngon hơn bánh canh Nam Bộ
Cổng hải quan VN khá hoành tráng. Chúng tôi làm thủ tục ở hải quan VN mất 2 tiếng đồng hồ. Chậm chạp quá, bao giờ đất nước này mới khá được.Trời bắt đầu nóng như đổ lửa. Máy quét cuả hải quan làm việc châm vì pass port của chúng tôi mới sử dụng lần đầu. Máykiểm tra thông tin hơi lâu. Những người đi thương xuyên máy vi tính quyét nhanh. Sang hảỉ quan Cambodia họ làm rất nhanh. Mỗi người đi qua camera là xong. Sang Cambodia công ty du lịch đổi xe do tài xế Cambodia lái. Hướng dẫn viên du lịch bây giờ là một cô gái Cambodia khá trẻ, mặt tròn, da trắng, nhanh nhẹn và thân thiện
Khi cô ta bước lên xe, mọi người yêu cầu cô nói lời chào bằng tiếng Cambodia, mặc dù chẳng ai hiểu cô ấy nói gi.Cô chắp tay và nói
_ Xua xo đây
Cô tự giới thiệu là Linh, mẹ Việt, cha Cambodia. Học du lịch Sàigòn, đã làm việc cho công ty du lịch 2 năm. Cô nói thạo tiếng Việt và tiếng Khmer. Cô bảo cách chào của người Campuchia cũng có thứ bậc. Chào thường thì chắp tay trước ngực. Chào bậc cao hơn thì để ngón trỏ chạm mũi. Bậc cao hơn nữa thì để ngón trỏ ở trán, thần thánh thì để cao ngang đầu . Có vài người hỏi về tiếng Campuchia
Anh ơi : boong ơi
Em ơi : Ôn ơi ( tiếng gọi thân mật)
Có thầy cô chen vào : Ôn sranh boong tê ( em có yêu anh không )
Cô Linh nhoẻn miệng cười, má có đồng tiền
Cô chỉ cho vài tiếng cần sử dụng. Đói bụng là gì ? là heo bai, thêm cơm là gì ? là thêm bai. Còm muốn thêm gì nữa thì cứ chỉ vào món đó là tiếp viên họ hiểu. Cô bảo rằng, ở Campuchia, dù là khách nước ngoài cũng ăn bốc bằng tay, đó là truyền thống văn hoá, với lại ăn bốc ngon hơn
_Thế ăn món canh thì sao ?
_Người ta phát cho một ống hút, hút hết nước canh còn dùng tay bốc cái mà ăn
Trời ơi trời, làm sao ăn được. Mất vệ sinh chết thôi. Tay chân đi đường đi xá dơ bẩn giờ bốc cơm ăn thì còn gì “ kinh khủng hơn” cả xe ai nghe cô Linh nói cũng kêu trời, và lo không biết trưa nay sẽ ăn uống thế nào
3. Người dân Campuchia khác người Việt thế nào ?
Linh nói tiếp khi xe chạy trên đường quê Campuchia
_ Quý thầy cô thấy nhà dân ở biên giới thì giống nhà người VN mình, hayzà, nhưng vào sâu hơn trong đất Cambuchua quý vị sẽ thấy thì nhà người Khmer là nhà sàn. hayzà, Xưa kia họ ở gần thiên nhiên, làm nhà sàn đêm ngủ để tránh thú dữ.Hayzà, Trước sân nhà người Khmer thường có đống gơm. Họ nuôi bò. Nhà người Việt không có. Ở thôn quê nhà người Khmer không có nhà cầu. Khi có việc họ vác cuốc ga đồng, xong việc thì cuốc đất lấp. Nếu qúy vị có việc nhờ họ, họ sẽ đưa cho một cây cuốc, mình tự tìm lấy chỗ. Đi vệ sinh thì gọi là đi ca hát
Mọi người nghe nói lắc đầu cười, không biết phải xử lý sao đây. Linh nói tiếng Việt Nam bộ. Những chữ có phụ âm đầu là R thì đọc là G thí dụ : ra = ga, rổi = gồi, rơm= gơm , có đệm âm Tiều, cứ cuối câu có chữ Hayzà đệm vào ( nghĩa là dạ)
_ Mình đi trên đường , hai bên đường có nhiều cổng xây. Nếu thấy cổng có vòm nhọn thì đó là cổng chuà, cổng bằng là cổng làng. Người ta làm cổng để cho biết, còn chùa hay làng ở mãi trong, có khi vài cây số. Người Khmer chỉ thờ có Phật Thích Ca thôi, không thờ bất cứ Phật nào khác như người VN. Chuà VN còn thờ Quan Âm, thờ Phật Di Lặc…
_Trước kia thanh niên Khmer phải vào chùa tu hết. Hayzà, có người tu luôn, có người tu tập. Muốn lấy đươc vợ hay muốn xin việc làm phải có giấy nhà chuà chứng nhận mình đã tu. hayzà, Trong Chuà dạy chữ, dạy đạo đức nên chứng chỉ của nhà chuà có giá trị. hayzà, Ở Cambuchia buổi sáng các vị sư đi hoá duyên, ai có gì cho nấy. Người dân có thể cho cơm, cho tiền hay thức ăn. Họ ăn mặn chứ không ăn chay. Và chỉ ăn một bữa sáng thôi, nhịn tới sáng hôm sau.
_Cambuchia vẫn giữ chế độ mẫu hệ. Con gái cưới chồng, con trai ở rể. hayzà, Con gái đi làm nuôi sống gia đình, con trai làm việc nhà. Nhà có con gái tới tuổi lấy chồng thì treo vải hồng ở cửa sổ. Chàng trai nào muốn tìm hiểu thì xin đến ở. Anh ta được nhà vợ thử thách 3 tháng. Nếu được thì sẽ cho cưới vợ. Không được thì đi. Ngày nay anh trai nào có tiền gửi ngân hàng, có công ăn việc làm là có thể lấy vợ. Ở Cambuchia có tiền thì có thể mua được mọi thứ. Nhưng chứng nhận của nhà chuà thì không mua được
_ Mình đi trên đường thấy thanh niên đi xe đạp về buổi chiều là họ đi làm. hayzà, Ai đạp hăng hái là ngày ấy tìm được việc có tiền. Ai đạp yếu xìu là ngày hôm ấy thất nhgiệp. Họ ra thành phố làm việc lặt vặt, trả tiền công nhật. Lương ở Cambuchia rất thấp. Bình quân khoảng 60 USD một tháng. Lương thầy giáo cấp 3 khoảng 80USD.
4. Đất nước Cambodia
Xe chúng tôi chạy như bay trên đường. Tôi nhìn kim đồng hồ. Vận tốc đều là 110-120km/h. Ở đây không có cảnh sát đứng đường, không có bắn tốc độ. Đường vắng nên bác tài chạy xe có vẻ nhàn nhã. Linh bảo, ở đây chỉ có một loại cảnh sát đặc biệt mà bất kỳ bác tài nào thấy là phải đạp thắng ngay. Mọi người tưởng rằng đó là kiều cảnh sát đặc nhiệm 113, nhưng không phải, đó là những con bò bất ngờ băng ngang đường
Người ta thả bò đi tự do. Những con bò gầy trơ xương vì không có gì ăn. Người ta thả chúng đi, tối chúng tự tìm về nhà. Có người nói đùa, ở đây không có quán phở nào nên không sợ bò bị mất. Hai bên đường là đồng ruộng mênh mông nhìn không hết tầm mắt. Nhưng nhìn chung đất nước Campichia còn nghèo. Đất mênh mông nhưng bỏ hoang. Thực ra người dân Cambuchia chỉ làm một mùa vì không có nước. Nước ăn cũng không có vì không có công trình thuỷ lợi nào. Chúng tôi thấy tiếc cho người dân Cambuchia. Ngẫm nghĩ lại, Đất Nuớc VN được thiên nhiên ưu đãi, không giầu nữa thì thôi. Dọc hai bên đường không có bảng quảng cáo hàng hoá dịch vụ của các công ty, chỉ có bảng quảng cáo của các Đảng phài chính trị, thí dụ , Cambodian people Party, Đảng có hính cây nến, đảng có hình 3 ông, trong đó có thủ tướng Hunsen… Từ Nam chí Bắc Campuchia nơi nào cũng vậy. Thôn quê còn rất nghèo. Không có điện, không có một ngành công nghiệp nào. Ở Campuchia hàng sản xuất trong nước có giá thành mắc hơn hàng nhập nên người dân xài hàng nhập. Đa phần từ VN và Thai lan
Tôi hỏi, ở vùng quê xa thì người dân di chuyển bằng gì?
Linh noí : Họ đi taxi, không đi xe bus, vì xe bus rất mắc. Ở Cambuchia một taxi 4 chỗ có thể chở 9, 10 người. Người ta ngồi chặt như nêm trong thùng xe, ngồi cả trên mui. Một xa khách 12, 16 chỗ chở đến 50 người. Cảnh sát không phạt bao giờ. Ở thành phố có lọai xe đặc biệt gọi là Túc Túc. Xe chạy theo cuốc.Một giờ 6USD. Một người cũng giá đó mà 6 người cũng giá đó. Tôi nhớ lại những năm từ 75 đến 85 ở VN. Người ta chất lên xe than cũng vậy. Người ngồi tràn trên mui xe lửa, người đeo bám xe lam nặng đến nỗi chiếc xe chạy ì à ì ạch. Nghĩ lại mà thương mình thương người.
5.Prey Veng- Compong Cham- Compong Thom-Siêm Reap
Ngày thứ nhất, xe chúng tôi chạy một mạch từ nam tới bắc nước Campuchia. Khởi hành từ 4 giờ sáng, đến Siem Reap lúc 18 giờ tối. Linh bảo, hôm nay chúng ta đáng được phong anh hùng. Hướng dẫn viên căng bản đồ nước Campuchua và chỉ con đường chúng tôi đã đi qua. Khởi đi từ Prey Veng. Rồi qua Compong Cham. Compong có nghiã là bến nước. Cham là người Chăm. Compong Cham là bến đợi của người Chăm. Thom là lớn. Compong Thom là bến lớn. Siêm là người Thái Lan. Reap là bại trận. Siem Reap là thành phố người Thái Lan bại trận.
Chúng tôi dừng chân ăn cơm ở Compong Thom. Khi ngồi vào bàn ăn cái mà mọi người tìm kiếm là xem nhà hàng có để muỗng đũa không, hay phải ăn bốc bằng tay như Linh nói. Rất vui là trên bàn có ống đũa hẳn hoi. Hóa ra cô hướng dẫn viên này chỉ nói đuà đề “hù doạ” khách du lịch cho vui thôi.Vì đói bụng nên tô đựng cơm hết rất nhanh. Bây giờ thì bàn nào cũng nói tiếng Cambodia
_ Ôn ơi
_Heo bai!
_Thêm bai
Nhưng khi xin thêm canh, thêm nước mắm thì không biết nói là gì. Nói bằng tiếng Anh thì tiếp viên không hiểu. Các món ăn được tiếp lộn xộn, không theo thứ tự thực đơn. Có bữa cả nhà ăn xong rồi, tráng miệng rồi nhưng thấy còn thiếu món mới gọi phục vụ để nhắc. Hướng dẫn viên nói bữa hôm nay có 8 món, nhưng trên bàn đếm lại mới có 7. Lúc ấy phục vụ mới mang món tôm kho ra. Thế là cả bàn, dù đã ăn tráng miệng và uống nước, cũng đành ngồi xơi thêm món mặn cuối cùng (bỏ thì uổng. Vì thực đơn đa số là rau, rất ít thịt, cá hay tôm. Nếu có cũng chỉ là chay qua) . Món mắm Bò Hóc khá đậm đà.
Chúng tôi đi qua cánh đồng Chết, nơi Pônpôt đã sát hại hàng triệu ngừơi Campuchia. Buổi chiều dừng chân ở Cầu Rồng, chiếc cầu có 1000 năm tuổi và hoàn toàn xây bằng đá. Linh nói rằng khi Pônpôt bị quân VN đánh phải bỏ chạy, chúng phá xập tất cả mọi cây cẩu để ngăn quân VN. Chúng đặt mìn để phá cây cầu này nhưng bị rắn thần ngăn cản, chúng hoảng sợ phải bỏ chạy. Cây cầy này từ rất lâu đã là linh vật của nhân dân Campuchia.
Siep Reap là thành phố cổ kính nhưng cũng là thành phố di lịch. Siem Reap cách Bang Kok Thái lan 150km. Ở đây người ta tiết kiệm điện, đèn thành phố chỉ tù mù. Nơi đây có nhiều khách sạn 4 hoặc 5 sao do người nước ngoài xây. Người VN nổi tiếng ở đây là ông Sáu Cò. Ông có cụm khách sạn, có nhiều đồn điền cao su, nhà hàng, ngân hàng, cửa hàng kinh doanh xăng dầu. Ông chỉ có một cô con gái duy nhất, nghe đâu có thể ông sẽ là sui gia với thủ tướng Hunsen
Siem Reap nổi tiếng với quần thể Ankor Wat, Angkor Thom, đền Bayon có tượng Phật 4 mặt, Đền Ta Phrum. Cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên đồi Bakheng. Angkor Wat (Angkor: kinh đô, Wat: đền thờ hay chùa), là một đền thờ vị thần Visnu của Ấn Độ Giáo . Nằm cách thủ đô Phnôm Pênh 240 km về Hướng Bắc, Angkor Wat được xây dựng dưới thời vua Surja-warman II (1113-1150), mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Độ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Angkor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Angkor Thom là thành phố thủ đô cuối cùng và lâu dài nhất của Đế quốc Khmer. Thành được vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thế kỷ XII. Ngày nay quần thể là một kiến trúc tuyệt đẹp, hoành tráng về tầm vóc chạm khắc tinh vi. Đá được lấy từ ngọn núi cách xa 60km, và được kéo bằng voi. Đường kéo bị bào mòn rồi nước chảy thành sông.
Angkor Wat cao 65 mét, vì thế nhà ở Siem Reap không được xây cao quá 5 tầng để khỏi che khuất Angkor. Ngày nay quần thể Angkor chỉ còn là những di tích hoang phế . Nó cũng không được trùng tu hay xây dựng thành trung tâm du lịch. Nhìn những tháp cổ, trong lòng du khách không khỏi ngậm ngùi. Con người vĩ đại nhưng con người cũng trở về với hư không. Chỉ còn lại những phế tích chứa đựng không biết bao nhiêu công sức của người lao động. Hiện cũng có những công nhân người Khmer đang sửa chữa. Chúng tôi trao đổi với họ bằng tiếng Anh nhưng họ không hiểu, đành nhìn nhau cười.
Buổi tối chúng tôi dùng bữa tại nhà hàng buffer. Đây là nhà hàng rất rộng, có sân khấu, và trang trí sang trọng. Thực khách đa số là người nước ngoài. Xung quanh chúng tôi là các đoàn du khách Nhật, Hàn Quốc. Lác đác có vài người phương Tây. Đoàn văn nghệ người Khmer đã biều diễn sử thi Ramayana và muá Apsara nổi tiếng. trình độ chuyên nghiệp. Văn hoá nghệ thuật của người Khmer có bản sắc và thẩm mỹ riêng, đặc sắc. Họ biểu diễn một tiếng đồng hồ rồi toàn đoàn đứng chào khách và dành ít phút cho khách lên chụp hình
Buổi tối, trong đoàn nhiều thầy cô thuê xe Túc Túc ( xe Honda có kéo một remorque) chở khách. Môt course giá 6USD. Đi chợ đêm và đi chợ cũ ( Night Market& Old market). Hàng hoá không có gì hơn ở VN tuy giá cả có rẻ hơn chút đỉnh. Ở đây người ta sử dụng tiền Cambodia, đồng Riel hay USD. Người bán hàng có thể nói tiếng Anh và tiếng Việt. Tôi hỏi mua một chiếc khăn Campuchia.
_How much does it cost? ( giá bao nhiêu)
_4 Dollas ( chị ta đưa ra 4 ngón tay)
_Too expesive (mắc quá)
_How much you pay?( ông trả bao nhiêu?)
_2 Dollas( 2 Đô)
Khi tôi bỏ đi thì chị ta gọi lại bán
Huớng dẫn viên Linh nói rằng đây cái gì cũng phải trả giá. Vô tiệm vàng bạc đá quý cũng trả gía. Ít nhất 2/3. Thí dụ, món hàng ấy người bán đòi 300 thì mình trả 1 trăm rồi đi, nếu họ không bán tức là chưa tới giá. Mình nâng dần lên từng chút thì không bị hớ. Tôi nghĩ, hoá ra ở Campuchia mua bán trả giá không khác chợ Bến Thành VN. Chỉ khác ở chỗ mình trả giá mà bỏ đi, người bán không chửi như ở VN.
6. Pnôm Pênh
Từ Siêm Reap về Pnôm Pênh xe chạy mất 3 giờ (vận tốc 110/km/h). Hai bên đường vẫn là những cánh đồng nhìn không hết tầm mắt, hầu hết chỉ làm một vụ muà. Con đường có những đoạn chạy song song với một nhánh sông Mêkong. Rất tiếc chuyến đi này chúng tôi không ghé được Biển Hồ Tonlé Sáp. Tonlé Sap có nghĩa là "sông nước ngọt lớn". Thường thì vào mùa khô hồ hẹp và nông, tầm sâu chỉ khoảng 1 m với diện tích 10.000 km². Vào mùa mưa bắt đầu từ Tháng Sáu, nước hồ dâng cao và tăng diện tích hồ thành 16.000 km². Hồ có thể sâu đến 9 m, làm ngập lụt đồng ruộng và cây rừng trong khu vực. Nơi đây có nhiều người Việt sinh sống bằng nghề cá trên các nhà sàn. Họ là những người nhập cư trái phép nên không có giấy tờ gì, con cái cũng không được học hành. Tình cảnh hết sức khó khăn.
Pnôm Pênh là một thành phố không khác Sàigòn bao nhiêu. Có chăng là đường phố không nhiều xe bằng. Trong thành phố chỉ có xe con rất không có xe tải. Xe hơi con đa số là Lesus, Fortune, ít xe Innova. Tại các salon xe, đa số là xe second hand ( thực ra đó là xe mới, nhưng họ đập bể kính, làm trầy sước hay móp thùng để trở thành second hand, thuế thấp). Xe mới 100% để bán thì có dán giấy trắng trên mui. Có 10.000USD có thể mua một xe 4 chỗ đời mới. Người Hoa nắm kinh tế ở đây. Mỗi bảng hiệu thường có 3 thứ tiếng : tiếng Khmer, tiếng Anh và tiếng Hoa. Cửa hiệu cuả người Việt thì có chữ tiếng Việt. Pnôm Pênh có Chợ Lớn mới bán đủ thứ mặt hàng. Buổi chiều chúng tôi đi thăm Hoàng Cung
Hoàng cung là một công trình kiến trúc cổ kính và rất đẹp. Tất cả đều sơn son thếp vàng. Hoàng Cung tại Phnom Penh được xây dựng mới vào năm 1866. Khách tham quan được vào nhiều nơi như đền chính, Đền Vàng , Đền Bạc. Nơi Vua ở và làm việc thì du khách không được vào. Ở đây có lá cờ xanh. Nếu cờ được kéo lên thì vua đang ở nhà. Nếu không có cờ thì vua không có nhà. Vua Sihamoni được Hội đồng tôn vương chọn làm người thừa kế ngai vàng Campuchia hôm 14/10/ 2004. Lúc lên ngôi, Ông 51 tuổi, từng là nghệ sĩ ballet, và chưa có vợ.
Buổi tối chúng tôi đi thăm Casino của Pnôm Pênh có tên là Nagaworld. Casino này của người Hoa và người Mã Lai. Đó là một kiến trúc hiện đại, sang trọng và hoành tráng. Khách ra vào nườm nượp. Có một sảnh lớn chưng bày các mẫu quần áo, tranh ảnh. Có một sân khấu vưà, luôn có ca sĩ cả tân nhạc và cổ nhạc trình bày. Bên trong là khu đánh bài, đủ các món chơi. Có bàn quay Rullet, có bàn chơi bài bằng máy điện tử, có bàn nhà cái chia bài, chia tiền thắng thua bằng phỉnh. Tôi nghe nhiều người ở đây nói tiếng Việt Nam. Ở biên giới Viết-Campuchia cũng có nhiều nhà đánh bạc, nhưng quy mô nhỏ. Ở đây, đa số dân chơi là người Việt. Người Campuchia không được chơi. Cũng ở đây đã hình thành những băng nhóm Mafia. Khách chơi được cho mượn tiền chơi thoải mái. Khi đã nợ nhiều, họ bị giữ lại, bao giờ thân nhân ở VN mang tiền sang trả thì khách chơi mới được về. Casino Nagaworld có một vòm trời nhân tạo tuyệt vời. Trông như vòm trời thật. Trời xanh, có vài cụm mây. Ánh sáng bàng bạc như trời chiều, khiến cho khách chơi lúc nào cũng thấy còn đang ban ngày. Tôi không hiểu làm thế nào họ có thể tạo được một bầu trời như thật vậy. Bước ra khỏi sảnh đườc Casino, tôi không khỏi ngậm ngùi chán ngán khi nghĩ đến các đại gia Việt sang đây chơi bài, trong khi nhiều người dân còn quá nghèo.
7. Siêu thị miễn thuế Mộc Bài
Trên đường về VN, điểm dừng chân háo hức nhất là siêu thị miễn thuế ở Mộc Bài. Mỗi du khách được mua 500 ngàn đồng hàng miễn thuế. Ở đây cũng có cò bán phiếu mua. Mỗi phiếu mua là 20 ngàn đồng VN. Du khách xuống cổng, có xe con, kiểu xe lam, chở khách từ ngoải vào siêu thị. Có nhiều khu vực bán hàng. Đa số du khách vào khu vực bán hàng ngoại. Khu vực này khá rộng. Gian hàng rượi ngọai thật hấp dẫn. Các cô thì tập trung ở gian hàng mỹ phẩm, quầy thùng sà bông, thực phẩm, đồ điện gia dụng. Rất tiếc là với 500 ngàn chẳng mua được bao nhiêu. Nghe nói rằng người ta sắp bỏ siêu thị này vì siêu thị bị lỗ vốn
Xe rời Mộc Bài trở về. Con đường trở nên thân quen và ấm áp vì hai bên đường người dân sinh hoạt tấp nập, khác với đường quê Cambodia vắng vẻ. Trở về VN là trở về với những điều bực mình. Xe chạy chậm như rùa (50km) chỗ nào cũng có công an bắn tốc độ. Nhưng so với đất nước Cambodia, VN trù phú và giàu có hơn, nhưng VN cũng lẵng phí quá nhiều, nhất là điện. Ở VN, điện chiếu sáng tràn lan. Ở Campuchia ,thôn quê không có điện, thành phố chỉ để điện tù mù, vì Campuchia mua điện VN và Thai Lan. Họ không có thuỷ điện.
Xe dừng lại để du khách ăn bữa nhẹ bằng bánh cuốn Trảng Bàng. Mội khẩu phần 50 ngàn đồng gổm một điã thịt luộc, bánh tráng và rau. Thịt được thái mỏng như tờ giấy, mỗi miếng to bằng 3 ngón tay. Rau sống hầu hết là rau hái trong núi có mùi rất lạ, rất thơm và ăn rất ngon. Bánh tráng thật dẻo, cuốn thế nào cũng đẹp, trông ngon mắt. Rau, Kim chi, nước mắm được gọi thoải mái. Nước mắm pha thật tuyệt. Nhiều người mua bánh tráng mang về, nhưng bánh chỉ dùng được trong một tuần thôi. Rau sống bán thêm 40 ngàn đồng một kg. Quả thực, nếu chưa ăn bánh canh Trảng Bàng, bánh cuốn Trảng Bàng thì chuyến đi còn thiếu sót, bởi vì du lịch văn hoá còn có du lịch ẩm thực nữa.
8. Ấn tượng về cô hướng dẫn viên du lịch người Cambodia
Đó là một cô gái vừa xinh, lanh lợi và chuyên nghiệp. Linh mới làm cho công ty du lịch 2 năm. Cô am hiểu văn hoá VN. Trong những câu chuyện hướng dẫn, Linh thường ghép vào những chuyện hài tinh tế theo văn hoá VN. Cô giới thiệu được lịch sử, văn hoá nơi du lịch, giới thiệu giá cả thị trường, cách thức sinh hoạt của mỗi nơi. Ở chợ mới Pnôm Pênh, người cam puchia nói tiếng Việt, sử dụng cả 3 loại tiền : USD, Riel và tiền VN. Nơi đây cũng có những e bé đánh giày nói tiếng VN, các em cũng hướng dẫn mua sắm cho khách. Linh cũng giúp đổi tiền, hướng dẫn mệnh giá, giúp mua sim card mobile.Di động ở VN khi sang Campuchia không dùng được vì không có sóng, phải mua sim ở Campuchia. Linh bám sát đoàn và chu tất phần việc cuả mình ở nơi tham quan, ở nhà hàng, ở khách sạn.
Nhưng có một điều làm khách không mấy hài lòng, đó là việc cô kinh doanh thêm trong tour. Sim card cô bán cho khách là 5 USD. Cô bảo rằng cô đứng tên mua giúp bằng CMND của mình, vì thế sau khi dùng xong thì cho cô xin lại. Sợ sim đó kẻ xấu dùng, cô sẽ bị lien luỵ. Nói vậy thôi, thực ra cô lấy lại để bán cho khách du lịch chuyến khác. Cô mua giúp đường thốt nốt và cá khô, nhưng khi đi chợ Mới Pnôm Pênh khách mới biết cố bán đắt hơn ở chợ. Cô tổ chức thêm 2 tour nhỏ là đi Biền Hồ Tonlé Sap và thăm nhà tù Pôn Pốt, nhưng không ai đi vì 20USD một tour, cô cũng hướng dẫn điểm massage thư giãn với giá 6USD, nhưng thực ra chỉ 4USD. Khi không có khách đi tua của cô, thái độ phục vụ cuả cô thay đổi hẳn. Không còn mấy ân cần nưã. Trên đường trở về VN, ở phần đất Campichia, cô không cho khách uống nước như những ngày đầu. Những chuyện ấy chỉ là nhỏ thôi , nhưng làm mất lòng tin và thiện cảm cuả khách. Chắc khó có chuyến đi Campuchia lần 2.
Tháng 6.2010
XEM HÌNH TRONG ALBUM Ở ĐẤT NƯỚC CHÙA THÁP.
http://my.opera.com/buicongthuan/photo
________________________________________________
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)