SÓNG, SÓNG GIÓ VÀ THÔNG ĐIỆP NGHỆ THUẬT
(Đọc bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, chương trình Ngữ Văn 12)
1.Câu chuyện tình yêu
Có lẽ trong chương trình Văn 12, không có tác phẩm nào được thầy cô giảng dạy bằng cảm hứng dào dạt như bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Bởi chuyện tình yêu là chuyện muôn đời, lại là chuyện rất riêng, “sống để bụng, chết mang theo”, mỗi người đều có những trải nghiệm mà người khác không có, thành ra, khi có dịp, nhất là dịp được công khai mở cửa trái tim, thầy cô nào cũng thao thao bất truyệt. Còn học trò thì há miệng nghe, như đàn chim non há mỏ chờ, khao khát. Và rồi giờ dạy trở thành giờ nói chuyện tình yêu. Thay vì phân tích khám phá, đánh giá tác phẩm, người giảng dạy lại chỉ dựa vào lời thơ để “tán”. Ngôn ngữ tán đạt đến sự tuyệt vời hơn cả sự tuyệt vời của bài thơ.
Cũng nên thông cảm, bởi trong chương trình Ngữ Văn 10 đến 12 đâu có tác phẩm nào đề cập trực diện đến tình yêu lứa đôi, điều mà trái tim lứa tuổi 18, đôi mươi đang rực lửa. Tình yêu của Thuý Kiều với Kim Trọng (Đoạn Trường Tân Thanh-Nguyễn Du) đã là “cổ” lắm rồi. Tình yêu của Chí Phèo và Thị Nở ư (Chí Phèo-Nam Cao)! chỉ tồn tại năm ngày và kết thúc bằng cái chết đẫm máu của Chí. Tương Tư của Nguyễn Bính chăng! thời đại công nghệ thông tin, chẳng còn bạn trẻ nào biết tương tư nữa. Nhớ nhau là bấm Smart phone, cần thì phóng lên xe, bay đến gặp, rồi quấn lấy nhau và… “yêu” thoải mái. Cặp đôi Tràng và người “vợ nhặt”(Vợ Nhặt-Kim Lân) có yêu nhau không hay bỗng dưng Tràng bị “đèo bòng”“của nợ đời” ? Mị và A Phủ (Vợ Chồng A Phủ- Tô Hoài) cùng nhau chạy trong rừng mấy tháng trời để trốn Pátra, không thấy nhà văn miêu tả họ yêu nhau thế nào. Chuyện tình của người đàn ông và người đàn bà chài (Chiếc Thuyền Ngoài Xa-Nguyễn Minh Châu) có tình có nghĩa và cuối cùng là…bạo hành, “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” không biết họ yêu nhau như thế nào?...
Thế nên Sóng là bài thơ đáp ứng đúng cái yêu cầu tâm lý của cả thầy lẫn trò, giờ học vô cùng say sưa, mê đắm, chia sẻ…
2.Sóng và “nghệ thuật “ diễn giải ngoài văn bản
Cho đến tận hôm nay, những lời có cánh này của Hoài Thanh viết về Thơ Mới (1930-1945) vẫn có ma lực ám ảnh nhiều người bình thơ :” “ Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.”(Một Thời Đại Trong Thi Ca).
Đó là cách bình thơ bằng trực giác cảm tính, không dựa trên những phương pháp khoa học để phân tích giá trị thơ. Nếu một người có tri thức rộng, trí tuệ sắc xảo, đọc nhiều, am hiểu thi pháp của nhiều nền thơ Đông-Tây , kim cổ ; lại có tấm lòng tri kỷ với văn chương, thì trực giác cảm tính của người ấy giúp cho họ nhận ra giá trị thơ ca rất nhanh, và có giá trị khả tín. Hoài Thanh là một nhà phê bình như thế. Bạn đọc bình thường cũng có thể cảm nhận thơ ca theo cách này. Chỉ cần đọc thoáng một lần, ta đã có thể nhận ra ngay một bài thơ hay, hay dở, mà chưa cần phải phân tích. Cảm thụ nghệ thuật là cảm thụ dựa trên cảm tính chủ quan.
Nhưng trong nhà trường, phân tích, giảng, bình thơ, không thể dựa vào cảm tính chủ quan, rồi áp đặt lên học sinh. Bởi tinh thần của thời đại hôm nay là tinh thần khoa học, chỉ những gì dựa trên phân tích khoa học mới có thể thuyết phục được người đọc. Phê bình văn học trở thành một khoa học, không còn là cảm thụ trong những lúc trà dư tửu hậu, những khi tom-chát rồi mặc sức tang bốc nhau bằng những lời châu ngọc như các cụ ngày xưa. Phê bình văn học phải dựa trên khoa học ngôn ngữ (những quy luật về dùng từ, về cú pháp, về ngữ pháp văn bản..), phải sử dụng những phương pháp có cơ sở khoa học (phương pháp phê bình Marxist, Phân Tâm Học, Phê Bình Mới, Cấu Trúc Luận, Giải Cấu Trúc, Thi Pháp Học, Phong Cách Học, các lý thuyết tiếp nhận văn học…)
Vậy mà, nhiều người phân tích bài thơ Sóng vẫn cứ ru học sinh trong những lời có cánh kiểu Hoài Thanh. Người ta cắt nhỏ bài thơ thành từng câu, rồi diễn giải ra ngoài văn bản tác phẩm (tán). Điều này có nguyên nhân của nó. Có thể là do quán tính bắt chước Hoài Thanh, cũng có thể là bất lực trước bức tường chữ nghĩa không thể vượt qua, khi tác phẩm văn chương được mã hoá bằng một kiểu tư duy nghệ thuật khác lạ (những người quen đọc tác phẩm Hiện Thực, sẽ bất lực khi tiếp cận với tác phẩm Siêu Thực). Vì thế, người phân tích thơ thoát ly văn bản, không bám vào cấu trúc tác phẩm để giải mã ý nghĩa, ngược lại, tự mình gán cho câu thơ những ý nghĩa mà cấu trúc văn bản không có. Không khám phá được cấu trúc văn bản cũng đồng nghĩa với sự bất lực trước toà lâu đài nghệ thuật, người phân tích thơ đành đứng bên ngoài mà tán tụng.
Xin đọc lời bình đoạn thơ sau :
- Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Sách Giáo Viên của Bộ Giáo Dục đã hướng dẫn thầy cô dạy học sinh như sau :”Soi vào lòng mình, đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về khởi nguồn của tình yêu của mình, nhân vật trữ tình ở đây đã nói lên được một quy luật sâu xa của tình yêu. Cái điều mà Xuân Diệu trước kia đã nói như tổng kết một chân lý ‘Làm sao cắt nghĩa được tình yêu’ thì nay Xuân Quỳnh lại phát hiện ra, nhưng bằng trực cảm, bằng tất cả lòng mình, như lời thú nhận thành thực, hồn nhiên mà ý nhị sâu sắc” (1)
Tác giả Nguyễn Đức Hùng (1) 10 năm sau Sách Giáo Viên, cũng viết như vậy :”Tình yêu phải chăng là sự hướng về, nhưng sự hướng về lại không biết đâu là nguyên nhân, đâu là cội nguồn? Tình yêu ở chỗ nào, những rung động do dâu mà có? Hình như con người vẫn và mãi mãi ‘bé thơ’, ‘ngơ ngác’ trước tình yêu? Bởi nó như là hiện thân của quy luật thiên nhiêu sâu xa và bí hiểm:
Từ nơi nào sóng lên
. . . . . . . . . . . . . . . .
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Đây cũng chính là lời thú nhận vừa hồn nhiên vừa trăn trở nhưng cũng ý nhị, sâu lắng :”Em cũng không biết nữa”. Xuân Diệu :”Ông hoàng thơ tình” cũng đã từng hồn nhiên thú nhận:”Làm sao cắt nghĩa được tình yêu…” (tr.174)
Cả hai lời giảng trên chỉ là diễn thành văn xuôi nghĩa tường minh của câu thơ, rồi tán về “quy luật sâu xa của tình yêu”, “ Xuân Quỳnh lại phát hiện ra, nhưng bằng trực cảm, bằng tất cả lòng mình…”. Lời “tán” của Nguyễn Đức Hùng thực sự thô thiển! “Tình yêu ở chỗ nào, những rung động do dâu mà có? Hình như con người vẫn và mãi mãi ‘bé thơ’, ‘ngơ ngác’ trước tình yêu? Bởi nó như là hiện thân của quy luật thiên nhiêu sâu xa và bí hiểm..””Tán” như thế này chính là giết chết lòng yêu thơ, yêu nghệ thuật trong lòng học sinh (ấy là chưa nói việc “đạo” ý tưởng cùa Sách Giáo Viên), và thật ái ngại khi nhà trường dạy cho người trẻ cách nghĩ, cách nói, cách viết sáo rỗng, giả dối, qua những giờ giảng văn diễn giải ngoài văn bản.
Thực ra không cần mất thì giờ để diễn xuôi nghĩa tường minh của khổ thơ, bởi học sinh 12 dư khả năng để đọc hiểu ý nghĩa câu nói bộc trực này “ - Sóng bắt đầu từ gió/ Gió bắt đầu từ đâu?/ Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”. Trong thực tế, các cô gái cũng dư trình độ để trả lời vấn đề “Gió bắt đầu từ đâu”. Đoạn thơ này là đoạn bản lề, để chuyển ý từ phần I sang phần II trong cấu trúc của bài thơ. Nếu cần giải mã ngôn ngữ thơ, thì cần làm rõ tính trí tuệ và nữ tính của thơ Xuân Quỳnh (đây mới thực sự là giá trị thẩm mỹ của khổ thơ). Và muốn nói thêm, thì nên đặt vấn đề, tại sao khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh lại tra hỏi về “sóng-gió” ? Đó là một thông điệp. Có thể nói với người trẻ về thông điệp này: bước vào tình yêu là bước vào sóng gió. Nếu thuyền tình không chắc, người cầm lái con thuyền không vững tay, thì con thuyền ấy sẽ đắm chìm. Bao nhiêu người trẻ đã trầm luân trong đau khổ, bất hạnh của tình yêu, là vì không vượt qua được sóng-gió…
3. Cấu trúc Sóng/Em
Nhìn tổng thể, bài thơ được cấu tứ thành ba đoạn. Mỗi đoạn tác giả khám phá hình tượng sóng trước, sau đó dùng sóng để đối sánh với tình yêu của nhân vật em, nâng tình yêu ấy lên. Xin đọc đoạn mở đầu.
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Nếu giảng từng khổ thơ, theo thứ tự, từ trên xuống, tức là phá vỡ cấu trúc đoạn thơ, người giảng thơ sẽ thất bại. Góc nhìn của nhân vật Em nằm ở khổ thứ ba. Em đang đứng trước bể nhìn sóng và suy nghĩ (cần chú ý điệp từ Em nghĩ, bộc lộ chất suy tư, kiều thơ tư tưởng của bài thơ). Khổ I và khổ II là nhận thức của Em khi nhìn sóng biển. Em không miêu tả sóng, mà nghĩ về biển rồi nhận ra những đặc tính trái ngược của sóng. Hình tượng Sóng ở phần mở đầu là sóng hiện thực, sóng biển, đối tượng suy tư khám phá của nhân vật em, và qua đó Em tỏ lộ tình yêu của mình. Sóng có những đặc tính trái ngược (Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ), nhưng cũng có những đặc tính vĩnh cửu (Ôi con sóng ngày xưa/ Và ngày sau vẫn thế).
Tình yêu cũng thế, cũng có những đặc tính trái ngược và vĩnh cửu như sóng, nhưng tình yêu còn là sự sống, sức sống của người trẻ (Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ). Xuân Quỳnh đã rất bạo khi dùng hình ảnh “bồi hồi trong ngực trẻ” để nói về một thuộc tính rất Người của tình yêu. Chỉ người trẻ mới yêu, mới cần yêu. Trái tim trẻ con và người già không có nhu cầu yêu. Ngực của một người cho biết thể lực và sức sống của người ấy. Một người nằm bất động trên giường, nếu ngực anh ta còn phập phồng, ta biết người ấy còn sống. Kim Lân miêu tả sự thảm thương của người “vợ nhặt” khi về nhà Tràng bằng hình ảnh, “Thị đảo mắt nhìn quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài…”. Tố Hữu diễn tả sức sống mãnh liệt của dân tộc trong Cách Mạng tháng Tám 1945 ,”Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh/ Thổi bùng lên. Tim bỗng hoá mặt trời”(Huế Tháng Tám ). Cũng chẳng phải vô tình, Chí Phèo đang yêu (được 5 ngày), bị bà cô Thị Nở ngăn cản, Chí xách dao đi “đến cái nhà con đĩ Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Mất tình yêu của Thị Nở, Chí mất tất cả.
Nói tất cả những điều ấy, Em gián tiếp tỏ lộ tình yêu của mình với anh trong tâm tưởng. Hình tượng sóng giúp cho sự bộc lộ tình yêu được kín đáo và sâu sắc. Trong bố cục khổ thơ, Xuân quỳnh đã dùng kỹ thuật của điện ảnh hiện đại. Màn hình hiện ngay lên, đột ngột, bất ngờ, một đối tượng : “ dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”. Câu thơ chỉ có Tính Từ, không có Danh Từ, nên người đọc không hiểu Xuân Quỳnh đang nói về điều gì. Ông kính camera lùi lại dần dần, khổ II, rồi khổ III, người đọc mới nhận ra đối tượng ấy là biển, sóng biển, rồi nhận ra một nhân vật nữ (Em) đang đứng nhìn biển. Em đang suy tư về biển, về anh/ em, về tình yêu. Em lặng im, độc thọai, đối thoại trong tâm tưởng với anh. Bài thơ trở thành dòng suy tư (không phải dòng tâm trạng), thơ trữ tình trở thành thơ trí tuệ. Ở vào thời điểm Xuân Quỳnh làm bài thơ này (1967), thì kỹ thuật này gây được ấn tượng mạnh về sự mới lạ.
4. Bí mật của ngôn ngữ
Hai khổ thơ cuối chứa đựng một bí mật của cấu trúc ngôn ngữ mà ít người do vô tình, không nhận ra, vì thế đành phải diễn giải ngoài văn bản (tán)
Tôi xin trích một đoạn giảng bình trong một tài liệu ôn thi “đáng tin cậy” do tập thể nhiều GS-TS, Ths. viết: (3)
“Xuân Quỳnh không miêu tả các cung bậc, sắc thái yêu mà đi tri nhận tình yêu ở khía cạnh dâng hiến và khao khát hoà nhập, dẫu biết sự hoà nhập kia vẫn chỉ luôn là vọng tưởng :
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Sự mong manh của kiếp người cũng là sự mong manh của kiếp tình. Con người đã không trường cửu thì làm gì có tình yêu trường cửu? Tuổi thanh xuân rồi sẽ chóng qua. Năm tháng vẫn lặng lẽ đi qua cuộc đời mà cuộc đời đâu thể níu giữ. Cảm giác về sự hữu hạn càng thôi thúc thêm cường độ yêu. Và càng yêu nhau say đắm, người đang yêu sẽ càng cảm thấy bất an trước sự nỗi chia lìa. Hình ảnh mây, biển, trời lại gợi cảnh trăng và nước trong thơ Hàn Mặc Tử: “có chở trăng về kịp tối nay” ? nhưng cả hai vẫn cũng vẫn cứ gợi cảm thức chia lìa : Như biển kia dẫu rộng/ Mây vẫn bay về xa” (tr.178-179)
Đoạn văn phân tích được viết bằng một kỹ thuật khá điêu luyện, lướt từ ý này sang ý khác, có vẻ uyên bác, có vẻ trải đời. Người viết xoay nhiều góc độ để quán chiếu đoạn thơ, rồi tiên đoán, dự cảm những khả năng, những suy nghiệm từng trải trong tình yêu. Nhưng cũng không sao che dấu được sự bất lực trướclâu đài ngôn ngữ thơ, không sao thâm nhập được vào cấu trúc ngôn ngữ của khổ thơ, nên đành đoán mò, và diễn giải lấy được. Làm gì có “Sự mong manh của kiếp người” trong khổ thơ này, làm gì có “thôi thúc thêm cường độ yêu.” Khổ thơ không có chữ nào nói đến “tuổi thanh xuân rồi sẽ qua”, “Và càng yêu nhau say đắm, người đang yêu sẽ càng cảm thấy bất an trước sự nỗi chia lìa” như trong Vội Vàng của Xuân Diệu. Sao lại cố ép Xuân Quỳnh giống Hàn Mặc Tử?! Nếu học sinh cần nắm “kiến thức cơ bản “ của khổ thơ này, thì qua đọan phân tích trên, học sinh sẽ nắm điều gì!
Đoạn kết gồm hai khổ thơ, là đoạn suy tư giàu chất trí tuệ về những quy luật của cuộc đời.
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Chúng ta chú ý đến cấu trúc câu có những từ nối “Tuy, dẫu” và những phó từ “vẫn”. Khổ thơ gồm những câu ghép có cặp từ nối tương phản : “Tuy… nhưng; dẫu.. thì…” Xuân Quỳnh viết vế câu phía trước với nghĩa tường minh, và người đọc phải hiểu ẩn ý phía sau, có nghĩa tương phản.
Cuộc đời tuy dài thế (nhưng đời ta thì ngắn ngủi, “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy”- giới hạn về thời gian). Biển dẫu rộng (thì vẫn có bến bờ. Kha Luân Bố lênh đênh mãi trên biển, rồi cũng đến bờ chây Mỹ- tức là giới hạn về không gian). Thời gian đi qua, mây vẫn bay, đó là hai hiện tượng tự nhiên được dùng để nêu một chân lý. Từ “vẫn” được lặp lại, khẳng định tính quy luật của vấn đề. Quy luận đó là : Con người bị giới hạn trong thời gian và không gian, đó là một tất yếu, tất yếu như sự chuyển dịch của thời gian, sự biến đổi của mây. Xuân Quỳnh suy tư về những quy luật của đời sống hiện tại, tiếp cận với tư tưởng triết học. Nắm được quy luật ấy, Xuân quỳnh muốn vượt qua giới hạn, để vươn tới vĩnh cửu, thể hiện khát vọng về một tình yêu lớn, được yêu mãi ngàn năm. Sóng trở thành hình ảnh tượng trưng cho khát vọng của Xuân Quỳnh. Ta nói sóng trở thành biểu tượng cho khát vọng của Xuân Quỳnh, bởi những điều XQ mong muốn không thể thành hiện thực trong cỏi đời này.
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Đễ ngàn năm còn vỗ
5. Sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Xuân Quỳnh
Sách Giáo Viên của Bộ Giáo Dục kết luận thế này :”Mặc dù có những câu thơ còn nhẹ, chưa nhiều câu thật cô đọng, nhưng Sóng là bài thơ có cái hay ở toàn bài của tình cảm chân thành tha thiết và tự nhiên, hồn hậu, có chỗ đạt đến sâu sắc”(tr.168). Thầy cô dạy lớp 12 sẽ triển khai đánh giá này như thế nào?
Tôi nghĩ, cần phải khám phá cho được sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Xuân Quỳnh, bởi chính điều ấy mới làm nên giá trị bài thơ và cốt cách thơ Xuân Quỳnh, mới làm say lòng bao thế hệ độc giả, và bài thơ vẫn đứng được dù ngày hôm nay bạn trẻ đã yêu rất khác.
Trước XQ, nhiều nhà thơ đã viết về tình yêu. Hồ Xuân Hương dùng trầu, cau làm chất liệu (Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi-Mời Trầu). Tản Đà dùng hình ảnh con thuyền của ca dao:”Thuyền tình một chiếc con con/ Khoan khoan tay lái, ai còn đợi ai?...(4) Nguyễn Bính cũng khai thác giọng điệu và chất liệu thơ ca dân gian :”Nhà em có một giàn giầu/ Nhà anh có một hàng cau liên phòng” (Tương tư). Ca Dao viết :”Thuyền ơi có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”; “Khăn thương nhớ ai/ khăn vắt lên vai…” XQ khai thác hình tượng Sóng (biển ) để khám phá, thể hiện tình yêu. Cái nhìn về tình yêu của XQ vượt thời gian, không gian (ôi con sóng ngày xưa/ và ngày sau vẫn thế..Trong biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ). Khám phá hình tượng sóng để diễn tả đặc điểm của tình yêu là một khám phá đặc biệt sáng tạo. Tình yêu cũng như sóng (đặc điểm trái ngược và vĩnh cửu), Em hoá thân vào sóng để tỏ lộ chiều kích lớn lao của tình yêu của mình (chiều không gian, chiều thời gian, chiều tâm thức), Em cũng khẳng định những giá trị của tình yêu (như sự thuỷ chung, một tình yêu rộng lớn vĩnh cửu, không phải thứ tình yêu vị kỷ nhỏ hẹp…). So sánh sóng với trầu, cau, thuyền, bến, chiếc áo, cây cầu, miếng ngói… thì tầm vóc của sóng lớn lao hơn nhiều. Điều đáng nói là, qua sóng, Xuân Quỳnh đạt tới sự tiếp cận tư tưởng. Những người làm thơ tình yêu đi sau Xuân Quỳnh khó mà vượt qua được XQ trong việc khám phá tứ thơ giàu chất trí tuệ, và có tầm vóc lớn lao như Sóng.
Hình tượng sóng trở thành một hình tượng đối sánh với nhân vật em. Hình tượng này được phát triển trong suốt bài thơ, từ sóng biển- sóng hiện thực, thành sóng hoá thân của Em và sóng tượng trưng cho khát vọng tình yêu của em. Đây là hình tượng tư tưởng, bởi sóng là đối tượng suy tư, khám phá của XQ, sóng không phải là vật thể, khách thể vật chất như Nguyễn Tuân miêu tả trong Người Lái đò Sông Đà :”Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…” Điều này nâng chất trí tuệ thơ Xuân Quỳnh, mà Sách Giáo Viên gọi là có chỗ đạt đến sâu sắc.
Hình tượng Em cũng là một hình tượng có màu sắc riêng, đó là người phụ nữ đang yêu, vừa có nét truyền thống, vừa có phẩm chất hiện đại.Truyền thống ở tình yêu thuỷ chung, sự kín đáo nữ tính, giàu đức hy sinh (nhận về mình tất cả những thiệt thòi trong tình yêu cách trở xuôi ngược). Hiện đại ở hình ảnh người phụ nữ suy tư sâu sắc, có tầm tư duy rộng trong thời gian và không gian. Người phụ nữ ấy tự tra hỏi tìm ra ý nghĩa tình yêu, giá trị cuộc sống, độc thoại, đối thoại trong tâm tưởng chia sẻ với anh. Và trong tương quan với anh, người phụ nữ hoàn toàn tự lập, không lệ thuộc vào anh, thẳng thắn bộc lộ tình yêu. Nếu thân phận HXH trong Tự Tình, đầy xót xa, thì tính cách Em trong Sóng đầy bản lĩnh.
Điều đọng lại trong lòng người đọc, và cũng là thông điệp đáng trân trọng của XQ, là khát vọng về một tình yêu mãnh liệt, sâu sắc, rộng lớn trong không gian, vĩnh cửu với thời gian. Đó cũng là khát vọng của mọi người yêu nhau trong cõi thế gian này.
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Đễ ngàn năm còn vỗ
_____________
(1) Tr.166 - Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000
(2). Nguyễn Đức Hùng - Cẩm nang ôn luyện môn Văn- thi vào Cao Đẳng-Đại Học,Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2011)
(3) Ngữ Văn- Ôn thi tốt nghiệp và tuyển sinh quốc gia. Nhóm tác giả : PGS-TS Lê Huy Bắc, TS Phan Huy Dũng, PGS-Ts Nguyễn Đăng Điệp, Ts Đào Thị Thu Hằng, PGS-Ts Lê Quang Hưng, Ths Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Ts Nguyễn Văn Phương, Ts Chu Văn Sơn, GS.Ts Trần Đăng Chuyển, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2011.
(4) Tản Đà-Hơn nhau một chén rượu mời-Tuyển tập tản Đà, Nxb Văn Học, Hà nội. 1986. Tr. 87
Sáng tác ca khúc, truyện ngắn và phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn. Bạn cũng có thể đọc BCT tại http://yume.vn/buicongthuan
Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013
Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013
ĐẤT NƯỚC - Nguyễn Khoa Điềm
Đất Nước là Đất Nước nhân dân
(Đọc đoạn trích ĐẤT NƯỚC, chương V Mặt Đường Khát Vọng của Nguyễn Khoa Điềm)
Bùi Công Thuấn
Đoạn trích Đất Nước, chương V trường ca Mặt Đường Khát Vọng của Nguyễn Khoa Điềm là một bài rất khó giảng trong chương trình Văn lớp 12.(SGK Văn 12, tập I, tr. 117, Nxb Giáo dục). Sách Giáo Viên lớp 12 (tập 1, Nxb Giáo Dục tr. 174) tuy có hướng dẫn tổng quát, song không đi vào chi tiết giảng thơ, thành ra thầy cô dạy 12 vẫn phải tự mình mày mò giải mã tác phẩm và lại loay hoay tìm cách hướng dẫn học sinh học tập. Và dường như xoay cách nào, vẫn không thấy an tâm với việc khám phá ý nghĩa thật của tác phẩm. Với thời lượng 2 tiết, việc đọc hiểu đoạn trích đã là vất vả, còn nói gì đến giảng giải, phân tích, cảm thụ một đoạn thơ hay. Trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều với thầy cô dạy lớp 12 về những gì mà Sách Giáo Viên không nói đến, và chia sẻ một cách tiếp cận khác đối với bài thơ này
1.Đất Nước là thơ Chính luận…
Chính luận –trữ tình là kiểu thơ đặc sắc của thơ ca chống Mỹ, là sự kết tinh giữa cảm xúc và suy tư. Thơ là dòng chảy tâm trạng của nhân vật trữ tình thông qua tứ thơ. Tư duy thơ là tư duy hình tượng. Chính luận thuộc kiểu tư duy logic, là suy tư, nhận thức, bàn luận. Đặc trưng của chính luận là nghệ thuật lập luận. Hai kiểu tư duy này trái ngược nhau, nhưng lại có thể kết hợp để tạo ra một kiểu thơ trí tuệ trong thơ ca Việt Nam đương đại, nâng thơ ca VN lên bước phát triển mới so với thơ ca kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Đất Nước là một thành công đặc biệt của kiểu tư duy chính luận –trữ tình, trí tuệ mà dân dã, truyền thống mà hiện đại. Cái hay của thơ Chính luận-trữ tình là cái hay trí tuệ, không phải cái hay cảm tính, vì thế, nếu không hiểu được nội dung thơ, không hiểu sự khám phá trí tuệ của nhà thơ, thì không thể cảm nhận được giá trị thẩm mỹ của thơ.
Xin đọc đoạn thơ mở đầu
Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó..
Cấu trúc đoạn thơ là một lập luận quy nạp. Câu mở đầu và câu kết, mở ra và chốt lại chủ đề : Đất nước đã có từ lâu đời, từ “ngày xửa ngày xưa”. Những tứ thơ nằm ở giữa đoạn là chất liệu, nhằm chứng minh cho chủ đề, khẳng định lập luận của tác giả.
Điệp từ “có” khẳng định sự tồn tại của Đất Nước.
Tác giả không nói Đất Nước là gì, mà khám phá ra sự tồn tại của Đất Nước. Người đọc theo chỉ dẫn của tác giả, mà tự mình khám phá ra Đất Nước. “Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể”, tức là có trong cổ tích. Đọc truyện Họ Hồng Bàng, ta hiểu cội nguồn dân tộc từ Lạc Long Quân-Âu Cơ truyền lại 18 đời vua Hùng, hiểu những truyền thống cao đẹp của ĐN. ĐN là miếng trầu của bà, là búi tóc của mẹ, là cái tên của ta, là hạt gạo ta ăn. Do đâu tác giả có thể khẳng định điều ấy ? Bởi vì, chỉ có người VN mới có tục ăn trầu. Người VN “búi tó của hành làm anh thiên hạ” khác với người Hoa tết tóc đuôi sam... Người VN đặt tên con bằng những vật dụng mộc, cái kèo, cái cột, thằng tí thằng tèo, khác với người Hoa đặt tên chữ. Hạt gạo cũng là ĐN, bởi hạt gạo VN nhiều mồ hôi, nhiều tình nghĩa “Một nắng hai sương” khác hạt gạo Mỹ sản xuất bằng máy móc công nghiệp.
Vâng, ĐN là những cái cụ thể, thiết thân. ĐN không phải là cái xa với ở ngoài ta. Nguyễn Khoa Điềm nhắc đến miếng trầu của bà, bới tóc của mẹ, tình thương của cha mẹ là để nói đến mối quan hệ máu thịt , thiết thân của ta với ĐN, như ta với bà, với mnẹ, với mẹ cha.
Hiểu như thế, mới chỉ là hiểu trên mặt cấu trúc tường minh, còn một lớp nghĩa khác nằm ngoài cấu trúc. ĐN có những truyền thống cao đẹp ngàn đời. Truyền thống “trồng tre đánh giặc”, tức là truyền thống đánh giặc anh hùng khởi đi từ Gióng. Truyền thống thuỷ chung : “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Câu thơ này không thể hiểu bằng nghĩa tường minh, mà nghĩa nằm trong một liên văn bản. Ca dao có câu :”Tay bưng đĩa muối chén gừng/ gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”. Cha mẹ thương nhau bằng tình nghĩa thuỷ chung, câu thơ mượn tình ý ở vế ẩn “xin đừng quên nhau”để nói về một truyền thống cao đẹp của gia đình VN. Gia đình Phong kiến Trung Hoa thì “năm thê bảy thiếp”, phương Tây thì lứa đôi li dị như thay áo, chỉ có người VN mới sống thuỷ chung, vì cha mẹ cùng chia nhau “gừng cay muối mặn”, gian khổ ngọt bùi.
Người đọc vẫn còn băn khoăn ở những từ, tuy thoáng qua, nhưng không thể không giải mã. Chẳng hạn, ĐN đã có 4000 năm lịch sử, sao tác giả lại có thể viết :” Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”? Hai chữ “bắt đầu” và “bây giờ”tạo nên một ngữ nghĩa thật lạ lùng. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu hay ĐN bắt đầu bây giờ”? Cả khi hiểu ĐN bắt đầu từ khi có miếng trầu (truyện trầu cau thời vua Hùng) cũng không ổn. Phải Giải Cấu Trúc câu để tìm đến liên văn bản. Người Việt có tục ăn trầu, “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Chữ “bắt đầu” trong câu thơ có nguồn từ câu tục ngữ này. Cả câu thơ chỉ có nghĩa, miếng trầu bà ăn hôm nay, tuy đã có từ thời vua Hùng, cũng là đất nước.
Câu thơ sau đây còn lạ lùng hơn nữa về một kiểu ngôn ngữ thơ.
“Tóc mẹ thì bới sau đầu”
Đọc ở mặt văn bản thì câu này chỉ là một câu văn nói vụng về, lủng củng (thì, là, mà…). Vậy “chất thơ” thể hiện ở yếu tố nào ? Tôi nói đây là câu văn nói vụng về bởi câu văn có thể viết lại cho trong sáng hơn : “tóc mẹ bới sau đầu”. Ngay cả viết như thế, câu văn cũng không đem lại một thông tin nào mới mẻ. Bởi tóc ai mà không bới sau đầu, chẳng nhẽ lại bới tóc trước đầu (?!). Ấy vậy mà câu văn nói vụng về ấy lại là một câu thơ. Thật không dễ phát hiện ra chất thơ của phát ngôn này. Chất thơ được tạo ra ở chữ “thì”. Đó là một điều lạ lùng của ngôn ngữ. Từ “thì” được dùng để nhấn mạnh,(nghĩa tu từ, không phải nghĩa từ vựng) và nhấn mạnh vào búi tóc. Người đọc buộc phải suy nghĩ xem tại sao tác giả khẳng định búi tóc của mẹ cũng là Đất Nước. Đến Đây, buộc ta phải quan sát, so sánh. Người Việt búi tó củ hành, khác với người Hoa tết tóc đuôi sam. Phụ nữ phương Tây thì uốn tóc. Nếu có ba người phụ nữ khác nhau về quốc tịch : Hoa, Pháp, Việt, thì ta có thể nhận ra ngay người phụ nữ VN qua búi tóc. Nhận ra búi tóc cũng là là nhận ra ĐN. Tác giả bước thêm một bước nhận thức : búi tóc của mẹ cũng là Đất Nước.
Để hiểu Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, cần phải giảng giải cận kẽ nghệ thuật ngôn ngữ, kiểu tư duy thơ rất riêng của NKĐ như vậy. Nếu không, sẽ chỉ là “tán”, là “đoán mò” ngữ nghĩa, và không thể nhận ra chất thơ, và cái hay của kiểu thơ trí tuệ. Điều đặc sắc là NKĐ đã khám phá và khẳng định sự tồn tại của Đất Nước từ văn hoá, tục ngữ, ca dao, cổ tích, phong tục… Bởi bản sắc của một dân tộc nằm trong văn hoá, lịch sử, lối sống. Nhiều người nước ngoài không phân biệt được văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Quốc. Khẳng định sự tồn tại của đất nước qua sự tồn tại của một nền văn hoá lâu đời, có bản sắc riêng, là một khẳng định đầy tính thuyết phục. Và người đọc, nếu không có vốn văn hoá này, và không hiểu kiểu tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm thì không thễ cảm thụ đoạn thơ.
2. Đất nước là thơ trữ tình
Nhiều khi thầy cô quá thiên về khai thác những ý nghiã chính luận của đoạn thơ mà dễ dàng bỏ qua chất trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
NKĐ đã triển khai một hệ thống ý tưởng để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước là của nhân dân. Mở đầu tác giả khẳng định ĐN đã tồn tại lâu đời. ĐN là một thể thống nhất, ĐN do nhân dân hoá thân thành và ĐN là của nhân dân. Nhà thơ kêu gọi mỗi người phải có trách nhiệm “gắn bó và san sẻ” trách nhiệm với ĐN, kêu gọi mọi người “hoá thân “ để làm nên ĐN muôn đời
Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Đoạn thơ hoàn toàn là là một lời kêu gọi chính luận. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ chính luận, là lời kêu gọi trực tiếp. Đoạn này được ra thi Tú Tài, hầu hết thí sinh sẽ phân tích thơ như làm một bài chính luận, có chăng chỉ khác một chút là cố gắng “tán” mấy từ “hoá thân cho dáng hình xứ sở”, và cũng chỉ tán chung chung mơ hồ, không thể giải mã được gì. Tất nhiên, nếu xét về tư tưởng, thầy cô vẫn khai thác được những ý tứ có chiều sâu. Chẳng hạn, tư tưởng “ĐN là máu xương của mình”. Đây là ý thức yêu nước sâu sắc. Chỉ đến thơ thời kỳ chống Mỹ mới đạt đến. Thơ thời kháng chiến chống Pháp tình cảm yêu nước lồng trong tình quê hương (chẳng hạn, bài thơ Đồng Chí-Chính Hữu). Văn học trung đại thể hiện tư tưởng yêu nước Thiên Mệnh (Sông Núi Nước Nam), yêu nước trung nghĩa (Hịch Tướng Sĩ), yêu nước nhân nghĩa (Bình Ngô Đại Cáo). Đến Nguyễn Đình Chiểu , yêu nước là yêu “tấc đất ngọn rau ơn chúa”. Phan Bội Châu thì hát bài ca Ái Quốc: ” Nay ta hát một thiên ái quốc/ Yêu gì hơn yêu nước nhà ta/ Trang nghiêm bốn mặt sơn hà/ Ông cha để lại cho ta lọ vàng…”(Ái quốc). Yêu nước là yêu núi sông gấm vóc do cha ông để lại…Nhưng nếu giảng như thế, đoạn thơ hoàn toàn thiên về tư tưởng chính luận, làm mất đi chất thơ của đoạn trích
Trong tình huống như vậy, cần phải khai thác chất trữ tình trong thơ NKĐ.
Trong cụm từ “em ơi em” thì nhân vật em là ai. Những từ “ta, anh, em, dân mình, đồng bào ta, con ta..” bộc lộ cảm xúc gì của tác giả ?
Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi…
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn…
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ…
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng…
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Nhà thơ đã nhập thân vào ĐN, đã hoá thân để nói tiếng nói sâu thẳm trong lòng mỗi người, bộc lộ trực tiếp những tình cảm với ĐN, khiến cho câu thơ không cần giảng nghĩa mà vẫn có thể cảm được. Thực ra những tiếng nói như thế đã là tiếng nói của cả dân tộc từ khi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc lập. Người tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết…
3.Sự hài hoà chính luận-trữ tình làm nên đặc sắc của Đất Nước.
Đoạn thơ sau đây có thể là tiêu biểu
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Chủ đề đoạn thơ là câu cuối cùng:” Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”. Chủ đề này được triển khai bằng một đoạn quy nạp. Tám câu đầu là những trường hợp cụ thể sự hoá thân của nhân dân thành Đất Nước. Bốn câu cuối là khái quát sự hoá thân của nhân dân trong không gian, trong thời gian lịch sử.
Nếu chỉ trình bày ý tưởng chính luận ấy của đoạn thơ thì sẽ không sao cảm nhận được tài thơ của ngòi bút NKĐ. Hãy nhìn vào cấu trúc của 8 câu thơ đầu. Tất cả các câu đều có cùng một cấu trúc ngữ pháp (tu từ cú pháp). Vế trước của mỗi câu là nhân vật, phía sau của câu là một di tích , một địa danh. Tác giả khám phá ra ĐN từ những di tích, địa danh, và khám phá ra sự hoá thân của nhân dân thành ĐN.
Tại sao tác giả lại đưa lên đầu đọan hình ảnh người phụ nữ?
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Từ sự tích Hòn Vọng Phu, người đọc khám phá ra ý nghĩa này, lịch sử 4000 năm của dân tộc là lịch sử chống ngoại xâm. Những người mẹ, người vợ đã dâng hiến con mình, chồng mình cho ĐN, hy sinh hạnh phúc, hy sinh tuổi thanh xuân. Nếu không có sự hy sinh âm thầm, lớn lao ấy của những người mẹ, người vợ, ĐN này đã không thể tồn tại. Ngay trong thời đại chúng ta, có người mẹ anh hùng hy sinh 7 người con. Mẹ đã đi từ bắc chí nam, theo dấu chân hành quân của đơn vị để tìm mộ con, nhưng đến đâu cũng chỉ tìm thấy mộ tập thể của đồng đội con. Những người vợ nhớ chồng đáng tôn kính biết bao.
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình điều gì?
Học trò Việt Nam xưa nay vốn nghèo, lấy gì mà đóng góp ? Còn nhớ chuyện học trò nghèo Trần Minh khố chuối. Nghèo đến thế thì lấy gì mà góp cho ĐN? “Núi Bút non Nghiên” là một di tích, trở thành biểu tượng cho sự đóng góp to lớn của anh học trò nghèo. Một nhân vật lịch sử có thể làm rõ ý tưởng này. Nguyễn Trãi là con của Nguyễn Phi Khanh, vốn là người học trò nghèo. Thế nhưng, những gì Nguyễn Trãi “góp” cho ĐN này, khó có ai sánh bằng. Tư tưởng nhân nghĩa, Bình Ngô Đại Cáo, thơ Quốc Âm, Lam Sơn Thực Lục, Dư Địa Chí, Quân Trung Từ Mệnh Tập là những tác phẩm vô giá cho đời sau. Nguyễn Trãi trở thành danh nhân văn hoá thế giới. Trở thành niềm tự hào của dân tộc này.
Khai thác những ý tưởng như thế của hình ảnh thơ, sẽ chạm đến giải tầng tình cảm sâu thẳm trong lòng học sinh về nhân dân và đất nước mình. Để rồi sau đó, ở 4 câu cuối, tình cảm ấy sẽ cất lên thành niềm yêu mến, tự hào có sức ngân vang sử thi. Tình cảm yêu mến tự hào về đất nước của tác giả hoà trong bai ca, ca ngợi sự hoá thân của nhân dân thành ĐN.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Trong phần khái quát này, NKĐ tiếp tục khám phá ĐN bằng những suy tư không dễ giải mã.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha.
Tác giả nhìn thấy căn gốc Việt, bản lĩnh Việt, sức mạnh Việt là ở nông thôn, tận những “ruộng đồng gò bãi”, hiển lộ trong dáng hình, trong ao ước và trong lối sống ông cha. Đó là cái nhìn vừa có chất sử thi, vừa đậm màu sắc tâm linh (địa linh nhân kiệt). Dáng hình đó là gì, cha ông có ao ước gì, lối sống ông cha là lối sống thế nào ?
Để trả lời câu hỏi này, cần phải trở lại hệ thống hình ảnh ở trên, tìm ý nghĩa trong, những người vợ, Gióng, Hùng Vương, anh học trò nghèo, con voi, con rồng, con cóc con gà, ông Đốc, ông Trang, Bà Đen Bà Điểm, cả những con người không tên. Đó là dáng hình yêu nước anh hùng của Gióng, là ao ước hoà bình của những người vợ chờ chồng đi chiến trường, là khát vọng cống hiến cho đất nước của người trí thức nghèo, là lối sống giản dị nghĩa tình (con cóc con gà-những người lao động bình dân), lối sống lấy sự hoà mình, tự nguyện vì cộng đồng (Ông Đốc, ông Trang), khác rất xa với lối sống vị kỷ, cá nhân thực dụng chủ nghĩa của một bộ phận người Việt hôm nay. Nếu cảm nhận được như vậy, ta sẽ thấy yêu thêm đất nước mình, quý mến trân trọng hơn nhân dân mình.
Vì tác giả khai thác vốn văn hoá làm chất liệu thơ, người đọc cũng phải có vốn văn hoá dân tộc mới cảm hiểu được những suy tư của tác giả. Sức hấp dẫn của thơ trí tuệ là ở năng lực trí tuệ khám phá những ý tưởng thơ. Người xưa nói , “vô tri bất mộ”, không hiểu thì không yêu mến. Không biết đất Tổ Hùng Vương có 99 ngọn núi nằm như 99 con voi phục, thì sao hiểu được tầm trí tuệ cha ông thời mở nước, để đất nước này tồn tại mãi với muôn đời. Không biết ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm là ai, sao có thể hiểu tính cách con người phương Nam. Không hiểu Gióng thì không thể hiểu sức mạnh Việt Nam. Thế mới biết, giảng văn đòi hỏi thầy cô một trình độ hiểu biết sâu sắc văn hoá dân tộc mình, một tấm lòng yêu tha thiết nhân dân mình, và một lòng nhiệt thành cháy mãi khôn nguôi truyền lửa cho học sinh thân yêu của mình. Đất Nước là một đoạn trích hay và sâu sắc.
Tháng 6 năm 2013
(Đọc đoạn trích ĐẤT NƯỚC, chương V Mặt Đường Khát Vọng của Nguyễn Khoa Điềm)
Bùi Công Thuấn
Đoạn trích Đất Nước, chương V trường ca Mặt Đường Khát Vọng của Nguyễn Khoa Điềm là một bài rất khó giảng trong chương trình Văn lớp 12.(SGK Văn 12, tập I, tr. 117, Nxb Giáo dục). Sách Giáo Viên lớp 12 (tập 1, Nxb Giáo Dục tr. 174) tuy có hướng dẫn tổng quát, song không đi vào chi tiết giảng thơ, thành ra thầy cô dạy 12 vẫn phải tự mình mày mò giải mã tác phẩm và lại loay hoay tìm cách hướng dẫn học sinh học tập. Và dường như xoay cách nào, vẫn không thấy an tâm với việc khám phá ý nghĩa thật của tác phẩm. Với thời lượng 2 tiết, việc đọc hiểu đoạn trích đã là vất vả, còn nói gì đến giảng giải, phân tích, cảm thụ một đoạn thơ hay. Trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều với thầy cô dạy lớp 12 về những gì mà Sách Giáo Viên không nói đến, và chia sẻ một cách tiếp cận khác đối với bài thơ này
1.Đất Nước là thơ Chính luận…
Chính luận –trữ tình là kiểu thơ đặc sắc của thơ ca chống Mỹ, là sự kết tinh giữa cảm xúc và suy tư. Thơ là dòng chảy tâm trạng của nhân vật trữ tình thông qua tứ thơ. Tư duy thơ là tư duy hình tượng. Chính luận thuộc kiểu tư duy logic, là suy tư, nhận thức, bàn luận. Đặc trưng của chính luận là nghệ thuật lập luận. Hai kiểu tư duy này trái ngược nhau, nhưng lại có thể kết hợp để tạo ra một kiểu thơ trí tuệ trong thơ ca Việt Nam đương đại, nâng thơ ca VN lên bước phát triển mới so với thơ ca kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Đất Nước là một thành công đặc biệt của kiểu tư duy chính luận –trữ tình, trí tuệ mà dân dã, truyền thống mà hiện đại. Cái hay của thơ Chính luận-trữ tình là cái hay trí tuệ, không phải cái hay cảm tính, vì thế, nếu không hiểu được nội dung thơ, không hiểu sự khám phá trí tuệ của nhà thơ, thì không thể cảm nhận được giá trị thẩm mỹ của thơ.
Xin đọc đoạn thơ mở đầu
Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó..
Cấu trúc đoạn thơ là một lập luận quy nạp. Câu mở đầu và câu kết, mở ra và chốt lại chủ đề : Đất nước đã có từ lâu đời, từ “ngày xửa ngày xưa”. Những tứ thơ nằm ở giữa đoạn là chất liệu, nhằm chứng minh cho chủ đề, khẳng định lập luận của tác giả.
Điệp từ “có” khẳng định sự tồn tại của Đất Nước.
Tác giả không nói Đất Nước là gì, mà khám phá ra sự tồn tại của Đất Nước. Người đọc theo chỉ dẫn của tác giả, mà tự mình khám phá ra Đất Nước. “Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể”, tức là có trong cổ tích. Đọc truyện Họ Hồng Bàng, ta hiểu cội nguồn dân tộc từ Lạc Long Quân-Âu Cơ truyền lại 18 đời vua Hùng, hiểu những truyền thống cao đẹp của ĐN. ĐN là miếng trầu của bà, là búi tóc của mẹ, là cái tên của ta, là hạt gạo ta ăn. Do đâu tác giả có thể khẳng định điều ấy ? Bởi vì, chỉ có người VN mới có tục ăn trầu. Người VN “búi tó của hành làm anh thiên hạ” khác với người Hoa tết tóc đuôi sam... Người VN đặt tên con bằng những vật dụng mộc, cái kèo, cái cột, thằng tí thằng tèo, khác với người Hoa đặt tên chữ. Hạt gạo cũng là ĐN, bởi hạt gạo VN nhiều mồ hôi, nhiều tình nghĩa “Một nắng hai sương” khác hạt gạo Mỹ sản xuất bằng máy móc công nghiệp.
Vâng, ĐN là những cái cụ thể, thiết thân. ĐN không phải là cái xa với ở ngoài ta. Nguyễn Khoa Điềm nhắc đến miếng trầu của bà, bới tóc của mẹ, tình thương của cha mẹ là để nói đến mối quan hệ máu thịt , thiết thân của ta với ĐN, như ta với bà, với mnẹ, với mẹ cha.
Hiểu như thế, mới chỉ là hiểu trên mặt cấu trúc tường minh, còn một lớp nghĩa khác nằm ngoài cấu trúc. ĐN có những truyền thống cao đẹp ngàn đời. Truyền thống “trồng tre đánh giặc”, tức là truyền thống đánh giặc anh hùng khởi đi từ Gióng. Truyền thống thuỷ chung : “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Câu thơ này không thể hiểu bằng nghĩa tường minh, mà nghĩa nằm trong một liên văn bản. Ca dao có câu :”Tay bưng đĩa muối chén gừng/ gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”. Cha mẹ thương nhau bằng tình nghĩa thuỷ chung, câu thơ mượn tình ý ở vế ẩn “xin đừng quên nhau”để nói về một truyền thống cao đẹp của gia đình VN. Gia đình Phong kiến Trung Hoa thì “năm thê bảy thiếp”, phương Tây thì lứa đôi li dị như thay áo, chỉ có người VN mới sống thuỷ chung, vì cha mẹ cùng chia nhau “gừng cay muối mặn”, gian khổ ngọt bùi.
Người đọc vẫn còn băn khoăn ở những từ, tuy thoáng qua, nhưng không thể không giải mã. Chẳng hạn, ĐN đã có 4000 năm lịch sử, sao tác giả lại có thể viết :” Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”? Hai chữ “bắt đầu” và “bây giờ”tạo nên một ngữ nghĩa thật lạ lùng. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu hay ĐN bắt đầu bây giờ”? Cả khi hiểu ĐN bắt đầu từ khi có miếng trầu (truyện trầu cau thời vua Hùng) cũng không ổn. Phải Giải Cấu Trúc câu để tìm đến liên văn bản. Người Việt có tục ăn trầu, “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Chữ “bắt đầu” trong câu thơ có nguồn từ câu tục ngữ này. Cả câu thơ chỉ có nghĩa, miếng trầu bà ăn hôm nay, tuy đã có từ thời vua Hùng, cũng là đất nước.
Câu thơ sau đây còn lạ lùng hơn nữa về một kiểu ngôn ngữ thơ.
“Tóc mẹ thì bới sau đầu”
Đọc ở mặt văn bản thì câu này chỉ là một câu văn nói vụng về, lủng củng (thì, là, mà…). Vậy “chất thơ” thể hiện ở yếu tố nào ? Tôi nói đây là câu văn nói vụng về bởi câu văn có thể viết lại cho trong sáng hơn : “tóc mẹ bới sau đầu”. Ngay cả viết như thế, câu văn cũng không đem lại một thông tin nào mới mẻ. Bởi tóc ai mà không bới sau đầu, chẳng nhẽ lại bới tóc trước đầu (?!). Ấy vậy mà câu văn nói vụng về ấy lại là một câu thơ. Thật không dễ phát hiện ra chất thơ của phát ngôn này. Chất thơ được tạo ra ở chữ “thì”. Đó là một điều lạ lùng của ngôn ngữ. Từ “thì” được dùng để nhấn mạnh,(nghĩa tu từ, không phải nghĩa từ vựng) và nhấn mạnh vào búi tóc. Người đọc buộc phải suy nghĩ xem tại sao tác giả khẳng định búi tóc của mẹ cũng là Đất Nước. Đến Đây, buộc ta phải quan sát, so sánh. Người Việt búi tó củ hành, khác với người Hoa tết tóc đuôi sam. Phụ nữ phương Tây thì uốn tóc. Nếu có ba người phụ nữ khác nhau về quốc tịch : Hoa, Pháp, Việt, thì ta có thể nhận ra ngay người phụ nữ VN qua búi tóc. Nhận ra búi tóc cũng là là nhận ra ĐN. Tác giả bước thêm một bước nhận thức : búi tóc của mẹ cũng là Đất Nước.
Để hiểu Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, cần phải giảng giải cận kẽ nghệ thuật ngôn ngữ, kiểu tư duy thơ rất riêng của NKĐ như vậy. Nếu không, sẽ chỉ là “tán”, là “đoán mò” ngữ nghĩa, và không thể nhận ra chất thơ, và cái hay của kiểu thơ trí tuệ. Điều đặc sắc là NKĐ đã khám phá và khẳng định sự tồn tại của Đất Nước từ văn hoá, tục ngữ, ca dao, cổ tích, phong tục… Bởi bản sắc của một dân tộc nằm trong văn hoá, lịch sử, lối sống. Nhiều người nước ngoài không phân biệt được văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Quốc. Khẳng định sự tồn tại của đất nước qua sự tồn tại của một nền văn hoá lâu đời, có bản sắc riêng, là một khẳng định đầy tính thuyết phục. Và người đọc, nếu không có vốn văn hoá này, và không hiểu kiểu tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm thì không thễ cảm thụ đoạn thơ.
2. Đất nước là thơ trữ tình
Nhiều khi thầy cô quá thiên về khai thác những ý nghiã chính luận của đoạn thơ mà dễ dàng bỏ qua chất trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
NKĐ đã triển khai một hệ thống ý tưởng để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước là của nhân dân. Mở đầu tác giả khẳng định ĐN đã tồn tại lâu đời. ĐN là một thể thống nhất, ĐN do nhân dân hoá thân thành và ĐN là của nhân dân. Nhà thơ kêu gọi mỗi người phải có trách nhiệm “gắn bó và san sẻ” trách nhiệm với ĐN, kêu gọi mọi người “hoá thân “ để làm nên ĐN muôn đời
Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Đoạn thơ hoàn toàn là là một lời kêu gọi chính luận. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ chính luận, là lời kêu gọi trực tiếp. Đoạn này được ra thi Tú Tài, hầu hết thí sinh sẽ phân tích thơ như làm một bài chính luận, có chăng chỉ khác một chút là cố gắng “tán” mấy từ “hoá thân cho dáng hình xứ sở”, và cũng chỉ tán chung chung mơ hồ, không thể giải mã được gì. Tất nhiên, nếu xét về tư tưởng, thầy cô vẫn khai thác được những ý tứ có chiều sâu. Chẳng hạn, tư tưởng “ĐN là máu xương của mình”. Đây là ý thức yêu nước sâu sắc. Chỉ đến thơ thời kỳ chống Mỹ mới đạt đến. Thơ thời kháng chiến chống Pháp tình cảm yêu nước lồng trong tình quê hương (chẳng hạn, bài thơ Đồng Chí-Chính Hữu). Văn học trung đại thể hiện tư tưởng yêu nước Thiên Mệnh (Sông Núi Nước Nam), yêu nước trung nghĩa (Hịch Tướng Sĩ), yêu nước nhân nghĩa (Bình Ngô Đại Cáo). Đến Nguyễn Đình Chiểu , yêu nước là yêu “tấc đất ngọn rau ơn chúa”. Phan Bội Châu thì hát bài ca Ái Quốc: ” Nay ta hát một thiên ái quốc/ Yêu gì hơn yêu nước nhà ta/ Trang nghiêm bốn mặt sơn hà/ Ông cha để lại cho ta lọ vàng…”(Ái quốc). Yêu nước là yêu núi sông gấm vóc do cha ông để lại…Nhưng nếu giảng như thế, đoạn thơ hoàn toàn thiên về tư tưởng chính luận, làm mất đi chất thơ của đoạn trích
Trong tình huống như vậy, cần phải khai thác chất trữ tình trong thơ NKĐ.
Trong cụm từ “em ơi em” thì nhân vật em là ai. Những từ “ta, anh, em, dân mình, đồng bào ta, con ta..” bộc lộ cảm xúc gì của tác giả ?
Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi…
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn…
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ…
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng…
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Nhà thơ đã nhập thân vào ĐN, đã hoá thân để nói tiếng nói sâu thẳm trong lòng mỗi người, bộc lộ trực tiếp những tình cảm với ĐN, khiến cho câu thơ không cần giảng nghĩa mà vẫn có thể cảm được. Thực ra những tiếng nói như thế đã là tiếng nói của cả dân tộc từ khi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc lập. Người tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết…
3.Sự hài hoà chính luận-trữ tình làm nên đặc sắc của Đất Nước.
Đoạn thơ sau đây có thể là tiêu biểu
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Chủ đề đoạn thơ là câu cuối cùng:” Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”. Chủ đề này được triển khai bằng một đoạn quy nạp. Tám câu đầu là những trường hợp cụ thể sự hoá thân của nhân dân thành Đất Nước. Bốn câu cuối là khái quát sự hoá thân của nhân dân trong không gian, trong thời gian lịch sử.
Nếu chỉ trình bày ý tưởng chính luận ấy của đoạn thơ thì sẽ không sao cảm nhận được tài thơ của ngòi bút NKĐ. Hãy nhìn vào cấu trúc của 8 câu thơ đầu. Tất cả các câu đều có cùng một cấu trúc ngữ pháp (tu từ cú pháp). Vế trước của mỗi câu là nhân vật, phía sau của câu là một di tích , một địa danh. Tác giả khám phá ra ĐN từ những di tích, địa danh, và khám phá ra sự hoá thân của nhân dân thành ĐN.
Tại sao tác giả lại đưa lên đầu đọan hình ảnh người phụ nữ?
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Từ sự tích Hòn Vọng Phu, người đọc khám phá ra ý nghĩa này, lịch sử 4000 năm của dân tộc là lịch sử chống ngoại xâm. Những người mẹ, người vợ đã dâng hiến con mình, chồng mình cho ĐN, hy sinh hạnh phúc, hy sinh tuổi thanh xuân. Nếu không có sự hy sinh âm thầm, lớn lao ấy của những người mẹ, người vợ, ĐN này đã không thể tồn tại. Ngay trong thời đại chúng ta, có người mẹ anh hùng hy sinh 7 người con. Mẹ đã đi từ bắc chí nam, theo dấu chân hành quân của đơn vị để tìm mộ con, nhưng đến đâu cũng chỉ tìm thấy mộ tập thể của đồng đội con. Những người vợ nhớ chồng đáng tôn kính biết bao.
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình điều gì?
Học trò Việt Nam xưa nay vốn nghèo, lấy gì mà đóng góp ? Còn nhớ chuyện học trò nghèo Trần Minh khố chuối. Nghèo đến thế thì lấy gì mà góp cho ĐN? “Núi Bút non Nghiên” là một di tích, trở thành biểu tượng cho sự đóng góp to lớn của anh học trò nghèo. Một nhân vật lịch sử có thể làm rõ ý tưởng này. Nguyễn Trãi là con của Nguyễn Phi Khanh, vốn là người học trò nghèo. Thế nhưng, những gì Nguyễn Trãi “góp” cho ĐN này, khó có ai sánh bằng. Tư tưởng nhân nghĩa, Bình Ngô Đại Cáo, thơ Quốc Âm, Lam Sơn Thực Lục, Dư Địa Chí, Quân Trung Từ Mệnh Tập là những tác phẩm vô giá cho đời sau. Nguyễn Trãi trở thành danh nhân văn hoá thế giới. Trở thành niềm tự hào của dân tộc này.
Khai thác những ý tưởng như thế của hình ảnh thơ, sẽ chạm đến giải tầng tình cảm sâu thẳm trong lòng học sinh về nhân dân và đất nước mình. Để rồi sau đó, ở 4 câu cuối, tình cảm ấy sẽ cất lên thành niềm yêu mến, tự hào có sức ngân vang sử thi. Tình cảm yêu mến tự hào về đất nước của tác giả hoà trong bai ca, ca ngợi sự hoá thân của nhân dân thành ĐN.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Trong phần khái quát này, NKĐ tiếp tục khám phá ĐN bằng những suy tư không dễ giải mã.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha.
Tác giả nhìn thấy căn gốc Việt, bản lĩnh Việt, sức mạnh Việt là ở nông thôn, tận những “ruộng đồng gò bãi”, hiển lộ trong dáng hình, trong ao ước và trong lối sống ông cha. Đó là cái nhìn vừa có chất sử thi, vừa đậm màu sắc tâm linh (địa linh nhân kiệt). Dáng hình đó là gì, cha ông có ao ước gì, lối sống ông cha là lối sống thế nào ?
Để trả lời câu hỏi này, cần phải trở lại hệ thống hình ảnh ở trên, tìm ý nghĩa trong, những người vợ, Gióng, Hùng Vương, anh học trò nghèo, con voi, con rồng, con cóc con gà, ông Đốc, ông Trang, Bà Đen Bà Điểm, cả những con người không tên. Đó là dáng hình yêu nước anh hùng của Gióng, là ao ước hoà bình của những người vợ chờ chồng đi chiến trường, là khát vọng cống hiến cho đất nước của người trí thức nghèo, là lối sống giản dị nghĩa tình (con cóc con gà-những người lao động bình dân), lối sống lấy sự hoà mình, tự nguyện vì cộng đồng (Ông Đốc, ông Trang), khác rất xa với lối sống vị kỷ, cá nhân thực dụng chủ nghĩa của một bộ phận người Việt hôm nay. Nếu cảm nhận được như vậy, ta sẽ thấy yêu thêm đất nước mình, quý mến trân trọng hơn nhân dân mình.
Vì tác giả khai thác vốn văn hoá làm chất liệu thơ, người đọc cũng phải có vốn văn hoá dân tộc mới cảm hiểu được những suy tư của tác giả. Sức hấp dẫn của thơ trí tuệ là ở năng lực trí tuệ khám phá những ý tưởng thơ. Người xưa nói , “vô tri bất mộ”, không hiểu thì không yêu mến. Không biết đất Tổ Hùng Vương có 99 ngọn núi nằm như 99 con voi phục, thì sao hiểu được tầm trí tuệ cha ông thời mở nước, để đất nước này tồn tại mãi với muôn đời. Không biết ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm là ai, sao có thể hiểu tính cách con người phương Nam. Không hiểu Gióng thì không thể hiểu sức mạnh Việt Nam. Thế mới biết, giảng văn đòi hỏi thầy cô một trình độ hiểu biết sâu sắc văn hoá dân tộc mình, một tấm lòng yêu tha thiết nhân dân mình, và một lòng nhiệt thành cháy mãi khôn nguôi truyền lửa cho học sinh thân yêu của mình. Đất Nước là một đoạn trích hay và sâu sắc.
Tháng 6 năm 2013
Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013
NHÂN CUỘC THI THƠ CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, NGHĨ...
NHÂN CUỘC THI THƠ CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, NGHĨ…
Bùi Công Thuấn

Nhà ngôn ngữ học và phê bình Lê Xuân mời tôi chia sẻ bài anh viết về 11 bài thơ của cuộc thi thơ Đồng Bằng Sông Cửu Long lần V-2012 (ĐBSCL) mới được công bố. Tôi đã gửi lên trang blog Yume của anh một comment, chỉ là để chia sẻ những suy nghĩ riêng tư, giữa cá nhân với cá nhân. Đó không phải là bài viết chính thức tôi đánh giá về cuộc thi và về các bài thơ. Tuy nhiên, comment của tôi lại “làm buồn lòng” một vài người bạn mà tôi quý mến, thành ra tôi phải viết tiếp những dòng này. Xin nói rõ điều này, tôi chỉ là kẻ ngoại cuộc, không viết để bày tỏ”chính kiến” về cuộc thi, vì thế Ban Tổ Chức, Ban Giám Khảo cuộc thi thơ ĐBSCL không nên bận tâm. Các nhà thơ dự thi cũng không phải “băn khoăn” điều gì. Tôi viết những ngẫm nghĩ của mình nhân có cuộc thi thơ, vậy thôi.
CUỘC THI NÀO CŨNG CÓ TIÊU CHÍ, MỤC ĐÍCH RÕ RÀNG
Thể lệ cuộc thi thơ ĐBSCL đã được công bố:
I. Đề tài:
- Vùng đất, con người ĐBSCL trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa; phát triển và hội nhập. xây dựng thành phố và nông thôn mới hiện nay.
- Những điển hình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Về các biển đảo của Việt Nam.
II. Thể loại:
- Thơ (không nhận trường ca và thơ đường luật)
- Tác phẩm dự thi chưa đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; chưa xuất bản sách và phổ biến dưới mọi hình thức.
VỀ CUỘC THI THƠ
Tổ chức Hội Văn Nghệ của các địa phương là tổ chức chính trị-nghề nghiệp được tỉnh uỷ trực tiếp lãnh đạo. Hoạt động của Hội là thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tỉnh uỷ. Đường lối hoạt động của Hội thực hiện theo nghị quyết 5 của Trung Ương Đảng (khoá VII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị…
Vì thế cuộc thi thơ ĐBSCL là một trong những hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, có mục đích rõ ràng, đó là : Viết về ” Vùng đất, con người ĐBSCL trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa; phát triển và hội nhập…, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Về các biển đảo của Việt Nam.” Đây là những nhiệm vụ chính trị quan trọng toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực thực hiện. Tổ chức cuộc thi là để phát động phong trào quần chúng làm văn nghệ, để khẳng định và ca ngợi những thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng, để khẳng định và học tập gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình một bộ phận cán bộ, quần chúng suy thoái về đạo đức mà Nghị Quyết TW 4 đã đề ra…Viết về biển đảo trong tình hình chính trị hiện nay, ai cũng hiểu đó là Trường Sa, Hoàng Sa. Người làm thơ phải nói tiếng cói của dân tộc, khẳng định chủ quyền biển đảo, ca ngợi và cổ vũ các chiến sĩ đang bảo vệ biển đảo tổ quốc, thể hiện lòng yêu nước... Nội dung chính trị, mục đích chính trị của cuộc thi là tiên quyết. Các tác giả có thơ dự thi không nên mơ hồ điều này. Xin đừng nghĩ rằng làm thơ chính trị sẽ không hay. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những bài thơ chính trị của Tố Hữu đã trở thành tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí. Là những “bài ca” hung tráng của cả nước cùng một nhịp bước tiến quân (Bài ca mùa xuân năm 1961, bài ca xuân 1968, Bài ca xuân 1971, Một khúc ca xuân, …)Tiếng nói riêng của nhà thơ trở thành tiếng nói của nhân dân, của dân tộc. Thơ hay là do tài năng, không phải do đề tài.
Có lẽ vì thế mà trong thể lệ cuộc thi, tôi không thấy có tiêu chí nghệ thuật. Thế có nghĩa là cuộc thi chỉ đánh giá thơ dự thi theo tiêu chí nội dung, mà không quan tâm đến nghệ thuật. Việc gạt bỏ thể thơ Đường Luật là điều thật khó hiểu. Những bài thơ Tứ Tuyệt Đường Luật của chủ tịch Hồ Chí Minh làm trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) là những bài thơ tuyệt hay (Nguyên Tiêu, Báo Tiệp, Không Đề, Lên Núi…) đóng góp những giá trị vượt trội cho thơ ca sau CM tháng Tám. Tại sao cuộc thi lại gạt bỏ thơ Đường luật?
Không có tiêu chí nghệ thuật, tôi e rằng sẽ có những bài thơ hay về nghệ thuật bị loại bỏ ngay ở vòng sơ khảo. Tất nhiên tôi tin rằng, BTC, BGK không đến nỗi chỉ chọn bài đạt tiêu chí nội dung.
Nhưng đọc 11 bài thơ vào chung kết, tôi thực sự hoài nghi.
Bài “Về đồng mùa nước nổi” sao có thể lọt vào chung kết? Trước hết, bài thơ không chuẩn về luật thơ Lục Bát. Gieo vần sai, làm tan nát nhạc thơ, dùng từ lủng củng, lời không diễn được ý. Những câu thơ vụng về khó chấp nhận.
Ta về vác cát oặn lòng
Hòa dân ngăn nước thở cùng mặt đê
Trăng tròn trượt xuống tiếp hơi
Gánh gồng gìn giữ màu trời quê hương.
Chữ “mặt đê”, không vần với chữ “tiếp hơi”. Làm thơ lục bát sai vần là điều cấm kỵ. Câu thơ này cực kỳ tối nghĩa:” Hòa dân ngăn nước thở cùng mặt đê”. Câu đầu là vác cát ngăn nước, câu cuối là “gánh gồng”, không hiểu “nhà thơ” “gánh gồng” cái gì, sao không ngăn nước lũ lại “giữ màu trời quê hương”, trong tiếng Việt, người dân chỉ gánh gồng dắt díu nhau đi…Nội dung bài thơ là những than thở “sầu”: “nát tan”, “Trăm ngàn nỗi đau”, đất trở sầu”, “lúa khóc”,” trôi giạt về đâu”. Tôi không thấy đâu là công nghiệp hoá, đâu là hội nhập toàn cầu hoá, như tiêu chí cuộc thi. Có nhiều chữ dùng rất thô như: “Trăng…thình lình trượt xuống, bất cần đò đưa,.. Tôi chưa bao giờ thấy ở bến đò miền ĐBSCL có hình ảnh này :” Áo hồng bay ngát bến xưa”. Nói thế để thấy tác giả rất lúng túng trong bút pháp. Miêu tả hiện thực hay thể hiện tâm trạng lãng mạn? suy tư triết lý hay bày tỏ tâm trạng trữ tình. Tất cả nháo nhào trong một bài thơ, khiến cho, ngôn từ không sao diễn được tình ý. Có lẽ không nên mất thì giờ của bạn đọc về một “bài thơ” chưa thành hình hài như thế. Có thể là tác giả muốn nói về hiện thực ĐBSCL chống lũ, nhưng lực bất tòng tâm. Đành vậy ! Bạn đọc nên trân trọng nỗ lực của tác giả khi tham gia cuộc thi!
Tôi cũng hoài nghi cả về nội dung một số bài vào chung kết, vì không đạt tiêu chí thể lệ cuộc thi. Bài Đồng con gái là nỗi buồn “bao đời” :” ruộng lom khom nón lá đội trên đầu/ sống từ đất/ chết trở về cùng đất/ hạt lúa trời bơi qua nỗi bể dâu…”.Bài Nhật ký cho ngày rỗng là tâm trạng buồn
Cho quê hương, nỗi buồn tha hương: bạn bè bỏ xứ đi tha phương, bóng mẹ nhoè, dáng cha buồn thân phận, giấc mơ không hình thù/ bọt bóng (chỉ ảo tưởng, tuyệt vọng)
con rô, con lóc đi đâu cho ta bỏ câu ngày nhàu soi tăm cá…
thằng bạn cùng quê bỏ xứ theo cha tha phương đổi vận
cô bạn chơi trò cô dâu chú rể lên thành phố từ đó không thấy về…
…ở đó có bóng mẹ ngồi chiều nhòe mong nhớ mỗi khi trời trở gió, mùa đuổi mùa…
có cái ghế dựa, cha ngồi uống ngụm trà thả buồn vui thân phận…
Bài “Xóm mình nghèo cất giấu điện vào đêm”, là tâm trạng buồn của đứa con phương xa, nhớ nhớ những khôn khó ở quê đêm không có điện, nhớ xóm quê, nhớ tuổi học trò và nhớ mẹ, nhưng không mẹ không còn
“…Bên dòng kênh quen im lìm phèn mặn
Bằng bộ mặt nhiều màu nổi váng những tâm tư…
Giờ đi lập nghiệp phương xa
Ước mơ lăn theo sóng vỗ
Câu vọng cổ lại phải cất vô tờ giấy cũ
Về quê
Mẹ không còn..
Tản mạn trưa là tâm trạng buồ của tác giả khi nhìn con kiến, con sâu, con bướm, con mèo, lũ tò vò… mà thương ông thương bà
thương bà khóc cả đời
chiến tranh màu lá rụng
không biết ông nằm đâu…
Bài Tôi đã từng đến biển không nói được điều gì, ngoài sự mơ hồ, chung chung. Tôi không biết bài này có nằm trong tiêu chí viết về biển đảo không? Sao lại diễn tả người dân đánh cá Việt Nam là “vơ vét thiên nhiên”? Làm sao sánh được với bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận viết cách nay đã mấy chục năm!
Biển là trời xanh trôi trên mặt đất
Những con thuyền như chiếc lá trôi trên lòng biển mẹ
Mang những cánh tay nhẹ nhàng vơ vét thiên nhiên
Bài Phía mùa cam bạc lá cũng là tâm trạng buồn của đời nghèo rỗng không. Chỉ có tiếng mẹ thở dài, tiếng cha dằn cơn ho trong đêm, người chị lỡ làng tuổi xuân vì nghèo. Chỉ có bàn tay chai sạn… và tâm tư day dứt
gió cuốc những đường thở nhọc nhằn trên nền đất đen nâu
sau lưng cha màu xanh đã ngã
là đồng nghĩa với màu trắng tay người gom về ngập rỗng
nỗi buồn đeo đĩa
Có lẽ không cần viết thêm về nội dung những bài thơ không đạt tiêu chí thể lệ cuộc thi. Điều đáng ngạc nhiên là những bài tôi đã dẫn lại lọt được vào chung khảo, vượt qua tiêu chí chính trị.
THƠ HAY Ở NỘI DUNG HAY Ở HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT?
Ở Việt Nam, nội dung chính trị của tác phẩm nghệ thuật đã là mặc định. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định :”… không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật mà cần nói rõ văn hoá phục vụ công, nông, binh” (Bàn về văn hoá và nghệ thuật, Nxb Văn Hoá-Nghệ thuật Hànội. 1963, tr 104-105)
Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị cũng xác lập mục tiêu của văn học nghệ thuật :” Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,… phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Như vậy, về nội dung ta không phải bận tâm, vậy tiêu chí nào để phân biệt giá trị bài thơ? Hãy xem, Bộ đội cụ Hồ ai cũng gian khổ hy sinh, sáng ngời lý tưởng, giàu tình quê hương, lẫm liệt chí anh hùng. Bài thơ nào viết về họ, các nhà thơ cũng nói nội dung ấy. Vậy những bài như Đèo Cả của Hữu Loan, Đồng Chí của Chính Hữu, Lên Tây Bắc của Tố Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, bài nào là nổi trội và trở thành bất hủ? Câu trả lời mọi người có thể đồng ý là Tây Tiến, bài thơ nổi trội nhất. Do đâu? Bài Đồng Chí được viết bằng bút pháp hiện thực chất phác. Bài Đèo Cả cũng một bút pháp ấy, có chất hùng ca hơn một chút. Trái lại, Tây Tiến được viết bằng bút pháp hiện thực, kết hợp với cảm hứng lãng mạn, chất cổ điển và tinh thần bi tráng. Quang Dũng có sự sáng tạo đặc sắc trong dùng từ, trong khám phá những tứ thơ mới, và đặc biệt là tấm lòng của nhà thơ với đồng đội.
Những bài thơ dự thi đã được mặc định về nội dung, vậy sự phân biệt giá trị nằm ở tiêu chí nghệ thuật. Cuộc thi thơ ĐBSCL lần V 2012 không có tiêu chí nghệ thuật thì biết căn cứ vào điều gì làm chuẩn mực? chắc chắn là phải dựa vào trực giác cảm tính. Xưa nay thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức cảm tính chủ quan, còn đánh giá giá trị nghệ thuật phải đựa trên thang giá trị trí tuệ, trên phân tích khoa học. Có thể nói, cái hay ở mỗi người là khác nhau, và như thế, không thể căn cứ vào cảm tính mà đánh đồng bài thơ Tây Tiến với bài thơ Con Cóc trong dân gian được (mặc dù có người là tiến sĩ, viết một bài dài, khen bài Con Cóc là độc đáo)
Thơ hay, trước hết phải là thơ có những khám phá mới về hiện thực, sáng tạo mới về tìm tòi những tứ thơ, làm mới ngôn ngữ, về tư duy nghệ thuật, về góc nhìn và cách cảm, cách thể hiện mới. Thơ hay còn đòi buộc một hồn thơ tính tế, tài hoa, giàu cảm xúc, một cá tính sáng tạo độc đáo, một thế giới nghệ thuật riêng (xin đọc Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tố Hữu …)
11 bài thơ vào chung khảo, những bài nào đạt tiêu chí này? Tôi cho rằng không có bài nào, bởi những bài dự thi này đều rất cũ cả về tình, ý nội dung, và cũ cả về thi pháp. Những bài như Nhật Ký Rỗng, Tản Mạn Trưa, Xóm Mình Nghèo cất Giấu điện Vào đêm, Phía Mùa Cam Bạc Lá, tuy có mới hơn so với những bài khác, nhưng cũng đã cũ so với phong trào thơ trẻ những năm 2005-2010, và ngay tại ĐBSCL, cũ so với thơ Huỳnh Thuý Kiều trong hai tập Kiều Mây (2008) và Giấu anh Vào Cỏ Xanh (2010)
Xin đọc một bài của Huỳnh Thuý Kiều, để thấm sâu chất châu thổ ĐBSCL trong thơ
Mắc nợ đồng bằng
Cá trê nấu với dây tơ hồng
Ăn để về khóc đầm lưng áo mẹ
Gót chân son nợ một đời dâu bể
Giữa đồng bằng chợt thèm…
Trái giác nấu canh chua…
Sinh ra con đã nợ rồi
Cả tiếng dạ thưa
Cả nhịp xuồng chèo khuya xa người đi trễ tép
Mai sau tràm mật ngọt chỉ còn là kỷ vật
Bướm bay chiều tà. Ơi nguồn cội khẳng khiu!
Sợi chỉ vàng dệt kín mái lá bên hiên
Nồi canh rau tập tàng
Vị cua nêm hương ngọt
Lùa chén cơm mồ hôi rơi nước mắt
Rơm vụ đầu dậy những nấm nhỏ xinh.
Mùa nước lên
Đêm. Lúa thao thức cựa mình
Ánh trăng rớt dưới tàn cây cuối làng cổ thụ nhất
Trò chơi dân gian bặt tăm bóng dáng
Chú dế than buồn ngoẹo cổ gãi râu.
Muốn quên đồng bằng. Dễ đâu quên được?
Màu ký ức cứ xòe ra như bàn tay năm ngón
Đây bếp lửa thơm mùi tro bánh tét
Mắm sặc kho bông súng chấm trưa nồng
Nợ khói ụn dừa buổi sớm lạnh đông
Nợ dọc đời người đau đáu chốn cưu mang…
NGHĨ...
Làm thơ hay rất khó. Cả đời tôi không làm được câu thơ nào, dù rất yêu thơ. Những nhà thơ tài năng luôn được nhân dân yêu quý. Và tôi nghĩ, cuộc thi thơ không chỉ là hoạt động phong trào của Hội Văn Nghệ, mà là nơi tìm kiếm những tài năng, mà nhờ họ, đời sống tinh thần của ta thêm phong phú, nhờ họ, tiếng Việt trở nên đẹp và giàu có, nhờ họ ta khám ra cái đẹp ngay trong đời thường, ngay cả trong gian khổ hy sinh, và cũng nhờ họ mà đất nước này là đất nước của thi ca…
Tháng 6 năm 2013
Bùi Công Thuấn

Nhà ngôn ngữ học và phê bình Lê Xuân mời tôi chia sẻ bài anh viết về 11 bài thơ của cuộc thi thơ Đồng Bằng Sông Cửu Long lần V-2012 (ĐBSCL) mới được công bố. Tôi đã gửi lên trang blog Yume của anh một comment, chỉ là để chia sẻ những suy nghĩ riêng tư, giữa cá nhân với cá nhân. Đó không phải là bài viết chính thức tôi đánh giá về cuộc thi và về các bài thơ. Tuy nhiên, comment của tôi lại “làm buồn lòng” một vài người bạn mà tôi quý mến, thành ra tôi phải viết tiếp những dòng này. Xin nói rõ điều này, tôi chỉ là kẻ ngoại cuộc, không viết để bày tỏ”chính kiến” về cuộc thi, vì thế Ban Tổ Chức, Ban Giám Khảo cuộc thi thơ ĐBSCL không nên bận tâm. Các nhà thơ dự thi cũng không phải “băn khoăn” điều gì. Tôi viết những ngẫm nghĩ của mình nhân có cuộc thi thơ, vậy thôi.
CUỘC THI NÀO CŨNG CÓ TIÊU CHÍ, MỤC ĐÍCH RÕ RÀNG
Thể lệ cuộc thi thơ ĐBSCL đã được công bố:
I. Đề tài:
- Vùng đất, con người ĐBSCL trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa; phát triển và hội nhập. xây dựng thành phố và nông thôn mới hiện nay.
- Những điển hình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Về các biển đảo của Việt Nam.
II. Thể loại:
- Thơ (không nhận trường ca và thơ đường luật)
- Tác phẩm dự thi chưa đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; chưa xuất bản sách và phổ biến dưới mọi hình thức.
VỀ CUỘC THI THƠ
Tổ chức Hội Văn Nghệ của các địa phương là tổ chức chính trị-nghề nghiệp được tỉnh uỷ trực tiếp lãnh đạo. Hoạt động của Hội là thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tỉnh uỷ. Đường lối hoạt động của Hội thực hiện theo nghị quyết 5 của Trung Ương Đảng (khoá VII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị…
Vì thế cuộc thi thơ ĐBSCL là một trong những hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, có mục đích rõ ràng, đó là : Viết về ” Vùng đất, con người ĐBSCL trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa; phát triển và hội nhập…, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Về các biển đảo của Việt Nam.” Đây là những nhiệm vụ chính trị quan trọng toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực thực hiện. Tổ chức cuộc thi là để phát động phong trào quần chúng làm văn nghệ, để khẳng định và ca ngợi những thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng, để khẳng định và học tập gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình một bộ phận cán bộ, quần chúng suy thoái về đạo đức mà Nghị Quyết TW 4 đã đề ra…Viết về biển đảo trong tình hình chính trị hiện nay, ai cũng hiểu đó là Trường Sa, Hoàng Sa. Người làm thơ phải nói tiếng cói của dân tộc, khẳng định chủ quyền biển đảo, ca ngợi và cổ vũ các chiến sĩ đang bảo vệ biển đảo tổ quốc, thể hiện lòng yêu nước... Nội dung chính trị, mục đích chính trị của cuộc thi là tiên quyết. Các tác giả có thơ dự thi không nên mơ hồ điều này. Xin đừng nghĩ rằng làm thơ chính trị sẽ không hay. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những bài thơ chính trị của Tố Hữu đã trở thành tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí. Là những “bài ca” hung tráng của cả nước cùng một nhịp bước tiến quân (Bài ca mùa xuân năm 1961, bài ca xuân 1968, Bài ca xuân 1971, Một khúc ca xuân, …)Tiếng nói riêng của nhà thơ trở thành tiếng nói của nhân dân, của dân tộc. Thơ hay là do tài năng, không phải do đề tài.
Có lẽ vì thế mà trong thể lệ cuộc thi, tôi không thấy có tiêu chí nghệ thuật. Thế có nghĩa là cuộc thi chỉ đánh giá thơ dự thi theo tiêu chí nội dung, mà không quan tâm đến nghệ thuật. Việc gạt bỏ thể thơ Đường Luật là điều thật khó hiểu. Những bài thơ Tứ Tuyệt Đường Luật của chủ tịch Hồ Chí Minh làm trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954) là những bài thơ tuyệt hay (Nguyên Tiêu, Báo Tiệp, Không Đề, Lên Núi…) đóng góp những giá trị vượt trội cho thơ ca sau CM tháng Tám. Tại sao cuộc thi lại gạt bỏ thơ Đường luật?
Không có tiêu chí nghệ thuật, tôi e rằng sẽ có những bài thơ hay về nghệ thuật bị loại bỏ ngay ở vòng sơ khảo. Tất nhiên tôi tin rằng, BTC, BGK không đến nỗi chỉ chọn bài đạt tiêu chí nội dung.
Nhưng đọc 11 bài thơ vào chung kết, tôi thực sự hoài nghi.
Bài “Về đồng mùa nước nổi” sao có thể lọt vào chung kết? Trước hết, bài thơ không chuẩn về luật thơ Lục Bát. Gieo vần sai, làm tan nát nhạc thơ, dùng từ lủng củng, lời không diễn được ý. Những câu thơ vụng về khó chấp nhận.
Ta về vác cát oặn lòng
Hòa dân ngăn nước thở cùng mặt đê
Trăng tròn trượt xuống tiếp hơi
Gánh gồng gìn giữ màu trời quê hương.
Chữ “mặt đê”, không vần với chữ “tiếp hơi”. Làm thơ lục bát sai vần là điều cấm kỵ. Câu thơ này cực kỳ tối nghĩa:” Hòa dân ngăn nước thở cùng mặt đê”. Câu đầu là vác cát ngăn nước, câu cuối là “gánh gồng”, không hiểu “nhà thơ” “gánh gồng” cái gì, sao không ngăn nước lũ lại “giữ màu trời quê hương”, trong tiếng Việt, người dân chỉ gánh gồng dắt díu nhau đi…Nội dung bài thơ là những than thở “sầu”: “nát tan”, “Trăm ngàn nỗi đau”, đất trở sầu”, “lúa khóc”,” trôi giạt về đâu”. Tôi không thấy đâu là công nghiệp hoá, đâu là hội nhập toàn cầu hoá, như tiêu chí cuộc thi. Có nhiều chữ dùng rất thô như: “Trăng…thình lình trượt xuống, bất cần đò đưa,.. Tôi chưa bao giờ thấy ở bến đò miền ĐBSCL có hình ảnh này :” Áo hồng bay ngát bến xưa”. Nói thế để thấy tác giả rất lúng túng trong bút pháp. Miêu tả hiện thực hay thể hiện tâm trạng lãng mạn? suy tư triết lý hay bày tỏ tâm trạng trữ tình. Tất cả nháo nhào trong một bài thơ, khiến cho, ngôn từ không sao diễn được tình ý. Có lẽ không nên mất thì giờ của bạn đọc về một “bài thơ” chưa thành hình hài như thế. Có thể là tác giả muốn nói về hiện thực ĐBSCL chống lũ, nhưng lực bất tòng tâm. Đành vậy ! Bạn đọc nên trân trọng nỗ lực của tác giả khi tham gia cuộc thi!
Tôi cũng hoài nghi cả về nội dung một số bài vào chung kết, vì không đạt tiêu chí thể lệ cuộc thi. Bài Đồng con gái là nỗi buồn “bao đời” :” ruộng lom khom nón lá đội trên đầu/ sống từ đất/ chết trở về cùng đất/ hạt lúa trời bơi qua nỗi bể dâu…”.Bài Nhật ký cho ngày rỗng là tâm trạng buồn
Cho quê hương, nỗi buồn tha hương: bạn bè bỏ xứ đi tha phương, bóng mẹ nhoè, dáng cha buồn thân phận, giấc mơ không hình thù/ bọt bóng (chỉ ảo tưởng, tuyệt vọng)
con rô, con lóc đi đâu cho ta bỏ câu ngày nhàu soi tăm cá…
thằng bạn cùng quê bỏ xứ theo cha tha phương đổi vận
cô bạn chơi trò cô dâu chú rể lên thành phố từ đó không thấy về…
…ở đó có bóng mẹ ngồi chiều nhòe mong nhớ mỗi khi trời trở gió, mùa đuổi mùa…
có cái ghế dựa, cha ngồi uống ngụm trà thả buồn vui thân phận…
Bài “Xóm mình nghèo cất giấu điện vào đêm”, là tâm trạng buồn của đứa con phương xa, nhớ nhớ những khôn khó ở quê đêm không có điện, nhớ xóm quê, nhớ tuổi học trò và nhớ mẹ, nhưng không mẹ không còn
“…Bên dòng kênh quen im lìm phèn mặn
Bằng bộ mặt nhiều màu nổi váng những tâm tư…
Giờ đi lập nghiệp phương xa
Ước mơ lăn theo sóng vỗ
Câu vọng cổ lại phải cất vô tờ giấy cũ
Về quê
Mẹ không còn..
Tản mạn trưa là tâm trạng buồ của tác giả khi nhìn con kiến, con sâu, con bướm, con mèo, lũ tò vò… mà thương ông thương bà
thương bà khóc cả đời
chiến tranh màu lá rụng
không biết ông nằm đâu…
Bài Tôi đã từng đến biển không nói được điều gì, ngoài sự mơ hồ, chung chung. Tôi không biết bài này có nằm trong tiêu chí viết về biển đảo không? Sao lại diễn tả người dân đánh cá Việt Nam là “vơ vét thiên nhiên”? Làm sao sánh được với bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận viết cách nay đã mấy chục năm!
Biển là trời xanh trôi trên mặt đất
Những con thuyền như chiếc lá trôi trên lòng biển mẹ
Mang những cánh tay nhẹ nhàng vơ vét thiên nhiên
Bài Phía mùa cam bạc lá cũng là tâm trạng buồn của đời nghèo rỗng không. Chỉ có tiếng mẹ thở dài, tiếng cha dằn cơn ho trong đêm, người chị lỡ làng tuổi xuân vì nghèo. Chỉ có bàn tay chai sạn… và tâm tư day dứt
gió cuốc những đường thở nhọc nhằn trên nền đất đen nâu
sau lưng cha màu xanh đã ngã
là đồng nghĩa với màu trắng tay người gom về ngập rỗng
nỗi buồn đeo đĩa
Có lẽ không cần viết thêm về nội dung những bài thơ không đạt tiêu chí thể lệ cuộc thi. Điều đáng ngạc nhiên là những bài tôi đã dẫn lại lọt được vào chung khảo, vượt qua tiêu chí chính trị.
THƠ HAY Ở NỘI DUNG HAY Ở HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT?
Ở Việt Nam, nội dung chính trị của tác phẩm nghệ thuật đã là mặc định. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định :”… không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật mà cần nói rõ văn hoá phục vụ công, nông, binh” (Bàn về văn hoá và nghệ thuật, Nxb Văn Hoá-Nghệ thuật Hànội. 1963, tr 104-105)
Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị cũng xác lập mục tiêu của văn học nghệ thuật :” Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,… phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Như vậy, về nội dung ta không phải bận tâm, vậy tiêu chí nào để phân biệt giá trị bài thơ? Hãy xem, Bộ đội cụ Hồ ai cũng gian khổ hy sinh, sáng ngời lý tưởng, giàu tình quê hương, lẫm liệt chí anh hùng. Bài thơ nào viết về họ, các nhà thơ cũng nói nội dung ấy. Vậy những bài như Đèo Cả của Hữu Loan, Đồng Chí của Chính Hữu, Lên Tây Bắc của Tố Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng, bài nào là nổi trội và trở thành bất hủ? Câu trả lời mọi người có thể đồng ý là Tây Tiến, bài thơ nổi trội nhất. Do đâu? Bài Đồng Chí được viết bằng bút pháp hiện thực chất phác. Bài Đèo Cả cũng một bút pháp ấy, có chất hùng ca hơn một chút. Trái lại, Tây Tiến được viết bằng bút pháp hiện thực, kết hợp với cảm hứng lãng mạn, chất cổ điển và tinh thần bi tráng. Quang Dũng có sự sáng tạo đặc sắc trong dùng từ, trong khám phá những tứ thơ mới, và đặc biệt là tấm lòng của nhà thơ với đồng đội.
Những bài thơ dự thi đã được mặc định về nội dung, vậy sự phân biệt giá trị nằm ở tiêu chí nghệ thuật. Cuộc thi thơ ĐBSCL lần V 2012 không có tiêu chí nghệ thuật thì biết căn cứ vào điều gì làm chuẩn mực? chắc chắn là phải dựa vào trực giác cảm tính. Xưa nay thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức cảm tính chủ quan, còn đánh giá giá trị nghệ thuật phải đựa trên thang giá trị trí tuệ, trên phân tích khoa học. Có thể nói, cái hay ở mỗi người là khác nhau, và như thế, không thể căn cứ vào cảm tính mà đánh đồng bài thơ Tây Tiến với bài thơ Con Cóc trong dân gian được (mặc dù có người là tiến sĩ, viết một bài dài, khen bài Con Cóc là độc đáo)
Thơ hay, trước hết phải là thơ có những khám phá mới về hiện thực, sáng tạo mới về tìm tòi những tứ thơ, làm mới ngôn ngữ, về tư duy nghệ thuật, về góc nhìn và cách cảm, cách thể hiện mới. Thơ hay còn đòi buộc một hồn thơ tính tế, tài hoa, giàu cảm xúc, một cá tính sáng tạo độc đáo, một thế giới nghệ thuật riêng (xin đọc Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Tố Hữu …)
11 bài thơ vào chung khảo, những bài nào đạt tiêu chí này? Tôi cho rằng không có bài nào, bởi những bài dự thi này đều rất cũ cả về tình, ý nội dung, và cũ cả về thi pháp. Những bài như Nhật Ký Rỗng, Tản Mạn Trưa, Xóm Mình Nghèo cất Giấu điện Vào đêm, Phía Mùa Cam Bạc Lá, tuy có mới hơn so với những bài khác, nhưng cũng đã cũ so với phong trào thơ trẻ những năm 2005-2010, và ngay tại ĐBSCL, cũ so với thơ Huỳnh Thuý Kiều trong hai tập Kiều Mây (2008) và Giấu anh Vào Cỏ Xanh (2010)
Xin đọc một bài của Huỳnh Thuý Kiều, để thấm sâu chất châu thổ ĐBSCL trong thơ
Mắc nợ đồng bằng
Cá trê nấu với dây tơ hồng
Ăn để về khóc đầm lưng áo mẹ
Gót chân son nợ một đời dâu bể
Giữa đồng bằng chợt thèm…
Trái giác nấu canh chua…
Sinh ra con đã nợ rồi
Cả tiếng dạ thưa
Cả nhịp xuồng chèo khuya xa người đi trễ tép
Mai sau tràm mật ngọt chỉ còn là kỷ vật
Bướm bay chiều tà. Ơi nguồn cội khẳng khiu!
Sợi chỉ vàng dệt kín mái lá bên hiên
Nồi canh rau tập tàng
Vị cua nêm hương ngọt
Lùa chén cơm mồ hôi rơi nước mắt
Rơm vụ đầu dậy những nấm nhỏ xinh.
Mùa nước lên
Đêm. Lúa thao thức cựa mình
Ánh trăng rớt dưới tàn cây cuối làng cổ thụ nhất
Trò chơi dân gian bặt tăm bóng dáng
Chú dế than buồn ngoẹo cổ gãi râu.
Muốn quên đồng bằng. Dễ đâu quên được?
Màu ký ức cứ xòe ra như bàn tay năm ngón
Đây bếp lửa thơm mùi tro bánh tét
Mắm sặc kho bông súng chấm trưa nồng
Nợ khói ụn dừa buổi sớm lạnh đông
Nợ dọc đời người đau đáu chốn cưu mang…
NGHĨ...
Làm thơ hay rất khó. Cả đời tôi không làm được câu thơ nào, dù rất yêu thơ. Những nhà thơ tài năng luôn được nhân dân yêu quý. Và tôi nghĩ, cuộc thi thơ không chỉ là hoạt động phong trào của Hội Văn Nghệ, mà là nơi tìm kiếm những tài năng, mà nhờ họ, đời sống tinh thần của ta thêm phong phú, nhờ họ, tiếng Việt trở nên đẹp và giàu có, nhờ họ ta khám ra cái đẹp ngay trong đời thường, ngay cả trong gian khổ hy sinh, và cũng nhờ họ mà đất nước này là đất nước của thi ca…
Tháng 6 năm 2013
Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013
dương đức khánh-nhà văn đạt giải thưởng cuộc thi của báo Văn Nghệ 2011-2013
DƯƠNG ĐỨC KHÁNH,
NIỀM VUI VÀ CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC
Bùi Công Thuấn
1.Xin chúc mừng
Cuộc thi nào cũng có những tiêu chí và mục đích để tuyển chọn những người ưu việt. Dương Đức Khánh đã thắng trong hai cuộc thi khá bề thế. Truyện ngắn Nông Nổi Cù Lao của anh đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1200 chữ của báo Tuổi Trẻ. Anh đã vượt qua 1.758 bản thảo của cây bút chuyên nghiệp lẫn không chuyên từ nhiều nơi trên cả nước gửi về tham dự. Ban giám khảo cuộc thi gồm các nhà báo và nhà nghiên cứu văn học: Nguyên Ngọc, Lê Văn Thảo, Phạm Xuân Nguyên, GS- TS Lê Ngọc Trà, Nguyễn Quang Sáng... Nhà văn Nguyên Ngọc, thành viên ban giám khảo cuộc thi, nhận xét, đây là truyện ngắn "vừa buồn cười, vừa đau đớn". Theo ông, tính trào lộng trong câu chuyện chính là sự tự chế giễu cần thiết về những vụng dại của một thời chưa xa đã làm méo mó xã hội, đau khổ cho bao con người[1]. Cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ (2011-2013) có hơn 2000 bản thảo (Theo nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, có gần 3000 bản thảo, còn nhà báo Hiền Nguyễn, báo Tổ Quốc thì cho biết hơn 3000 tác phẩm dự thi*). Trước khi kết quả được công bố, nhiều nhà chuyên môn đã đánh giá cao những tên tuổi như Uông Triều, Chu Thị Minh Huệ, Võ Diệu Thanh, Chu Thùy Anh, Nguyễn Đức Lợi, Hoàng Hải Lâm[2]. Nhà văn Khuất Quang Thuỵ nói về tiêu chí của cuộc thi :” Yếu tố văn chương và những đóng góp cho thể loại được đặt lên hàng đầu, cùng với đó là nội dung phải đề cập tới vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, của thời đại chúng ta. Chuyện có thể xa xôi, nhưng cuối cùng nhất thiết nó phải rọi chiếu được vào đời sống hiện tại.[3]. Nói như thế để thấy một lần nữa Dương Đức Khánh lại vượt lên, trong một cuộc thi mà tài năng mới là yếu tố quyết định.
Thành công của Dương Đức Khánh, Thu Trân...đã ghi một “dấu ấn”[4] cho văn nghệ Đồng Nai. Xin chúc mừng các nhà văn trẻ của Văn nghệ Đồng Nai trên văn đàn cả nước.
2. Yếu tố nào đem đến thành công cho Dương Đức Khánh?
Nhà báo Hoàng Oanh tường thuật, “Dương Đức Khánh khiêm tốn tự nhận mình chỉ là"một người sắp chữ cần mẫn", vì những gì viết trong truyện đều là những sự việc có thật đã từng xảy ra ở nơi này nơi kia trong quá khứ - thời anh và nhiều người từng sống.” Anh sinh ra và lớn lên ở Huế, đến 19 tuổi vào Nam lập nghiệp và xây dựng gia đình ở Long Xuyên. Tuy nhiên, niềm đam mê viết lách và máu nghệ sĩ thôi thúc Dương Đức Khánh chuyển ra Đồng Nai, bỏ nghề may để công tác ở tập san Dưới Mái Trường (Sở Giáo dục Đồng Nai)[5].
Truyện của Dương Đức Khánh gây được ấn tượng ngay về một giọng văn nguyên chất nông dân. Hà Minh Anh nhận xét :” Dương Đức Khánh biết chắt lọc những tình tiết dân dã, những sinh hoạt thường ngày ở một làng quê nghèo để nói lên được những điều lớn lao là con người không nên thù địch, hãy vui vẻ bên nhau mà sống trong cảnh hòa bình. Dương Đức Khánh có một giọng văn riêng nghe mộc mạc như người nhà quê nói chuyện.”[4]
Với đặc điểm ngôn ngữ này, nếu Dương Đức Khánh còn dự thi, anh sẽ còn đạt giải, bởi đó là một giọng văn “lạ” giữa những giọng văn trau chuốt, hoặc giọng văn kiểu “teen” hay giọng văn “truyền thống”...điềm đạm, thâm trầm. Đương Đức Khánh (DĐK) mang được nguyên vẹn ngôn ngữ nông dân vào tác phẩm, nguyên vẹn cái không khi sinh hoạt đồng quê tạo ra kiểu ngôn ngữ ấy, và anh biết cách dấu mình đi để cho kiểu ngôn ngữ mộc, chân chất của người nông dân hiển hiện trên từng con chữ. Những đọan kể của riêng anh, cũng bắt chước giọng điệu ấy, tuy có chắt lọc hơn. Điều này không mới, vì Nguyễn Ngọc Tư đã đi trước anh, xa hơn là Nguyễn Thi, xa hơn là Sơn Nam, và nếu lần về nguồn cội ta gặp lạ Nguyễn Đình Chiểu. DĐK đã kế tục được một dòng văn chương mang những đặc thù thẩm mỹ của văn chương Nam Bộ, và anh góp thêm được chất riêng ngòi bút của mình, đó là “bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó.”
Điều làm nên giá trị đạt giải của Người Chợ Kệ là ở hình tượng con người nông dân mà DĐK khắc hoạ được. Người Chợ Kệ là người thế nào? Truyện kể về lai lịch tên chợ, “sự tích” của Mụ Thợ Rèn, và những câu chuyện “tào lao xịt bộp” của chú Tuỳ, con Mụ Thợ Rèn. Đây không phải là những kỳ tích đánh giặc hay kỳ tích làm được những việc phi thường trong kháng chiến, mà chỉ là những chuyện cười dân gian, đời thường, có cả yếu tố tục (truyện cười dân gian sử dụng nhiều yếu tố tục). Đây là chuyện của Mụ Thợ Rèn
” Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hô tát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ!. Nước sông Bồ thì trong leo lẽo. Đàn ông trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳn, kéo quần lên!...Lần ấy ghe làng về “nhứt phá”, giựt luôn giải “tam liên thắng, cờ trống tưng bừng mặt sông! Mụ vừa đi vừa chạy trên bờ, tay vung lên trời: “Nhờ tau đó! Nhờ tau đó!”
Chuyện chú Tuỳ cũng vậy, một lần Chú Tuỳ uống rượi với thằng Mỹ say, rồi dạy cho nó hát bài Hành Quân Xa (của Đỗ Nhuận)[6]. Cảnh tượng hài hước :” Rượu ngấm. Chú bắt đầu hát, rồi hò…Hắn ngồi nghểnh cổ nhìn rồi gục gặc hát theo. Bọn trẻ cứ lăn ra mà cười. Đến lúc hắn đứng dậy loạng choạng bước đi, không biết đứa nào đã bày đầu ra bài hát, cả bầy chạy theo vỗ tay hát ghẹo: “Hành quân xa không có tiền mua phở/ Trở lui về mà xin vợ vài trăm!...” Vậy mà cách có mấy buổi chiều hắn đã thuộc, giọng hắn ò ò theo bước đi khật khưởng: “Hanh quan xa khong co chien mo phọ…” Chú còn nghĩ cách bày nhiều trò ngoạn mục khác khiến cả làng phải cười nhiều trận đến khản cổ!.”
Tôi không nghĩ DĐK chỉ ghi nhận những “chuyện cười” để mua vui như vậy (mặc dù người Việt Nam thích cười). Người chợ Kệ có thể “mặc kệ” những chuyện đàm tiếu, cười cợt sự hồn nhiên của mình, nhưng không mặc kệ những chuyện về lòng nhân ái, về tình người, tình làng nghĩa xóm, về cái lẽ phải ở đời.“Một hôm có người đàn bà làng Hạ mang thai sắp đến ngày sinh nở, đang giữa buổi chợ chiều sắp tan bỗng đau trở dạ. Vật vã, rên la đến ngất lịm! Cả chợ xúm lại. Là đàn bà với nhau, cũng từng qua lần đi biển mồ côi nên ai cũng cảm thấy quặn lòng. Thế là mỗi người một tay, kẻ giúp chăn người giúp chiếu. Cuộc vượt cạn nơi góc lều quán chợ cũng mẹ tròn con vuông!” Có người nói, đàn bà làng khác đến đẻ rơi đẻ rớt giữa chợ làng mình là điềm xui, điềm gở! Mụ Thợ Rèn thì nói :” Ôi dào! Ông trời có mắt, mình cứ ăn ở cho phải, ai nói chi mặc kệ! Cứ “kệ” là qua hết!”
Chú Tuỳ say sưa, hồn nhiên vậy, thế nhưng trong câu hò chú dạy cho thằng Phớt (thằng Mỹ say), lại có ý nghĩa sâu sắc: Chú bắt nhịp cho thằng Mỹ hò: ” Hò hô hố hô!...”.“Đáo tói noi đay/ đát nuoc la lung/ nghe con chim keu tui cung sơ…Họ hô!...” Rồi chú hò “thông dịch” lại câu hò của thằng Mỹ : Hò hô…Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng / nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run! Hò hô!...” Hành động của chú Tuỳ được dân làng tán thưởng :” Mụ Thêm vỗ đùi ra chiều hả hê: “Ờ, không run răng được!...Chết gần hết rồi mới “chạy làng” về đây! Không run răng được!”. Cả chợ cười cái rần. Mụ Lé nổi hứng: “Chà, hò nghe hợp tình chi lạ! Đây, thưởng cho…một đòn bánh tét! Hai anh em ăn cho no mà hò!...” Hơn thế, Chú Tuỳ còn có công “thuần hoá” thằng Mỹ khi cho nó tham gia cuộc đua ghe, và một lần nữa nó lại thua những người nông dân bình thường. Tác giả bình luận :” Nhưng những động tác này đối với một thân hình nặng nề - một người Mỹ như thằng Phớt thì phải học tới “bạc râu” may ra mới theo kịp!.” Chú Tuỳ tự hào :” “Mỹ dưng mà…thành dân chợ Kệ rồi!...Biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo…được mụ Lé thưởng bánh tét đàng hoàng nghe! Hề!...”
Trong truyện, những “thằng Mỹ” đã thua đến 2 lần. Lần thứ nhất, “Đêm căn cứ Ti-bon trên núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công, cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ...Mờ sáng, cái thứ bay dạt về đồng làng không phải là những chiếc dù mà là…một tốp lính Mỹ te tua xơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng! Chúng la ó hoảng loạn, xí lô xí la như bồ chao bể tổ một hồi rồi thất thểu kéo nhau vô náu trong nhà thờ hoang. ». Lần thứ hai, thằng Phớt tham gia đua ghe phải bỏ cuộc, trở thành trò cười cho dân làng. Chúng đã biết « sợ » dân tộc này. « Nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run..”.
Khi viết về những người Mỹ thua trận, DĐK đã không nói về sự căm thù và thái độ trả thù giặc Mỹ như những truyện thời kháng chiến (chẳng hạn, Những đứa con trong gia đình-Nguyễn Thi). Điều ấy là hợp tình trong hoàn cảnh hiện nay khi cả hai dân tộc đã khép lại quá khứ, hướng đến tương lai, hợp tác và hữu nghị. Chú Tuỳ đã thể hiện cái tinh thần ấy. Nói chuyện với tác giả, « Chú vỗ cái bốp: “Rồi! Tau sẽ đi Mỹ!” Rồi chú vỗ bùm bùm xuống bộ sập: “Này, trong này là hai tấn rưỡi, tau đang trữ, chờ giá! Tau sẽ “mần” một chuyến “xuất khẩu tự túc”!...Qua bên đó, tau sẽ đi tìm thằng Phớt! Uống rượu với hắn…hai ba tháng đã đời chơi! Hà!…”
3. Con đường phía trước
Hai cuộc thi đã khẳng định tên tuổi Dương Đức Khánh là một nhà văn có văn phong riêng, có sức gây ấn tượng. Con thuyền đã ra khơi, mênh mông vẫy vùng. Tôi cầu chúc nhà văn Dương Đức Khánh mọi điều tốt đẹp để anh có thể thực hiện được ước vọng nghệ thuật của mình và làm tròn “thiên chức” của một nhà văn.
Con đường sáng tạo còn dài phía trước và không ít khó khăn. Nhà văn Nguyễn Đức Thọ sau thành công của Hồi Ức Làng Che đã thốt lên một câu Kiều “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh “. Anh gọi 15 truyện ngắn anh đã viết được là 15 năm của đời Kiều. Nhà văn tài hoa và viết được những câu chuyện bi kịch dữ dội của một thời ấy đã sớm ra đi trong sự nhớ tiếc của Văn Nghệ Đồng Nai. Cũng không xa Đồng Nai gì lắm, Nguyễn Ngọc Tư đã nếm trải vinh quang và cay đắng của nghiệp cầm bút...”Đã mang lấy nghiệp vào thân”..., làm sao giữ được lửa của ngòi bút, làm sao tích luỹ được vốn cho đầy, làm sao tìm được con đường sáng tạo riêng cho mình, và làm sao đứng vững trước những phong ba bão táp của tình đời, để sáng tạo cho đời những tác phẩm giá trị, góp phần làm giàu đẹp tâm hồn và văn hoá Việt Nam, tôi nghĩ nhà văn nào cũng trăn trở về những điều ấy.
Điều tôi chia sẻ với nhà văn DĐK là ở những gì anh sẽ viết. Ngay trong những thành công của anh đã hàm chứa những khó khăn. Nếu anh chỉ viết về những gì thuộc về vốn sống, thì sẽ có lúc anh cạn vốn. Và nếu anh chỉ giữ một cách viết dân dã, một giọng dân dã thì sắc màu nghệ thuật của anh sẽ rất đơn điệu. Nguyễn Ngọc Tư khởi đầu bằng những chuyện đồng quê dân dã, nhưng ngay sau đó nhà văn này đã tìm đi những lối khác. Điều làm người đọc còn thấy “thiếu” trong những truyện ngắn của DĐK là “chất tư tưởng” của tác phẩm. Chất hồn nhiên, tự nhiên của sự việc lấn át tính tư tưởng, khiến cho truyện của anh gần như là kiểu truyện phong tục, viết về những cái “lạ” trong đời sống, sinh hoạt ở một vùng nào đó. Người đọc có thể ngạc nhiên, thú vị về những câu chuyện “lạ”, nhưng không đọng lại được điều gì về tư tưởng và nghệ thuật.
Người Chợ Kệ, giàu chất ký hơn truyện. Đoạn anh miêu tả về những người lính Mỹ thua, chạy núp trong nhà thờ hoang, chiều chiều trực thăng Mỹ thả xuống những thùng lương thực cho họ rồi bỏ đi. Những người lính Mỹ này gào thét và bắn đạn xối xả lên trời. ”Từng gương mặt đỏ ngầu vằn lên giận dữ như đang nguyền rủa một ai đó… », Tôi e rằng tác giả miêu tả như vậy để đọc cho vui. Ngưởi Mỹ không bao giờ bỏ rơi đồng đội của họ như thế, và Việt Cộng cũng không để yên cho những người lính Mỹ này, vì bọn chúng đã gây tội ác với nhân dân.
Cũng vậy, nhân vật tôi trong truyện không có vai trò gì, ngoài vai trò là người bịa chuyện để gạt chú Tuỳ, khiến cho Chú tưởng thật và quyết tâm đi Mỹ. Nhưng chú đi Mỹ để làm gì ? Tác giả không có một dòng nào miêu tả ý thức dân tộc về hành động của chú. Đi Mỹ chỉ để uống rượu hai ba tháng với thằng Phớt cho đã. Đúng là chuyện « tào lao xịt bộp ». Nhân vật chú Tuỳ có thể tào lao, còn người đọc muốn nghe tác giả nói những điều gan ruột, những điều xuất phát từ chân tâm. Tác giả bịa ra chuyện « tào lao xịt bộp » để làm gì ? Phải chăng tác giả muốn đùa cợt trên sự « chất phác » của chú Tuỳ « ? Hay để có câu chuyện vui mà nhớ về ngày xưa ? Dù thế nào, tôi nghĩ rằng tác giả có những cách kết thúc truyện khác. Cách kết truyện của DĐK không tạo được hiệu quả tư tưởng và nghệ thuật. Đọc xong truyện tôi cảm thấy hụt hẫng và tiếc.
Tôi lại có một mong ước, một ngày nào đó được đọc truyện Người Đồng Nai của DĐK. Một lần nữa xin chúc mừng thành công của nhà văn.
Tháng 5. 2013
_____________________________________________________
[1] http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/mot-nha-tho-doat-giai-cuoc-thi-viet-truyen-ngan-1-200-chu-1973025.html
[*] http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/49/doi-song-van-hoc/115930/nhin-lai-cuoc-thi-truyen-ngan-bao-van-nghe-2011-2012.aspx
[2] http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=16574
[3] http://www.baomoi.com/Xuat-hien-mot-lop-nha-van-tre-chung-chac/152/10905873.epi
[4] http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/414169
[5] Hoàng Oanh-Tuổi Trẻ: http://news.socbay.com/tac_gia_duong_duc_khanh_cuoi_buon_ve_thoi_toi_da_song_-600126154-302055424.html
[4] Hà Minh Anh: http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/414169
[6] Hành Quân Xa -Sáng tác: Đỗ Nhuận - Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ. Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi. Mắt ta sáng chí căm thù bảo vệ đồng quê ta tiến bước. Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi....
NIỀM VUI VÀ CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC
Bùi Công Thuấn
1.Xin chúc mừng
Cuộc thi nào cũng có những tiêu chí và mục đích để tuyển chọn những người ưu việt. Dương Đức Khánh đã thắng trong hai cuộc thi khá bề thế. Truyện ngắn Nông Nổi Cù Lao của anh đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1200 chữ của báo Tuổi Trẻ. Anh đã vượt qua 1.758 bản thảo của cây bút chuyên nghiệp lẫn không chuyên từ nhiều nơi trên cả nước gửi về tham dự. Ban giám khảo cuộc thi gồm các nhà báo và nhà nghiên cứu văn học: Nguyên Ngọc, Lê Văn Thảo, Phạm Xuân Nguyên, GS- TS Lê Ngọc Trà, Nguyễn Quang Sáng... Nhà văn Nguyên Ngọc, thành viên ban giám khảo cuộc thi, nhận xét, đây là truyện ngắn "vừa buồn cười, vừa đau đớn". Theo ông, tính trào lộng trong câu chuyện chính là sự tự chế giễu cần thiết về những vụng dại của một thời chưa xa đã làm méo mó xã hội, đau khổ cho bao con người[1]. Cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ (2011-2013) có hơn 2000 bản thảo (Theo nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, có gần 3000 bản thảo, còn nhà báo Hiền Nguyễn, báo Tổ Quốc thì cho biết hơn 3000 tác phẩm dự thi*). Trước khi kết quả được công bố, nhiều nhà chuyên môn đã đánh giá cao những tên tuổi như Uông Triều, Chu Thị Minh Huệ, Võ Diệu Thanh, Chu Thùy Anh, Nguyễn Đức Lợi, Hoàng Hải Lâm[2]. Nhà văn Khuất Quang Thuỵ nói về tiêu chí của cuộc thi :” Yếu tố văn chương và những đóng góp cho thể loại được đặt lên hàng đầu, cùng với đó là nội dung phải đề cập tới vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, của thời đại chúng ta. Chuyện có thể xa xôi, nhưng cuối cùng nhất thiết nó phải rọi chiếu được vào đời sống hiện tại.[3]. Nói như thế để thấy một lần nữa Dương Đức Khánh lại vượt lên, trong một cuộc thi mà tài năng mới là yếu tố quyết định.
Thành công của Dương Đức Khánh, Thu Trân...đã ghi một “dấu ấn”[4] cho văn nghệ Đồng Nai. Xin chúc mừng các nhà văn trẻ của Văn nghệ Đồng Nai trên văn đàn cả nước.
2. Yếu tố nào đem đến thành công cho Dương Đức Khánh?
Nhà báo Hoàng Oanh tường thuật, “Dương Đức Khánh khiêm tốn tự nhận mình chỉ là"một người sắp chữ cần mẫn", vì những gì viết trong truyện đều là những sự việc có thật đã từng xảy ra ở nơi này nơi kia trong quá khứ - thời anh và nhiều người từng sống.” Anh sinh ra và lớn lên ở Huế, đến 19 tuổi vào Nam lập nghiệp và xây dựng gia đình ở Long Xuyên. Tuy nhiên, niềm đam mê viết lách và máu nghệ sĩ thôi thúc Dương Đức Khánh chuyển ra Đồng Nai, bỏ nghề may để công tác ở tập san Dưới Mái Trường (Sở Giáo dục Đồng Nai)[5].
Truyện của Dương Đức Khánh gây được ấn tượng ngay về một giọng văn nguyên chất nông dân. Hà Minh Anh nhận xét :” Dương Đức Khánh biết chắt lọc những tình tiết dân dã, những sinh hoạt thường ngày ở một làng quê nghèo để nói lên được những điều lớn lao là con người không nên thù địch, hãy vui vẻ bên nhau mà sống trong cảnh hòa bình. Dương Đức Khánh có một giọng văn riêng nghe mộc mạc như người nhà quê nói chuyện.”[4]
Với đặc điểm ngôn ngữ này, nếu Dương Đức Khánh còn dự thi, anh sẽ còn đạt giải, bởi đó là một giọng văn “lạ” giữa những giọng văn trau chuốt, hoặc giọng văn kiểu “teen” hay giọng văn “truyền thống”...điềm đạm, thâm trầm. Đương Đức Khánh (DĐK) mang được nguyên vẹn ngôn ngữ nông dân vào tác phẩm, nguyên vẹn cái không khi sinh hoạt đồng quê tạo ra kiểu ngôn ngữ ấy, và anh biết cách dấu mình đi để cho kiểu ngôn ngữ mộc, chân chất của người nông dân hiển hiện trên từng con chữ. Những đọan kể của riêng anh, cũng bắt chước giọng điệu ấy, tuy có chắt lọc hơn. Điều này không mới, vì Nguyễn Ngọc Tư đã đi trước anh, xa hơn là Nguyễn Thi, xa hơn là Sơn Nam, và nếu lần về nguồn cội ta gặp lạ Nguyễn Đình Chiểu. DĐK đã kế tục được một dòng văn chương mang những đặc thù thẩm mỹ của văn chương Nam Bộ, và anh góp thêm được chất riêng ngòi bút của mình, đó là “bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó.”
Điều làm nên giá trị đạt giải của Người Chợ Kệ là ở hình tượng con người nông dân mà DĐK khắc hoạ được. Người Chợ Kệ là người thế nào? Truyện kể về lai lịch tên chợ, “sự tích” của Mụ Thợ Rèn, và những câu chuyện “tào lao xịt bộp” của chú Tuỳ, con Mụ Thợ Rèn. Đây không phải là những kỳ tích đánh giặc hay kỳ tích làm được những việc phi thường trong kháng chiến, mà chỉ là những chuyện cười dân gian, đời thường, có cả yếu tố tục (truyện cười dân gian sử dụng nhiều yếu tố tục). Đây là chuyện của Mụ Thợ Rèn
” Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hô tát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ!. Nước sông Bồ thì trong leo lẽo. Đàn ông trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳn, kéo quần lên!...Lần ấy ghe làng về “nhứt phá”, giựt luôn giải “tam liên thắng, cờ trống tưng bừng mặt sông! Mụ vừa đi vừa chạy trên bờ, tay vung lên trời: “Nhờ tau đó! Nhờ tau đó!”
Chuyện chú Tuỳ cũng vậy, một lần Chú Tuỳ uống rượi với thằng Mỹ say, rồi dạy cho nó hát bài Hành Quân Xa (của Đỗ Nhuận)[6]. Cảnh tượng hài hước :” Rượu ngấm. Chú bắt đầu hát, rồi hò…Hắn ngồi nghểnh cổ nhìn rồi gục gặc hát theo. Bọn trẻ cứ lăn ra mà cười. Đến lúc hắn đứng dậy loạng choạng bước đi, không biết đứa nào đã bày đầu ra bài hát, cả bầy chạy theo vỗ tay hát ghẹo: “Hành quân xa không có tiền mua phở/ Trở lui về mà xin vợ vài trăm!...” Vậy mà cách có mấy buổi chiều hắn đã thuộc, giọng hắn ò ò theo bước đi khật khưởng: “Hanh quan xa khong co chien mo phọ…” Chú còn nghĩ cách bày nhiều trò ngoạn mục khác khiến cả làng phải cười nhiều trận đến khản cổ!.”
Tôi không nghĩ DĐK chỉ ghi nhận những “chuyện cười” để mua vui như vậy (mặc dù người Việt Nam thích cười). Người chợ Kệ có thể “mặc kệ” những chuyện đàm tiếu, cười cợt sự hồn nhiên của mình, nhưng không mặc kệ những chuyện về lòng nhân ái, về tình người, tình làng nghĩa xóm, về cái lẽ phải ở đời.“Một hôm có người đàn bà làng Hạ mang thai sắp đến ngày sinh nở, đang giữa buổi chợ chiều sắp tan bỗng đau trở dạ. Vật vã, rên la đến ngất lịm! Cả chợ xúm lại. Là đàn bà với nhau, cũng từng qua lần đi biển mồ côi nên ai cũng cảm thấy quặn lòng. Thế là mỗi người một tay, kẻ giúp chăn người giúp chiếu. Cuộc vượt cạn nơi góc lều quán chợ cũng mẹ tròn con vuông!” Có người nói, đàn bà làng khác đến đẻ rơi đẻ rớt giữa chợ làng mình là điềm xui, điềm gở! Mụ Thợ Rèn thì nói :” Ôi dào! Ông trời có mắt, mình cứ ăn ở cho phải, ai nói chi mặc kệ! Cứ “kệ” là qua hết!”
Chú Tuỳ say sưa, hồn nhiên vậy, thế nhưng trong câu hò chú dạy cho thằng Phớt (thằng Mỹ say), lại có ý nghĩa sâu sắc: Chú bắt nhịp cho thằng Mỹ hò: ” Hò hô hố hô!...”.“Đáo tói noi đay/ đát nuoc la lung/ nghe con chim keu tui cung sơ…Họ hô!...” Rồi chú hò “thông dịch” lại câu hò của thằng Mỹ : Hò hô…Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng / nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run! Hò hô!...” Hành động của chú Tuỳ được dân làng tán thưởng :” Mụ Thêm vỗ đùi ra chiều hả hê: “Ờ, không run răng được!...Chết gần hết rồi mới “chạy làng” về đây! Không run răng được!”. Cả chợ cười cái rần. Mụ Lé nổi hứng: “Chà, hò nghe hợp tình chi lạ! Đây, thưởng cho…một đòn bánh tét! Hai anh em ăn cho no mà hò!...” Hơn thế, Chú Tuỳ còn có công “thuần hoá” thằng Mỹ khi cho nó tham gia cuộc đua ghe, và một lần nữa nó lại thua những người nông dân bình thường. Tác giả bình luận :” Nhưng những động tác này đối với một thân hình nặng nề - một người Mỹ như thằng Phớt thì phải học tới “bạc râu” may ra mới theo kịp!.” Chú Tuỳ tự hào :” “Mỹ dưng mà…thành dân chợ Kệ rồi!...Biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo…được mụ Lé thưởng bánh tét đàng hoàng nghe! Hề!...”
Trong truyện, những “thằng Mỹ” đã thua đến 2 lần. Lần thứ nhất, “Đêm căn cứ Ti-bon trên núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công, cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ...Mờ sáng, cái thứ bay dạt về đồng làng không phải là những chiếc dù mà là…một tốp lính Mỹ te tua xơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng! Chúng la ó hoảng loạn, xí lô xí la như bồ chao bể tổ một hồi rồi thất thểu kéo nhau vô náu trong nhà thờ hoang. ». Lần thứ hai, thằng Phớt tham gia đua ghe phải bỏ cuộc, trở thành trò cười cho dân làng. Chúng đã biết « sợ » dân tộc này. « Nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run..”.
Khi viết về những người Mỹ thua trận, DĐK đã không nói về sự căm thù và thái độ trả thù giặc Mỹ như những truyện thời kháng chiến (chẳng hạn, Những đứa con trong gia đình-Nguyễn Thi). Điều ấy là hợp tình trong hoàn cảnh hiện nay khi cả hai dân tộc đã khép lại quá khứ, hướng đến tương lai, hợp tác và hữu nghị. Chú Tuỳ đã thể hiện cái tinh thần ấy. Nói chuyện với tác giả, « Chú vỗ cái bốp: “Rồi! Tau sẽ đi Mỹ!” Rồi chú vỗ bùm bùm xuống bộ sập: “Này, trong này là hai tấn rưỡi, tau đang trữ, chờ giá! Tau sẽ “mần” một chuyến “xuất khẩu tự túc”!...Qua bên đó, tau sẽ đi tìm thằng Phớt! Uống rượu với hắn…hai ba tháng đã đời chơi! Hà!…”
3. Con đường phía trước
Hai cuộc thi đã khẳng định tên tuổi Dương Đức Khánh là một nhà văn có văn phong riêng, có sức gây ấn tượng. Con thuyền đã ra khơi, mênh mông vẫy vùng. Tôi cầu chúc nhà văn Dương Đức Khánh mọi điều tốt đẹp để anh có thể thực hiện được ước vọng nghệ thuật của mình và làm tròn “thiên chức” của một nhà văn.
Con đường sáng tạo còn dài phía trước và không ít khó khăn. Nhà văn Nguyễn Đức Thọ sau thành công của Hồi Ức Làng Che đã thốt lên một câu Kiều “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh “. Anh gọi 15 truyện ngắn anh đã viết được là 15 năm của đời Kiều. Nhà văn tài hoa và viết được những câu chuyện bi kịch dữ dội của một thời ấy đã sớm ra đi trong sự nhớ tiếc của Văn Nghệ Đồng Nai. Cũng không xa Đồng Nai gì lắm, Nguyễn Ngọc Tư đã nếm trải vinh quang và cay đắng của nghiệp cầm bút...”Đã mang lấy nghiệp vào thân”..., làm sao giữ được lửa của ngòi bút, làm sao tích luỹ được vốn cho đầy, làm sao tìm được con đường sáng tạo riêng cho mình, và làm sao đứng vững trước những phong ba bão táp của tình đời, để sáng tạo cho đời những tác phẩm giá trị, góp phần làm giàu đẹp tâm hồn và văn hoá Việt Nam, tôi nghĩ nhà văn nào cũng trăn trở về những điều ấy.
Điều tôi chia sẻ với nhà văn DĐK là ở những gì anh sẽ viết. Ngay trong những thành công của anh đã hàm chứa những khó khăn. Nếu anh chỉ viết về những gì thuộc về vốn sống, thì sẽ có lúc anh cạn vốn. Và nếu anh chỉ giữ một cách viết dân dã, một giọng dân dã thì sắc màu nghệ thuật của anh sẽ rất đơn điệu. Nguyễn Ngọc Tư khởi đầu bằng những chuyện đồng quê dân dã, nhưng ngay sau đó nhà văn này đã tìm đi những lối khác. Điều làm người đọc còn thấy “thiếu” trong những truyện ngắn của DĐK là “chất tư tưởng” của tác phẩm. Chất hồn nhiên, tự nhiên của sự việc lấn át tính tư tưởng, khiến cho truyện của anh gần như là kiểu truyện phong tục, viết về những cái “lạ” trong đời sống, sinh hoạt ở một vùng nào đó. Người đọc có thể ngạc nhiên, thú vị về những câu chuyện “lạ”, nhưng không đọng lại được điều gì về tư tưởng và nghệ thuật.
Người Chợ Kệ, giàu chất ký hơn truyện. Đoạn anh miêu tả về những người lính Mỹ thua, chạy núp trong nhà thờ hoang, chiều chiều trực thăng Mỹ thả xuống những thùng lương thực cho họ rồi bỏ đi. Những người lính Mỹ này gào thét và bắn đạn xối xả lên trời. ”Từng gương mặt đỏ ngầu vằn lên giận dữ như đang nguyền rủa một ai đó… », Tôi e rằng tác giả miêu tả như vậy để đọc cho vui. Ngưởi Mỹ không bao giờ bỏ rơi đồng đội của họ như thế, và Việt Cộng cũng không để yên cho những người lính Mỹ này, vì bọn chúng đã gây tội ác với nhân dân.
Cũng vậy, nhân vật tôi trong truyện không có vai trò gì, ngoài vai trò là người bịa chuyện để gạt chú Tuỳ, khiến cho Chú tưởng thật và quyết tâm đi Mỹ. Nhưng chú đi Mỹ để làm gì ? Tác giả không có một dòng nào miêu tả ý thức dân tộc về hành động của chú. Đi Mỹ chỉ để uống rượu hai ba tháng với thằng Phớt cho đã. Đúng là chuyện « tào lao xịt bộp ». Nhân vật chú Tuỳ có thể tào lao, còn người đọc muốn nghe tác giả nói những điều gan ruột, những điều xuất phát từ chân tâm. Tác giả bịa ra chuyện « tào lao xịt bộp » để làm gì ? Phải chăng tác giả muốn đùa cợt trên sự « chất phác » của chú Tuỳ « ? Hay để có câu chuyện vui mà nhớ về ngày xưa ? Dù thế nào, tôi nghĩ rằng tác giả có những cách kết thúc truyện khác. Cách kết truyện của DĐK không tạo được hiệu quả tư tưởng và nghệ thuật. Đọc xong truyện tôi cảm thấy hụt hẫng và tiếc.
Tôi lại có một mong ước, một ngày nào đó được đọc truyện Người Đồng Nai của DĐK. Một lần nữa xin chúc mừng thành công của nhà văn.
Tháng 5. 2013
_____________________________________________________
[1] http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/mot-nha-tho-doat-giai-cuoc-thi-viet-truyen-ngan-1-200-chu-1973025.html
[*] http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/49/doi-song-van-hoc/115930/nhin-lai-cuoc-thi-truyen-ngan-bao-van-nghe-2011-2012.aspx
[2] http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=16574
[3] http://www.baomoi.com/Xuat-hien-mot-lop-nha-van-tre-chung-chac/152/10905873.epi
[4] http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/414169
[5] Hoàng Oanh-Tuổi Trẻ: http://news.socbay.com/tac_gia_duong_duc_khanh_cuoi_buon_ve_thoi_toi_da_song_-600126154-302055424.html
[4] Hà Minh Anh: http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/414169
[6] Hành Quân Xa -Sáng tác: Đỗ Nhuận - Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ. Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi. Mắt ta sáng chí căm thù bảo vệ đồng quê ta tiến bước. Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi....
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013
NGHỊ QUYẾT TW5 (KHOÁ (VIII) VÀ NGHỊ QUYẾT 23 CỦA BCT VỚI LL&PBVH
THAM LUẬN*
Nghị quyết TW5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị với
LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG
Bùi Công Thuấn

Từ đổi mới đến nay, đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hoá, sáng tác và lý luận phê bình văn học nghệ thuật luôn là vấn đề “nóng” của thời sự văn học. Bởi có sự va đập, cọ xát giữa nhiều khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật khác nhau. Rất nhiều vấn đề không có lời giải đáp, chẳng hạn, vấn đề tự do trong sáng tạo, văn học và chính trị, văn học với kinh tế thị trường, văn học phản ánh hiện thực, vấn đề con người trong văn học, đổi mới văn học như thế nào, số phận của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa... Hội nghị Lý Luận phê bình Đồ Sơn không giải quyết được vấn đề nào cụ thể. Đời sống văn học trong chờ ánh sáng mở đường.
1.ÁNH SÁNG TỪ CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
Trong tình hình ấy, sự ra đời của Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) và nghị quyết 23 của Bộc Chính Trị (ngày 16.6.2008) thực sự có ý nghĩa mở đường. Cả hai nghị quyết là sự kết tinh nhận thức và đường lối văn nghệ của Đảng từ Đề Cương Văn Hoá 1943 đến nay. Là sự kiên định quan điểm văn hoá nghệ thuật phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, "Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải thành ‘một bánh xe nhỏ và một đinh ốc’ trong bộ máy xã hội dân chủ vĩ đại, thống nhất do đội tiền phong hoàn toàn giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân mở máy”.[1]; Là sự phát triển quan điểm nghệ thuật Marxist và tư tưởng Hồ Chí Minh trước yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, giai đọan công nghiệp hoá đất nước và hội nhập toàn cầu hoá.
Trước đây, trong giai đoạn kháng chiến (1945-1975), dân tộc ta phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” mới giành được, lý tưởng độc lập tự do là lý tưởng của cả dân tộc, văn học nghệ thuật cũng hướng về lý tưởng ấy. Phương châm văn nghệ kháng chiến là, “Văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá” văn hoá văn nghệ phục vụ công, nông, binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy :”Không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật mà cần nói rõ văn hoá phục vụ công, nông binh.”[2], Đảng yêu cầu văn nghệ sĩ sáng tác theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa [3]
Từ 1986, Đảng đổi mới tư duy, đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, nhà văn thế hệ kháng chiến đã quen viết bằng Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN không sao vượt lên được, họ thực sự lúng túng trước yêu cầu mới. Văn học tự thân đổi mới mà không tránh khỏi những hạn chế. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) đã chỉ ra tình trạng yếu kém lý luận và phê bình văn học nghệ thuật thời gian qua:
” Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa. Xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm.”(Nghị Quyết TW 5)
Từ đó đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về lý luận và phê bình băn học
“Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.
Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá. Nâng cao chất lượng, phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận.
Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng.”

Nghị quyết 23 cũng chỉ rõ thêm:
“Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt, chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.
Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hóa phê bình bị hạ thấp...”
Và khẳng định:
“Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, có sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân.
Văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ.
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển lý luận văn học, nghệ thuật...Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú cho hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại...”
2.TÌNH HÌNH LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG CẢ NƯỚC
Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị là kết tinh của sự kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ; là sự kiện định đường lối văn hoá văn nghệ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng kể từ Đề Cương Văn Hoá 1943. Những văn kiện này của Đảng đã mở ra nhận thức mới cho sáng tác văn học nghệ thuật, làm sáng tỏ và giải quyết được nhiều vấn đề lý luận văn nghệ trong giai đoạn đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn.
Sự ra đời của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương là sự quan tâm đặc biệt của Đảng về lý luận phê bình VHNT. Hội đồng là cơ quan tư vấn tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư và quản lý trực tiếp của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương.
Từ khi Hội đồng lý luận và Phê bình VHNT trung ương ra đời (2008), các hoạt động lý luận phê bình trở nên sôi nổi và có chiều sâu. Hội Đồng có chức năng “xem xét, đánh giá tình hình sáng tác, lý luận, phê bình, những khuynh hướng nảy sinh trong đời sống VHNT, tổng kết việc thực hiện đường lối văn nghệ của Đảng, bảo vệ những thành tựu đã đạt được, kết luận một số vấn đề lý luận thực tiễn văn nghệ còn có ý kiến khác nhau, liên kết đội ngũ lý luận phê bình chuyên và không chuyên trong cả nước...”
Hội đồng lý luận đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của lý luận và phê bình VHNT,
Năm 2008, hội thảo "Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập". Năm 2009 hội thảo "Tính dân tộc và tính hiện đại trong VH,NT hiện nay". Năm 2010 hội thảo “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” . Tổ chức đề án “Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”. Năm 2010, Hội đồng đã xuất bản cuốn sách “Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay” và “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”. Xây dựng Đề án “Chống sự xâm nhập của sản phẩm độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”... 2013 thực hiện đề án khoa học cấp nhà nước "Lý luận văn nghệ ở Việt Nam - thực tiễn và định hướng phát triển"; tổ chức hội thảo "Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử", góp phần định hướng các Hội văn học, nghệ thuật ở trung ương và địa phương cùng đội ngũ văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tác, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống. Hội đồng tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái về văn học, nghệ thuật và chủ động bám sát thời sự văn học, nghệ thuật để từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp, đạt hiệu quả cao hơn.
Hội Đồng cũng tổ chức nhiều đợt tập huấn lý luận phê bình VHNT cho đối tượng là những người làm công tác quản lý, chỉ đạo văn học, nghệ thuật ở các cơ quan Trung ương; những cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học văn khoa tại Hà Nội, các nhà báo ở các báo, đài trung ương có chuyên trang văn học, nghệ thuật…giúp những người có trách nhiệm có cái nhìn hệ thống về đường lối, quan điểm của Ðảng ta về văn nghệ. Ðồng thời, từ nhận thức về các thành tựu, hạn chế của tình hình văn nghệ hiện nay để nâng cao trách nhiệm cá nhân trên cương vị công tác của mình.(Hội Đồng đã tổ chức lớp tập huấn tại Đồng Nai từ 18 đến 21 .7.2012)
Những thành tựu có thể nhận thấy rõ ở lễ trao thưởng các tác phẩm lý luận phê bình văn học - nghệ thuật trong ba năm 2010-2012. Có 29 công trình, tác phẩm đã được trình Hội đồng lựa chọn trao thưởng từ 332 công trình, tác phẩm của 92 đơn vị, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, Hội văn học - nghệ thuật các tỉnh, thành phố và các hội chuyên ngành gửi dự xét tặng thưởng.
Nhìn chung các “khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị..”đã bị đầy lùi. Văn học kháng chiến và cách mạng được khẳng định, các quan điểm về văn học nghệ thuật của Đảng được củng cố làm nền tảng cho lý luận phê bình. Các khuynh hướng sáng tác suy đồi bị phê phán mạnh (sex, xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, thái độ mơ hồ về chiến tranh, không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa.)
Tuy nhiên trong thực tiễn sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật, thời gian qua không phải không có lúc “khủng hoảng”, hoặc “loạn chuẩn”. Sự tranh cãi thường xảy ra ở các giải thưởng văn học của Hội Nhà Văn và các cuộc thi cấp miền (chẳng hạn tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, bài thơ Trăng Nghẹn giải thưởng Đồng bằng sông Cửu Long), nhất là hội thảo thơ “Hoàng Quang Thuận với non sông Yên Tử” 8/8/2012, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam do Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức. Có tới 21 tham luận đánh giá rất cao thơ Hoàng Quang Thuận. Nhưng sau đó Nguyễn Minh Tâm đã phát hiện Hoàng Quang Thuận sao chép sách “Chùa Yên Tử, Lịch Sử - Truyền Thuyết Di Tích và Danh Thắng”,“thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương”[4]. Thường vụ Hội Nhà Văn đã có thông báo rút kinh nghiệm sâu sắc về hội thảo này.[5]
Các đợt tập huấn của Hội đồng LLPBVHNT TW đã nhiều lần đề cập đến tình trạng “loạn chuẩn”, và nhận ra nguyên nhân là, khi rời bỏ Chủ Nghịa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, lý luận phê bình Việt Nam chưa có một phương pháp phê bình mới phù hợp, chưa có những tiêu chí cụ thể cho phê bình văn học. Trong khi đó văn chương bị thu hút về phía thị trường. Những bài giới thiệu quảng cáo sách góp thêm phần làm “loạn chuẩn” phê bình văn chương, tham luận trong các hội thảo văn chương thì tung hứng mặc sức phô diễn những bài tụng ca cảm tính. Ngược lại, công chúng và những người làm công tác quản lý văn học nghệ thuật lại vẫn theo chuẩn của lý luận phê bình thời kháng chiến, chưa theo kịp sự đổi mới của Đảng.
Cho đến nay (2013) chúng ta vẫn chưa có công trình nào về lý luận phê bình văn chương Việt Nam, chưa có phương pháp phê bình nào được khẳng định có giá trị phù hợp với tình hình mới của văn chương nghệ thuật. Con đường còn mở ra phía trước của những tìm tòi và thể nghiệm. Chẳng hạn, GS Trần Đình Sử nghiên cứu Thi Pháp Học, Đỗ Lai Thuý áp dụng Phân Tâm học nghiên cứu văn chương VN (Bút Pháp của Ham Muốn), Trịnh Bá Dĩnh giới thiệu chủ nghĩa Cấu Trúc trong văn học,...còn công chúng vẫn kiên định phương pháp của Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa thời kháng chiến.

2.LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở ĐỒNG NAI
Những nhận xét của NQ TW5 và NQ 23 về lý luận phê bình có thể nhận thấy rõ ở Đồng Nai. Đội ngũ viết phê bình và lý luận văn học ở Đồng Nai “chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.”
Nói cho thật đúng, Đồng Nai không có đội ngũ viết phê bình chuyên nghiệp, vì thế không có những công trình lý luận phê bình thực sự có tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lác đác có những bài giới thiệu tác phẩm trên tạp chí Văn Nghệ Đồng Nai, của các nhà thơ, nhà văn, chủ yếu là phê bình cảm tính theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Có thể kể đến Đặng Minh Hân, Phan Nam Sinh, Bùi Quang Tú, Bùi Quang Huy,...Tuy vậy, Hội Văn Nghệ Đồng Nai tổ chức được Hội đồng thẩm định tác phẩm, đánh giá được các tác phẩm trong các trại sáng tác. Chẳng hạn trại sáng tác đề tài học tập gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh, trại Tam Nông, trại Nhà Giáo-Nhà trường...
Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 5 năm 2007-2012 ghi nhận: “Ban Văn Học có 72 hội viên, trong đó có 8 hội viên Hội Nhà Văn Việt nam. Ban có 38 hội viên thơ, 32 hội viên văn xuôi và 02 hội viên nghiên cứu lý luận phê bình”. Về hoạt động lý luận phê bình, báo cáo đánh giá :”Hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình đã có dấu hiệu tích cực, thể hiện qua một số công trình sách, tác phẩm của các hội viên được công bố, trong đó 02 tác phẩm sách được giải thưởng của Uỷ Ban Toàn Quốc Liên Hiệp các Hội VHNT Việt Nam”
Nhìn ở góc độ phê bình, văn chương Đồng Nai không mắc phải những sai lầm như nhận định chung của NQ TW5 về tình hình sáng tác văn học nghệ thuật những năm qua. Không có khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, không đối lập văn nghệ với chính trị. Cũng không có xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém của thị trường, không có văn chương sex hay văn chương suy đồi.
Văn chương Đồng Nai sâu nặng tình quê hương, tình đồng đội, nghĩa tình cách mạng. Các tác giả đều viết với ý thức sâu sắc trách nhiệm công, trách nhiệm nhà văn phục vụ sự nghiệp cách mạng. Tác phẩm giàu tinh thần nhân văn và dân chủ. Mỗi tác giả đều nỗ lực vượt lên chính mình trong sáng tạo nghệ thuật. Xin đọc:
Tuyển tập Theo Sóng Đồng Nai, Nxb Đồng Nai 2000. Tuyển Tập thơ Đồng Nai 30 Năm. Nxb Tổng Hợp Đồng Nai 2005. Trầm Tích Chiến Khu D, Nxb HNV 2006. Nhà thơ Lê Thanh Xuân :Tiếng Ru Đêm- NxbVăn Học 2001 ; Đồng Hành – Nxb. HNV 2001; Hồn Đá- Nxb. HNV. 2007. Trần Ngọc Tuấn, tập Suối Reo. Nxb HNV 2006. Đỗ Minh Dương, tập Với Miền Đất Đỏ.Nxb HNV 2007. Xuân Bảo, Âm Vang Một Dòng Sông, Tôi Đi Nhặt Bụi Vàng, tuỳ bút-thơ. Nxb Hội Nhà Văn-2008. .. Nguyễn Đức Phước, tập thơ Đêm Khát. Nxb HNV 2008. Đàm Chu Văn : Hai Phía Thời Gian. Nxb HNV,2009. Đào Trọng Thử : Trốn, Nxb Hội Nhà Văn 2011. Hoàng Đình Nguyễn, tập thơ Tự Tình. Nxb Hội Nhà Văn 2011. Nguyễn Hoài Nhơn, tập thơ Hồi Quang, Nxb Hội Nhà Văn 2012..;
Đặng Minh Hân,Văn thơ Đồng Nai, đôi điều cảm nhận. 2007, Chất anh hùng của người Đồng Nai. Khôi Vũ, Vỡ dần trong mắt (2009), Phù phiếm bên biển, 2010. Đàn ống tre bên kia sông, Nxb Đồng Nai 2013. Lê Đăng Kháng, Người lính hát đơn ca.2007, Sương sớm Nxb Quân đội nhân dân 2011. Trần Thu Hằng , Đàn Đáy, Rừng thiêng vẫy gọi. 2007, Người đàn bà lưu vong 2008. Nguyễn Một, Dòng sông độ lượng, 2007, Đất trời vần vũ, 2009. Hoàng Ngọc Điệp, Chú cún đeo Lục Lạc, 2007. Bùi Quang Tú, Viên phấn và cây viết 2012. Bùi Quang Huy, Huỳnh Văn Nghệ như là giấc mơ, Văn Học Đồng Nai lịch sử & diện mạo. Nxb Đồng Nai 2011, Bùi Công Thuấn, Chút tình tri âm (2009), Những dòng sông vẫn chảy, Nxb Hội Nhà Văn 2011...Nguyễn Quốc Hoàn, Một hình ảnh giàu lòng yêu nước. Trần Thúc Hà, Người đi mở cõi, Người Trầm Lặng, Nxb Quân Đội Nhân Dân 2011. Tấn Hoài, Viên gạch lạ, Hoa Quý Lan...
Bản thân tôi khi biết phê bình (Chút Tình Tri Âm 2009, giải Trịnh Hoài Đức lần III và Những Giòng Sông Vẫn Chảy 2011, Giải VHNT 2011 của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam) đều dựa vào Nghị Quyết TW5 và nghị quyết 23 làm chuẩn mực để đánh giá tác phẩm. Cả hai nghị quyết đều đã mở rộng biên độ về phương pháp cho nhà phê bình. Đảng đã định hướng :” “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”, nhờ thế tôi vận dụng nhiều phương pháp phê bình để tiếp cận tác phẩm. Với tác phẩm viết bằng bút pháp Hiện thực, phương pháp phê bình Tiểu sử và phê bình Marxist có ưu thế khám phá ý nghĩa xã hội của tác phẩm. Phương pháp Cấu trúc và Giải Cấu trúc, hoặc Phân Tâm Học giúp đi sâu vào ý thức sáng tạo. Thi Pháp và Phong Cách học giúp khám phá cá tính sáng tạo của nhà văn.
Khi đọc các tác phẩm của các tác giả trong Hội VHNT Đồng Nai, tôi chú ý đến “sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng” và trách nhiệm của Các hội văn học, nghệ thuật. Đó là trách nhiệm “làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết, phát huy tính chủ động, tích cực xã hội và tài năng sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ”. Bởi Hội Văn Học Nghệ Thuật “ là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước...” Tôi nhận thấy có một dòng văn thơ cách mạng Đồng Nai chảy liên tực từ Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, đến các tác giả Đồng Nai hiện nay, phản ánh được nhiều mặt đời sống của nhân dân Đồng Nai, làm giàu đẹp thêm văn hoá Đồng Nai trên con đường công nghiệp hoá.
Nỗ lực sáng tạo để có những tác phẩm tương xứng với tầm vóc sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đồng Nai vẫn là trách nhiệm chưa hoàn thành của văn nghệ Đồng Nai. Dù vậy, chúng ta có quyền hy vọng bởi văn nghệ Đồng Nai đã có truyền thống và đang dồi dào tiềm lực.
Tháng 4.2013
________________________________________________
[1] V. Lenin- Tổ chức Đảng và văn học Đảng. NXB Sự Thật Hànội 1957. Tr. 13.
[2] Hà Huy Giáp - Hồ Chủ Tịch với một vài vấn đề văn hoá văn nghệ .Nxb Sự Thật 1978.Tr74
[3] Trường Chinh - Chủ Nghĩa Mác và Văn Hoá Việt Nam. 1948
[4] Nguyễn Minh Tâm- Thi Vân Yên Tử được sao chép từ đâu?
[5] Thông báo của Thường vụ Hội Nhà Văn Việt Nam-http://vanvn.net/news/1/2372-thong-bao-cua-thuong-vu-hoi-nha-van-viet-nam.html
(*) THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 15 NĂM THỰC HIỆN NQTW5 TẠI HỘI VHNT ĐỒNG NAI NGÀY 26.04.2013
Nghị quyết TW5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị với
LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG
Bùi Công Thuấn

Từ đổi mới đến nay, đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hoá, sáng tác và lý luận phê bình văn học nghệ thuật luôn là vấn đề “nóng” của thời sự văn học. Bởi có sự va đập, cọ xát giữa nhiều khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật khác nhau. Rất nhiều vấn đề không có lời giải đáp, chẳng hạn, vấn đề tự do trong sáng tạo, văn học và chính trị, văn học với kinh tế thị trường, văn học phản ánh hiện thực, vấn đề con người trong văn học, đổi mới văn học như thế nào, số phận của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa... Hội nghị Lý Luận phê bình Đồ Sơn không giải quyết được vấn đề nào cụ thể. Đời sống văn học trong chờ ánh sáng mở đường.
1.ÁNH SÁNG TỪ CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
Trong tình hình ấy, sự ra đời của Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) và nghị quyết 23 của Bộc Chính Trị (ngày 16.6.2008) thực sự có ý nghĩa mở đường. Cả hai nghị quyết là sự kết tinh nhận thức và đường lối văn nghệ của Đảng từ Đề Cương Văn Hoá 1943 đến nay. Là sự kiên định quan điểm văn hoá nghệ thuật phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, "Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải thành ‘một bánh xe nhỏ và một đinh ốc’ trong bộ máy xã hội dân chủ vĩ đại, thống nhất do đội tiền phong hoàn toàn giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân mở máy”.[1]; Là sự phát triển quan điểm nghệ thuật Marxist và tư tưởng Hồ Chí Minh trước yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, giai đọan công nghiệp hoá đất nước và hội nhập toàn cầu hoá.
Trước đây, trong giai đoạn kháng chiến (1945-1975), dân tộc ta phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” mới giành được, lý tưởng độc lập tự do là lý tưởng của cả dân tộc, văn học nghệ thuật cũng hướng về lý tưởng ấy. Phương châm văn nghệ kháng chiến là, “Văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá” văn hoá văn nghệ phục vụ công, nông, binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy :”Không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật mà cần nói rõ văn hoá phục vụ công, nông binh.”[2], Đảng yêu cầu văn nghệ sĩ sáng tác theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa [3]
Từ 1986, Đảng đổi mới tư duy, đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, nhà văn thế hệ kháng chiến đã quen viết bằng Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN không sao vượt lên được, họ thực sự lúng túng trước yêu cầu mới. Văn học tự thân đổi mới mà không tránh khỏi những hạn chế. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) đã chỉ ra tình trạng yếu kém lý luận và phê bình văn học nghệ thuật thời gian qua:
” Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa. Xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm.”(Nghị Quyết TW 5)
Từ đó đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về lý luận và phê bình băn học
“Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.
Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá. Nâng cao chất lượng, phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận.
Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng.”

Nghị quyết 23 cũng chỉ rõ thêm:
“Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt, chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.
Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hóa phê bình bị hạ thấp...”
Và khẳng định:
“Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, có sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân.
Văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ.
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển lý luận văn học, nghệ thuật...Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú cho hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại...”
2.TÌNH HÌNH LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG CẢ NƯỚC
Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị là kết tinh của sự kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ; là sự kiện định đường lối văn hoá văn nghệ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng kể từ Đề Cương Văn Hoá 1943. Những văn kiện này của Đảng đã mở ra nhận thức mới cho sáng tác văn học nghệ thuật, làm sáng tỏ và giải quyết được nhiều vấn đề lý luận văn nghệ trong giai đoạn đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn.
Sự ra đời của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương là sự quan tâm đặc biệt của Đảng về lý luận phê bình VHNT. Hội đồng là cơ quan tư vấn tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư và quản lý trực tiếp của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương.
Từ khi Hội đồng lý luận và Phê bình VHNT trung ương ra đời (2008), các hoạt động lý luận phê bình trở nên sôi nổi và có chiều sâu. Hội Đồng có chức năng “xem xét, đánh giá tình hình sáng tác, lý luận, phê bình, những khuynh hướng nảy sinh trong đời sống VHNT, tổng kết việc thực hiện đường lối văn nghệ của Đảng, bảo vệ những thành tựu đã đạt được, kết luận một số vấn đề lý luận thực tiễn văn nghệ còn có ý kiến khác nhau, liên kết đội ngũ lý luận phê bình chuyên và không chuyên trong cả nước...”
Hội đồng lý luận đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của lý luận và phê bình VHNT,
Năm 2008, hội thảo "Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập". Năm 2009 hội thảo "Tính dân tộc và tính hiện đại trong VH,NT hiện nay". Năm 2010 hội thảo “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” . Tổ chức đề án “Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”. Năm 2010, Hội đồng đã xuất bản cuốn sách “Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay” và “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”. Xây dựng Đề án “Chống sự xâm nhập của sản phẩm độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”... 2013 thực hiện đề án khoa học cấp nhà nước "Lý luận văn nghệ ở Việt Nam - thực tiễn và định hướng phát triển"; tổ chức hội thảo "Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử", góp phần định hướng các Hội văn học, nghệ thuật ở trung ương và địa phương cùng đội ngũ văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tác, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống. Hội đồng tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái về văn học, nghệ thuật và chủ động bám sát thời sự văn học, nghệ thuật để từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp, đạt hiệu quả cao hơn.
Hội Đồng cũng tổ chức nhiều đợt tập huấn lý luận phê bình VHNT cho đối tượng là những người làm công tác quản lý, chỉ đạo văn học, nghệ thuật ở các cơ quan Trung ương; những cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học văn khoa tại Hà Nội, các nhà báo ở các báo, đài trung ương có chuyên trang văn học, nghệ thuật…giúp những người có trách nhiệm có cái nhìn hệ thống về đường lối, quan điểm của Ðảng ta về văn nghệ. Ðồng thời, từ nhận thức về các thành tựu, hạn chế của tình hình văn nghệ hiện nay để nâng cao trách nhiệm cá nhân trên cương vị công tác của mình.(Hội Đồng đã tổ chức lớp tập huấn tại Đồng Nai từ 18 đến 21 .7.2012)
Những thành tựu có thể nhận thấy rõ ở lễ trao thưởng các tác phẩm lý luận phê bình văn học - nghệ thuật trong ba năm 2010-2012. Có 29 công trình, tác phẩm đã được trình Hội đồng lựa chọn trao thưởng từ 332 công trình, tác phẩm của 92 đơn vị, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, Hội văn học - nghệ thuật các tỉnh, thành phố và các hội chuyên ngành gửi dự xét tặng thưởng.
Nhìn chung các “khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị..”đã bị đầy lùi. Văn học kháng chiến và cách mạng được khẳng định, các quan điểm về văn học nghệ thuật của Đảng được củng cố làm nền tảng cho lý luận phê bình. Các khuynh hướng sáng tác suy đồi bị phê phán mạnh (sex, xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, thái độ mơ hồ về chiến tranh, không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa.)
Tuy nhiên trong thực tiễn sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật, thời gian qua không phải không có lúc “khủng hoảng”, hoặc “loạn chuẩn”. Sự tranh cãi thường xảy ra ở các giải thưởng văn học của Hội Nhà Văn và các cuộc thi cấp miền (chẳng hạn tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, bài thơ Trăng Nghẹn giải thưởng Đồng bằng sông Cửu Long), nhất là hội thảo thơ “Hoàng Quang Thuận với non sông Yên Tử” 8/8/2012, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam do Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức. Có tới 21 tham luận đánh giá rất cao thơ Hoàng Quang Thuận. Nhưng sau đó Nguyễn Minh Tâm đã phát hiện Hoàng Quang Thuận sao chép sách “Chùa Yên Tử, Lịch Sử - Truyền Thuyết Di Tích và Danh Thắng”,“thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương”[4]. Thường vụ Hội Nhà Văn đã có thông báo rút kinh nghiệm sâu sắc về hội thảo này.[5]
Các đợt tập huấn của Hội đồng LLPBVHNT TW đã nhiều lần đề cập đến tình trạng “loạn chuẩn”, và nhận ra nguyên nhân là, khi rời bỏ Chủ Nghịa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, lý luận phê bình Việt Nam chưa có một phương pháp phê bình mới phù hợp, chưa có những tiêu chí cụ thể cho phê bình văn học. Trong khi đó văn chương bị thu hút về phía thị trường. Những bài giới thiệu quảng cáo sách góp thêm phần làm “loạn chuẩn” phê bình văn chương, tham luận trong các hội thảo văn chương thì tung hứng mặc sức phô diễn những bài tụng ca cảm tính. Ngược lại, công chúng và những người làm công tác quản lý văn học nghệ thuật lại vẫn theo chuẩn của lý luận phê bình thời kháng chiến, chưa theo kịp sự đổi mới của Đảng.
Cho đến nay (2013) chúng ta vẫn chưa có công trình nào về lý luận phê bình văn chương Việt Nam, chưa có phương pháp phê bình nào được khẳng định có giá trị phù hợp với tình hình mới của văn chương nghệ thuật. Con đường còn mở ra phía trước của những tìm tòi và thể nghiệm. Chẳng hạn, GS Trần Đình Sử nghiên cứu Thi Pháp Học, Đỗ Lai Thuý áp dụng Phân Tâm học nghiên cứu văn chương VN (Bút Pháp của Ham Muốn), Trịnh Bá Dĩnh giới thiệu chủ nghĩa Cấu Trúc trong văn học,...còn công chúng vẫn kiên định phương pháp của Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa thời kháng chiến.

2.LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở ĐỒNG NAI
Những nhận xét của NQ TW5 và NQ 23 về lý luận phê bình có thể nhận thấy rõ ở Đồng Nai. Đội ngũ viết phê bình và lý luận văn học ở Đồng Nai “chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.”
Nói cho thật đúng, Đồng Nai không có đội ngũ viết phê bình chuyên nghiệp, vì thế không có những công trình lý luận phê bình thực sự có tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lác đác có những bài giới thiệu tác phẩm trên tạp chí Văn Nghệ Đồng Nai, của các nhà thơ, nhà văn, chủ yếu là phê bình cảm tính theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Có thể kể đến Đặng Minh Hân, Phan Nam Sinh, Bùi Quang Tú, Bùi Quang Huy,...Tuy vậy, Hội Văn Nghệ Đồng Nai tổ chức được Hội đồng thẩm định tác phẩm, đánh giá được các tác phẩm trong các trại sáng tác. Chẳng hạn trại sáng tác đề tài học tập gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh, trại Tam Nông, trại Nhà Giáo-Nhà trường...
Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 5 năm 2007-2012 ghi nhận: “Ban Văn Học có 72 hội viên, trong đó có 8 hội viên Hội Nhà Văn Việt nam. Ban có 38 hội viên thơ, 32 hội viên văn xuôi và 02 hội viên nghiên cứu lý luận phê bình”. Về hoạt động lý luận phê bình, báo cáo đánh giá :”Hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình đã có dấu hiệu tích cực, thể hiện qua một số công trình sách, tác phẩm của các hội viên được công bố, trong đó 02 tác phẩm sách được giải thưởng của Uỷ Ban Toàn Quốc Liên Hiệp các Hội VHNT Việt Nam”
Nhìn ở góc độ phê bình, văn chương Đồng Nai không mắc phải những sai lầm như nhận định chung của NQ TW5 về tình hình sáng tác văn học nghệ thuật những năm qua. Không có khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, không đối lập văn nghệ với chính trị. Cũng không có xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém của thị trường, không có văn chương sex hay văn chương suy đồi.
Văn chương Đồng Nai sâu nặng tình quê hương, tình đồng đội, nghĩa tình cách mạng. Các tác giả đều viết với ý thức sâu sắc trách nhiệm công, trách nhiệm nhà văn phục vụ sự nghiệp cách mạng. Tác phẩm giàu tinh thần nhân văn và dân chủ. Mỗi tác giả đều nỗ lực vượt lên chính mình trong sáng tạo nghệ thuật. Xin đọc:
Tuyển tập Theo Sóng Đồng Nai, Nxb Đồng Nai 2000. Tuyển Tập thơ Đồng Nai 30 Năm. Nxb Tổng Hợp Đồng Nai 2005. Trầm Tích Chiến Khu D, Nxb HNV 2006. Nhà thơ Lê Thanh Xuân :Tiếng Ru Đêm- NxbVăn Học 2001 ; Đồng Hành – Nxb. HNV 2001; Hồn Đá- Nxb. HNV. 2007. Trần Ngọc Tuấn, tập Suối Reo. Nxb HNV 2006. Đỗ Minh Dương, tập Với Miền Đất Đỏ.Nxb HNV 2007. Xuân Bảo, Âm Vang Một Dòng Sông, Tôi Đi Nhặt Bụi Vàng, tuỳ bút-thơ. Nxb Hội Nhà Văn-2008. .. Nguyễn Đức Phước, tập thơ Đêm Khát. Nxb HNV 2008. Đàm Chu Văn : Hai Phía Thời Gian. Nxb HNV,2009. Đào Trọng Thử : Trốn, Nxb Hội Nhà Văn 2011. Hoàng Đình Nguyễn, tập thơ Tự Tình. Nxb Hội Nhà Văn 2011. Nguyễn Hoài Nhơn, tập thơ Hồi Quang, Nxb Hội Nhà Văn 2012..;
Đặng Minh Hân,Văn thơ Đồng Nai, đôi điều cảm nhận. 2007, Chất anh hùng của người Đồng Nai. Khôi Vũ, Vỡ dần trong mắt (2009), Phù phiếm bên biển, 2010. Đàn ống tre bên kia sông, Nxb Đồng Nai 2013. Lê Đăng Kháng, Người lính hát đơn ca.2007, Sương sớm Nxb Quân đội nhân dân 2011. Trần Thu Hằng , Đàn Đáy, Rừng thiêng vẫy gọi. 2007, Người đàn bà lưu vong 2008. Nguyễn Một, Dòng sông độ lượng, 2007, Đất trời vần vũ, 2009. Hoàng Ngọc Điệp, Chú cún đeo Lục Lạc, 2007. Bùi Quang Tú, Viên phấn và cây viết 2012. Bùi Quang Huy, Huỳnh Văn Nghệ như là giấc mơ, Văn Học Đồng Nai lịch sử & diện mạo. Nxb Đồng Nai 2011, Bùi Công Thuấn, Chút tình tri âm (2009), Những dòng sông vẫn chảy, Nxb Hội Nhà Văn 2011...Nguyễn Quốc Hoàn, Một hình ảnh giàu lòng yêu nước. Trần Thúc Hà, Người đi mở cõi, Người Trầm Lặng, Nxb Quân Đội Nhân Dân 2011. Tấn Hoài, Viên gạch lạ, Hoa Quý Lan...
Bản thân tôi khi biết phê bình (Chút Tình Tri Âm 2009, giải Trịnh Hoài Đức lần III và Những Giòng Sông Vẫn Chảy 2011, Giải VHNT 2011 của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam) đều dựa vào Nghị Quyết TW5 và nghị quyết 23 làm chuẩn mực để đánh giá tác phẩm. Cả hai nghị quyết đều đã mở rộng biên độ về phương pháp cho nhà phê bình. Đảng đã định hướng :” “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”, nhờ thế tôi vận dụng nhiều phương pháp phê bình để tiếp cận tác phẩm. Với tác phẩm viết bằng bút pháp Hiện thực, phương pháp phê bình Tiểu sử và phê bình Marxist có ưu thế khám phá ý nghĩa xã hội của tác phẩm. Phương pháp Cấu trúc và Giải Cấu trúc, hoặc Phân Tâm Học giúp đi sâu vào ý thức sáng tạo. Thi Pháp và Phong Cách học giúp khám phá cá tính sáng tạo của nhà văn.
Khi đọc các tác phẩm của các tác giả trong Hội VHNT Đồng Nai, tôi chú ý đến “sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng” và trách nhiệm của Các hội văn học, nghệ thuật. Đó là trách nhiệm “làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết, phát huy tính chủ động, tích cực xã hội và tài năng sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ”. Bởi Hội Văn Học Nghệ Thuật “ là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước...” Tôi nhận thấy có một dòng văn thơ cách mạng Đồng Nai chảy liên tực từ Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, đến các tác giả Đồng Nai hiện nay, phản ánh được nhiều mặt đời sống của nhân dân Đồng Nai, làm giàu đẹp thêm văn hoá Đồng Nai trên con đường công nghiệp hoá.
Nỗ lực sáng tạo để có những tác phẩm tương xứng với tầm vóc sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đồng Nai vẫn là trách nhiệm chưa hoàn thành của văn nghệ Đồng Nai. Dù vậy, chúng ta có quyền hy vọng bởi văn nghệ Đồng Nai đã có truyền thống và đang dồi dào tiềm lực.
Tháng 4.2013
________________________________________________
[1] V. Lenin- Tổ chức Đảng và văn học Đảng. NXB Sự Thật Hànội 1957. Tr. 13.
[2] Hà Huy Giáp - Hồ Chủ Tịch với một vài vấn đề văn hoá văn nghệ .Nxb Sự Thật 1978.Tr74
[3] Trường Chinh - Chủ Nghĩa Mác và Văn Hoá Việt Nam. 1948
[4] Nguyễn Minh Tâm- Thi Vân Yên Tử được sao chép từ đâu?
[5] Thông báo của Thường vụ Hội Nhà Văn Việt Nam-http://vanvn.net/news/1/2372-thong-bao-cua-thuong-vu-hoi-nha-van-viet-nam.html
(*) THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 15 NĂM THỰC HIỆN NQTW5 TẠI HỘI VHNT ĐỒNG NAI NGÀY 26.04.2013
Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
Ý NGHĨA THẬT SỰ CỦA GIÁC QUAN-Mattie
Ý NGHĨA THẬT SỰ CỦA GIÁC QUAN- Mattie
Mắt sinh ra để nhìn,
nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Tai sinh ra để nghe,
nhưng tim cũng để nghe.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn,
nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Tay sinh ra để sờ,
nhưng tay cũng sinh ra để ôm
và vuốt ve dịu dàng.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm,
nhưng cũng để nói những từ như
“Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
(Mattie 4-1995)
“Mattie” tên thật là Matthew J.T.Stepanek, sinh năm 1990, ở bang Maryland (Mỹ). Gia đình Mattie có nhiều người chết vì bệnh hiểm nghèo. Cậu may mắn được sống, nhưng luôn phải thở bằng ống ô xy (nối qua cổ). Mattie bắt đầu sáng tác thơ và truyện ngắn từ năm 3 tuổi. Cuốn “Khúc hát trái tim” (Heart Songs) phát hành năm 2001 làm Mattie trở thành một thiếu niên nổi tiếng ở nước Mỹ, một “thần đồng” thơ. Năm 2001 cậu là đại sứ thiện chí của bang Maryland. Năm 2002, trở thành Đại sứ thiện chí toàn Liên bang. Mattie thể hiện trí tuệ vượt trội khi mới 7 tuổi đã viết bài thơ: “Cốc nước triết học” mang tư tưởng phương Đông. Mattie mất ngày 22/6/2004 khi chưa tròn 14 tuổi
Bài thơ Ý nghĩa thật sự của giác quan là suy tư cuả Mattie về thân xác. Suy tư và biện luận để tìm ra ý nghĩa chân lý của vấn đề, về giá trị thực của các giác quan cuả con người. Thân xác là căn nguyên của nhiều vấn đề suy tư triết học. Con người tồn tại bằng thân xác, nhưng thân xác chỉ thực sự sống khi các giác quan của nó sống. Triết lý về dục tính và con đường diệt dục của Phật giáo, trước hết tập trung vào ngũ uẩn, tức là thân xác. Diệt dục là tiêu diệt những ham muốn của thân xác do giác quan sinh ra. Với Mattie, mỗi giác quan đều có chức năng vật chất cuả nó, nhưng không chỉ có thế, mà còn có chức năng tinh thần
Mắt sinh ra để nhìn, nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Mắt sinh ra để nhìn, đó là chức năng vật lý. Nhưng mắt còn biết khóc khi ta quá buồn và quá vui. Vì thế Mắt là cưả sổ cuả tâm hồn, bộc lộ những cảm xúc (khóc, cười ) những tâm trạng ( buồn, vui). Mắt có ngôn ngữ kiểu “vô ngôn”. Chỉ một ánh nhìn, ta có thể hiểu người đối diện đang nghĩ gì, đang có tâm trạng gì. Đôi mắt vô cảm là đôi mắt của một tâm hồn chết. Khi mắt đã không còn biết khóc, biết cười, thì đôi mắt ấy hoang dã biết bao.
Tai sinh ra để nghe, nhưng tim cũng để nghe.
Tai sinh ra để nghe, đó là chức năng vật lý. Tai nghe được những sóng âm thanh có tần số trung bình ( sóng vật lý). Nhưng tai không thể nghe tiếng nói tâm hồn. Chỉ có Tim mới nghe được tiếng nói từ trái tim. Đây là một khám phái mới lạ của Mattie, bởi xưa nay tim biết đập, tim là sự sống, tim bộc lộ xúc động. Mattie khám phá ra tim còn có một chức năng khác nữa là biết nghe tiếng nói tâm hồn, điều mà tai (vật lý) không thể nhận ra. Thực ra người ta có thể nghe tiếng nói từ trái tim, và rất cần nghe tiếng nói chân thành ấy, khác với tiếng nói nghe bằng tai, đa phần là giả dối.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, đó hoàn toàn là chức năng khứu giác, giúp ta cảm nhận những mùi của sự vật bởi vì mùi cũng có cấu trúc hoá chất. Nhờ mũi con người nhận ra hương thơm của thức ăn, của hoa trái, nhận ra hương vị của thế giới vật chất xung quang, kể cải thế giới của sự chết phân rã hôi thối. Nhưng con người còn có thể ngửi được những cái vô hình , như gió, như sắc màu cuả bướm. Mattie nhấn mạnh đến khả năng cảm nhận những cái vô hình của giác quan con người.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Tay sinh ra để sờ, để tìm biết nhận thức sự vật (xúc giác). Nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng. Tay hành động vì người khác, đem đến hạnh phúc cho người khác. Tay thể hiện tình yêu thương, sự chăm sóc, giữ gìn, nâng niu với tha nhân. Mattie đặc biệt chú ý đến những giá trị tinh thần mà xúc giác đem lại, và cần đem lại cho tha nhân
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm, nhưng cũng để nói những từ như “Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm (vị giác ), lưỡi giúp ta nhận ra vị cuả sự vật, thưởng thức món ngon. Nhưng lưỡi cũng là bộ máy phát ngôn. Miệng lưỡi con người đã nói đủ điều xấu xa. Mattie đặc biệt nhấn mạnh vào giá trị tinh thần của ngôn ngữ, của hành vi ngôn ngữ. Con người cần dùng lưỡi để nói những lời yêu thương, lời cảm tạ Thiên Chuá, không phải dùng miệng lưỡi để giết người.
Matiie đã liệt kê chức năng của các giác quan con người, và từ chức năng vật lý của giác quan. Mattie đề xuất những thái độ, những cách sống, những cách ứng xử của con người thông qua giác quan. Mattie không nói đến việc con người dùng giác quan để hưởng thụ, không khai thác cái khoái cảm nhục thể do giác quan đem lại, mà chú ý đến việc sử dụng giác quan hướng về tha nhân, hướng ra bên ngoài cái tôi. Mattie đã nâng giác quan vật chất lên những giá trị tinh thần, hướng thiện, hướng lên trên.
Cần chú ý đến cấu trúc tương phản cuả lập luận, và kiểu ngôn ngữ suy nghiệm bằng hình ảnh. Câu thơ có nghĩa tường minh như nó tự nhiên là vậy, thật dễ hiểu. Nhưng thực ra, “ý ở ngoài lời” của câu thơ mới là điều Mattie muốn chia sẻ với người đọc. Chất “thơ” chính là vẻ đẹp của tư tưởng tình cảm nằm ở ngoài lời rung lên trong tâm tưởng bạn đọc. Mỗi câu thơ đều có hai vế, tương phản với nhau bằng từ “ nhưng”. Cấu trúc trùng điệp này giúp người đọc hiểu rằng Mattie nhấn mạnh đến vế đứng sau. Vì vế đứng sau có ý nghiã quan trọng hơn vế đứng trước. Những chức năng vật chất cuả giác quan thì quan trong vì nó giúp ta nhận thức thế giới vật chất, nhưng chức năng nhận thức tinh thần (vế đứng sau) còn quan trọng hơn bởi nó biểu đạt tâm hồn, biểu đạt chất nhân văn, hơn hẳn tính bản năng sinh vật.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Con người cần phải biết bày tỏ buồn vui tâm hồn, biết lắng nghe bằng con tim mình tiếng kêu thương cuả đồng loại, phải biết cảm nhận cả những hương thơm thanh sắc vô hình, phải biết đón nhận an ủi chăm sóc nâng niu những yêu thương, và nhất là phải biết cảm tạ ơn Chuá, vì tất cả những gì chúng ta có là do Chuá ban cho. Hành trình tư tưởng của Mattie là hành trình khám phá thân xác con người từ bản năng giác quan, đến sự khám phá ra điều được mạc khải là nhận biết về Thiên Chúa, đấng sáng tạo nên thân xác và ban cho thân xác những giác quan, để vừa nhận biết, vừa cảm thụ, và biết thăng hoa trở về với Thiên Chúa.
Tư tưởng ấy khác hẳn với chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc vô luân, chủ nghĩa thế tục hôm nay. Con người chỉ tìm kiếm những thoả mãn giác quan xác thịt, mắt tìm cái tươi mát, tai nghe những lời dịu êm, mũi, lưỡi tìm ăn những món ngon vật lạ, tay tìm kiếm những vuốt ve khoái lạc. Nó vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân, trái tim không biết nghe lời chia sẻ. Cánh tay không biết ôm giữ bảo vệ sự sống, miệng lưỡi không biết nói lời yêu thương an ủi. Nói cách khác, con người hoàn toàn sống bản năng tìm sự thoả mãn những lạc thú vật chất, lấy hưởng thụ vật chất làm cứu cánh cuộc đời, vì thế nó ngày càng tha hoá, tội lỗi ngày càng phủ lấp nhân loại.
Mattie đã thức tỉnh con người về những giá trị thật sự cuả giác quan, của thân xác. Giá trị ấy là, bằng giác quan, con người phải vượt lên trên bản năng mà vươn tới yêu thương, phải vươn tới Thiên Chuá.
Bùi Công Thuấn
Mắt sinh ra để nhìn,
nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Tai sinh ra để nghe,
nhưng tim cũng để nghe.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn,
nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Tay sinh ra để sờ,
nhưng tay cũng sinh ra để ôm
và vuốt ve dịu dàng.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm,
nhưng cũng để nói những từ như
“Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
(Mattie 4-1995)
“Mattie” tên thật là Matthew J.T.Stepanek, sinh năm 1990, ở bang Maryland (Mỹ). Gia đình Mattie có nhiều người chết vì bệnh hiểm nghèo. Cậu may mắn được sống, nhưng luôn phải thở bằng ống ô xy (nối qua cổ). Mattie bắt đầu sáng tác thơ và truyện ngắn từ năm 3 tuổi. Cuốn “Khúc hát trái tim” (Heart Songs) phát hành năm 2001 làm Mattie trở thành một thiếu niên nổi tiếng ở nước Mỹ, một “thần đồng” thơ. Năm 2001 cậu là đại sứ thiện chí của bang Maryland. Năm 2002, trở thành Đại sứ thiện chí toàn Liên bang. Mattie thể hiện trí tuệ vượt trội khi mới 7 tuổi đã viết bài thơ: “Cốc nước triết học” mang tư tưởng phương Đông. Mattie mất ngày 22/6/2004 khi chưa tròn 14 tuổi
Bài thơ Ý nghĩa thật sự của giác quan là suy tư cuả Mattie về thân xác. Suy tư và biện luận để tìm ra ý nghĩa chân lý của vấn đề, về giá trị thực của các giác quan cuả con người. Thân xác là căn nguyên của nhiều vấn đề suy tư triết học. Con người tồn tại bằng thân xác, nhưng thân xác chỉ thực sự sống khi các giác quan của nó sống. Triết lý về dục tính và con đường diệt dục của Phật giáo, trước hết tập trung vào ngũ uẩn, tức là thân xác. Diệt dục là tiêu diệt những ham muốn của thân xác do giác quan sinh ra. Với Mattie, mỗi giác quan đều có chức năng vật chất cuả nó, nhưng không chỉ có thế, mà còn có chức năng tinh thần
Mắt sinh ra để nhìn, nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Mắt sinh ra để nhìn, đó là chức năng vật lý. Nhưng mắt còn biết khóc khi ta quá buồn và quá vui. Vì thế Mắt là cưả sổ cuả tâm hồn, bộc lộ những cảm xúc (khóc, cười ) những tâm trạng ( buồn, vui). Mắt có ngôn ngữ kiểu “vô ngôn”. Chỉ một ánh nhìn, ta có thể hiểu người đối diện đang nghĩ gì, đang có tâm trạng gì. Đôi mắt vô cảm là đôi mắt của một tâm hồn chết. Khi mắt đã không còn biết khóc, biết cười, thì đôi mắt ấy hoang dã biết bao.
Tai sinh ra để nghe, nhưng tim cũng để nghe.
Tai sinh ra để nghe, đó là chức năng vật lý. Tai nghe được những sóng âm thanh có tần số trung bình ( sóng vật lý). Nhưng tai không thể nghe tiếng nói tâm hồn. Chỉ có Tim mới nghe được tiếng nói từ trái tim. Đây là một khám phái mới lạ của Mattie, bởi xưa nay tim biết đập, tim là sự sống, tim bộc lộ xúc động. Mattie khám phá ra tim còn có một chức năng khác nữa là biết nghe tiếng nói tâm hồn, điều mà tai (vật lý) không thể nhận ra. Thực ra người ta có thể nghe tiếng nói từ trái tim, và rất cần nghe tiếng nói chân thành ấy, khác với tiếng nói nghe bằng tai, đa phần là giả dối.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, đó hoàn toàn là chức năng khứu giác, giúp ta cảm nhận những mùi của sự vật bởi vì mùi cũng có cấu trúc hoá chất. Nhờ mũi con người nhận ra hương thơm của thức ăn, của hoa trái, nhận ra hương vị của thế giới vật chất xung quang, kể cải thế giới của sự chết phân rã hôi thối. Nhưng con người còn có thể ngửi được những cái vô hình , như gió, như sắc màu cuả bướm. Mattie nhấn mạnh đến khả năng cảm nhận những cái vô hình của giác quan con người.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Tay sinh ra để sờ, để tìm biết nhận thức sự vật (xúc giác). Nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng. Tay hành động vì người khác, đem đến hạnh phúc cho người khác. Tay thể hiện tình yêu thương, sự chăm sóc, giữ gìn, nâng niu với tha nhân. Mattie đặc biệt chú ý đến những giá trị tinh thần mà xúc giác đem lại, và cần đem lại cho tha nhân
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm, nhưng cũng để nói những từ như “Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm (vị giác ), lưỡi giúp ta nhận ra vị cuả sự vật, thưởng thức món ngon. Nhưng lưỡi cũng là bộ máy phát ngôn. Miệng lưỡi con người đã nói đủ điều xấu xa. Mattie đặc biệt nhấn mạnh vào giá trị tinh thần của ngôn ngữ, của hành vi ngôn ngữ. Con người cần dùng lưỡi để nói những lời yêu thương, lời cảm tạ Thiên Chuá, không phải dùng miệng lưỡi để giết người.
Matiie đã liệt kê chức năng của các giác quan con người, và từ chức năng vật lý của giác quan. Mattie đề xuất những thái độ, những cách sống, những cách ứng xử của con người thông qua giác quan. Mattie không nói đến việc con người dùng giác quan để hưởng thụ, không khai thác cái khoái cảm nhục thể do giác quan đem lại, mà chú ý đến việc sử dụng giác quan hướng về tha nhân, hướng ra bên ngoài cái tôi. Mattie đã nâng giác quan vật chất lên những giá trị tinh thần, hướng thiện, hướng lên trên.
Cần chú ý đến cấu trúc tương phản cuả lập luận, và kiểu ngôn ngữ suy nghiệm bằng hình ảnh. Câu thơ có nghĩa tường minh như nó tự nhiên là vậy, thật dễ hiểu. Nhưng thực ra, “ý ở ngoài lời” của câu thơ mới là điều Mattie muốn chia sẻ với người đọc. Chất “thơ” chính là vẻ đẹp của tư tưởng tình cảm nằm ở ngoài lời rung lên trong tâm tưởng bạn đọc. Mỗi câu thơ đều có hai vế, tương phản với nhau bằng từ “ nhưng”. Cấu trúc trùng điệp này giúp người đọc hiểu rằng Mattie nhấn mạnh đến vế đứng sau. Vì vế đứng sau có ý nghiã quan trọng hơn vế đứng trước. Những chức năng vật chất cuả giác quan thì quan trong vì nó giúp ta nhận thức thế giới vật chất, nhưng chức năng nhận thức tinh thần (vế đứng sau) còn quan trọng hơn bởi nó biểu đạt tâm hồn, biểu đạt chất nhân văn, hơn hẳn tính bản năng sinh vật.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Con người cần phải biết bày tỏ buồn vui tâm hồn, biết lắng nghe bằng con tim mình tiếng kêu thương cuả đồng loại, phải biết cảm nhận cả những hương thơm thanh sắc vô hình, phải biết đón nhận an ủi chăm sóc nâng niu những yêu thương, và nhất là phải biết cảm tạ ơn Chuá, vì tất cả những gì chúng ta có là do Chuá ban cho. Hành trình tư tưởng của Mattie là hành trình khám phá thân xác con người từ bản năng giác quan, đến sự khám phá ra điều được mạc khải là nhận biết về Thiên Chúa, đấng sáng tạo nên thân xác và ban cho thân xác những giác quan, để vừa nhận biết, vừa cảm thụ, và biết thăng hoa trở về với Thiên Chúa.
Tư tưởng ấy khác hẳn với chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc vô luân, chủ nghĩa thế tục hôm nay. Con người chỉ tìm kiếm những thoả mãn giác quan xác thịt, mắt tìm cái tươi mát, tai nghe những lời dịu êm, mũi, lưỡi tìm ăn những món ngon vật lạ, tay tìm kiếm những vuốt ve khoái lạc. Nó vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân, trái tim không biết nghe lời chia sẻ. Cánh tay không biết ôm giữ bảo vệ sự sống, miệng lưỡi không biết nói lời yêu thương an ủi. Nói cách khác, con người hoàn toàn sống bản năng tìm sự thoả mãn những lạc thú vật chất, lấy hưởng thụ vật chất làm cứu cánh cuộc đời, vì thế nó ngày càng tha hoá, tội lỗi ngày càng phủ lấp nhân loại.
Mattie đã thức tỉnh con người về những giá trị thật sự cuả giác quan, của thân xác. Giá trị ấy là, bằng giác quan, con người phải vượt lên trên bản năng mà vươn tới yêu thương, phải vươn tới Thiên Chuá.
Bùi Công Thuấn
NHỮNG CỬA CHỚP-L.Aragon
Những cửa chớp- L.Aragon
"Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp?"

1.Emai của một bạn đọc:
Theo kiến trúc Phương Tây, cửa sổ có hai lớp : “ Kính” và “ Chớp” . Cửa chớp gồm nhiều thanh xếp nghiêng để che ánh sáng nhưng thông gió. Nhìn qua cửa chớp ta không thấy bên ngoài song không khí vẫn lưu thông. Hẳn là ngồi trong nhà sẽ không thể chết ngạt vì thiếu khí nhưng cũng không biết ngoài kia điều gì đang xẩy ra với trời đất , với con người . Hẳn là người trong trạng huống ấy cảm nhận được sự tù túng , bức bách đến nhường nào !
Bài thơ “ Những cửa chớp” của Aragon gồm sáu dòng với mười tám từ cửa chớp. Thế thôi ! Mới đọc thấy nhàm. đọc nhiều lần thấy có lý ! Đọc thêm nữa thì cái cảm giác “ Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! Thật tuyệt vời, một bài thơ chưa từng thấy về sự độc đáo !
2. Louis Aragon (1897–1982) là nhà sử học, nhà thơ và nhà văn người Pháp nổi tiếng thế giới, từng là một thành viên của viện Goncourt. Ông sinh và mất ở Paris. Ông cũng là người chiến sĩ dâng hiến trái tim chân thành cho tự do, hòa bình của nhân loại. Ông từng nhập ngũ trong thế chiến I và thế chiến II. 1927 ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Hành trình nghệ thuật của ông khởi đi từ “chủ nghĩa đa đa”, “chủ nghĩa siêu thực”, chuyển sang “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”và tìm kiếm những cách viết khác. Ông mất ngày 24-12-1982 tại Paris.
Ông có một “Vườn thơ Elsa” ngợi ca lý tưởng, Tổ quốc và nhân dân. Thơ Aragon không có các loại dấu chấm câu, và cách ngắt dòng rất linh hoạt, tự do, không theo khuôn phép nào cả. Ông muốn xóa khoảng cách giữa thơ và văn xuôi, thích viết dài để bộc lộ hết xúc cảm trào tuôn
(http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=503)
3. Bài thơ Những Cửa Chớp được L.Aragon viết bằng bút pháp gì?
Bài thơ chỉ có một chữ “cửa chớp”, được lặp lại và xếp thành 6 hàng ngang, mỗi hàng có số chữ khác nhau, điều này buộc người đọc phải chú ý đến cấu trúc của bài thơ.
“Cửa chớp” là một danh từ, gọi tên một sự vật, bên cạnh từ cửa chớp không có một tính từ miêu tả nào. Chữ cửa chớp cũng không được đặt trong một câu có cấu trúc ngữ pháp cố định để giúp người đọc định vị sự vật đang vận động thế nào, ở đâu. Nói các khác, “bài thơ” không tả cửa chớp, cũng không cho biết cửa chớp ở đâu và được dùng làm gì, không biết tác giả nói đến cửa chớp trong không gian thời gian nào, và tác giả đứng ở vị trí nào để quan sát hay tưởng nghĩ hình dung ra. Bản thân chữ “cửa chớp” không chứa đựng bất cứ hàm nghĩa nào, ngoài nghĩa tường minh, nghĩa thông tin sự vật : chữ “cửa chớp” là tiếng gọi tên sự vật, là một loại cửa sổ, khác với cửa ra vào, cửa buồng, cửa chính. Sau chữ cửa chớp ở hàng dưới cùng, có một dấu hỏi, có thể có nghĩa là, sau khi quan sát rất nhiều cửa chớp, tác giả hỏi, không biết đâu là cửa chớp tác giả muốn tìm trong những cửa chớp ấy (?)
Và vì thế, không thể xác định “bút pháp” của bài thơ. Chắc chắn đây không phải là bài thơ Siêu Thực với những hình ảnh hoang tưởng phi logic, không phải chủ nghĩa Lập Thể phá vỡ cấu trúc sự vật, cũng không là chủ nghĩa Lãng Mạn với cái tôi cá nhân và tình cảm chảy tràn. Cũng không là chủ nghĩa Hiện Thực, miêu tả cái điển hình trong hoàn cảnh điển hình, càng không là chủ nghĩa Hiện Thực XHCN, miêu tả hiện thực cách mạng kết hợp với lãng mạn cách mạng. Aragon đã đi xa hơn những kiểu bút pháp ấy, ông đặt người đọc đối diện với một vật thể duy nhất là cửa chớp và buộc người đọc phải tư duy về chính cái “cửa chớp” hiện diện siêu hình, vô cảm trước mặt.
Người đọc nhìn thẳng vào những cái cửa chớp mà khám phá và suy tư, bài thơ trở thành một tác phẩm thị giác, tức là đọc bằng mắt (tất nhiên bài thơ nào chẳng đọc bằng mắt), như kiểu xem một bức tranh, một tác phẩm điêu khắc...căn cứ vào các mối quan hệ của cấu trúc, ta có thể lần ra toàn thể cấu trúc. Cửa chớp là cửa số, tức là cửa gắn trên tường của một toà nhà. Một căn nhà thường có nhiều cửa số (có thể thuộc loại cửa chớp, hay cửa đóng bằng cánh). Cửa mở ra để lấy ánh sáng và không khí, và có thể hắt ánh sáng từ trong nhà ra khi các cửa chính đã đóng kín. Nhìn vào cấu trúc bài thơ, ta hình dung ra, có một toà nhà (không nhìn thấy trước mắt ta), có lẽ bị bóng đêm che lấp.
“Bài thơ” có 6 hàng cửa chớp, tức là toà nhà có 6 tầng. Mỗi hàng có nhiều cửa chớp, tức là có nhiều phòng. Mỗi phòng có một cửa, hoặc hai cửa, không thể một phòng có 3 hoặc 4 cửa sổ. Như vậy cấu trúc bài thơ là một “tứ” : trước mặt người đọc là một toà nhà nhiều tầng, có nhiều phòng, nhiều cửa chớp. Thời gian là ban đêm, căn nhà hoàn toàn chìm trong bóng tối, chỉ nhìn thấy cửa chớp nhờ ánh sáng hắt ra. Có dãy còn sáng đủ các phòng (nhiều cửa chớp), có dãy chỉ còn một phòng sáng (hàng cuối, một chữ cửa chớp). Điều này giải thích tại sao số chữ “cửa chớp” trong mỗi dòng khác nhau. Và ta hình dung ra, có một người đứng trong bóng tối nhìn lên căn nhà, miệng đếm số cửa chớp từ trên cao xuống. Tầng dưới cùng chỉ còn một phòng sáng đèn, những phòng khác đã tắt đèn.
4. Ý nghĩa “bài thơ” là gì ?
Tôi dùng chữ “bài thơ” trong ngoặc kép bởi vì so với thơ truyền thống, bài này hoàn toàn khác về thi pháp. Thơ truyền thống có bố cục, có cấu trúc, sự vật được đặt trong thời gian, không gian nhất định, có câu chuyện được kể, có nhân vật sự vật được miêu tả. Nhân vật có tâm trạng, có vấn đề,...về hình thức, thơ truyền thống có nhạc, có vần, có tứ thơ. Bài Những cửa chớp hoàn toàn không có yếu tố “thơ” truyền thống nào, ngoài cách viết thành nhiều dòng. Nó giống như trò chơi xếp chữ, trò chơi đố chữ, mặc cho người đọc ra sức đoán nghĩa. Tác giả không bắt người đọc phải nghĩ theo tác giả, mà nghĩa bài thơ tuỳ thuộc vào cách đọc và những gì người đọc có thể tưởng tượng, liên tưởng ra.
Tất nhiên đọc thơ, đầu tiên, người đọc phải tái hiện hình ảnh, khám phá hình tượng, khám phá tứ thơ. Mọi điều tác giả muốn nói đều được gói ẩn mật bên trong tứ thơ. Vậy tứ thơ –hình tượng thẩm mỹ tư tưởng (nếu có) của bài này là gì? Có chăng do liên tưởng, đó là một toà nhà trong đêm, bóng đêm che khuất tất cả, chỉ còn thấy những hàng cửa chớp (do ánh sáng từ trong hắt ra), nhìn từ trên xuống, tầng trệt chỉ có một phòng còn sáng. Tác giả đứng nhìn toà nhà ấy, chỉ chú ý vào các cửa chớp, nhìn từ trên xuống, có ý tìm kiếm, không biết là cửa chớp nào. Người đọc cũng không rõ tác giả là ai, tìm ai hay tìm cái gì trên các phòng có cửa chớp, còn sáng, hay tìm phòng mà cửa chớp đã tắt đèn, không biết là phòng nào (cửa chớp ?). Bạn đọc ở trên cho rằng bài thơ tạo ra cảm giác ” Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! “Tôi không nghĩ như vậy, vì nếu bạn chỉ ngồi trong một phòng nhìn ra, bạn chỉ thấy nhiều nhất là hai cửa sổ (loại cửa chớ) sao thấy được 6 tầng cửa chớp với 18 cửa chớp như cấu trúc của bài thơ. Cấu trúc bài thơ chỉ ra rằng, người đọc chỉ có thể đứng ngoài toà nhà, đứng dưới nhìn lên, và vì thế không hề có cảm giác “bị cầm tù” mà “tức anh ách”
Vì không có nhân vật trữ tình (chủ thể của hành động thơ), cũng không có một hình tượng thẩm mỹ-tư tưởng (hình ảnh chứa đựng cái đẹp, chứa đựng tư tưởng tình cảm), không có cấu trúc (không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật) nên bài thơ hoàn toàn không có nghĩa tự thân. Nghĩa nếu có là nghĩa do người đọc cảm nhận từ cấu trúc hình ảnh của “bài thơ”. Là như thế này. Một người bàng quan qua đường ban đêm có thể sẽ chẳng quan tâm gì đến toà nhà với những cửa chớp như thế, vì nó không liên can gì với anh ta. Nhưng nếu là chàng Roméo đứng nhìn lên, chàng sẽ rất mong nàng Juliette ở một khung cửa sổ nào đó. Một người vô gia cư nhìn lên, chắc sẽ ao ước có được một căn phòng có cửa chớp ấy. Và nếu là một ông già, phải lên đến tầng 6, trong tình trạng đau khớp, nhìn những khung cửa chớp ấy sẽ rất ngán ngẩm. Và bạn, người đọc, có thể nghĩ ra bất cứ điều gì tuỳ theo tâm trạng của bạn khi đứng trước những khung cửa chớp trong đêm. Đêm nay nghĩ thế này, đêm mai nghĩ khác, không có một nghĩa cố định.
5. Giá trị của bài thơ này là gì?
Bài thơ không có nội dung nên không có giá trị nội dung. Giá trị hình thức nếu có, thì đó là sự thử nghiệm một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu sáng tác mới lạ, khác hẳng với tư duy nghệ thuật và thi pháp truyền thống (như đã trình bày ở trên). Tiếp cận lần đầu với “bài thơ”, người đọc thấy lạ, vì bài thơ chỉ có một chữ, lạ ở chỗ không hiểu bài thơ nói gì, vì xưa nay tác giả luôn gửi thông điệp trong tác phẩm, luôn đặt vấn đề thông qua nội dung tác phẩm. Lạ ở chỗ không sao đọc được bài thơ như đã quen đọc kiểu bài thơ có cấu trúc, có nội dung, có sự việc, con người trong không gian thời gian nhất định, thơ là tiếng nói tâm trạng, thơ là hình là nhạc, là vần, là tứ. Bài thơ này không đọc theo cách đọc thơ truyền thống như thế. Tác giả trình bày một kiểu tư duy thẩm mỹ mới, một kiểu tác phẩm mới. Nghệ thuật không phải là sự sáng tạo cái đẹp, thơ không phải thơ, đọc thơ không phải đọc bằng trái tim, mà đọc bằng thị giác vô cảm (như một camera của robot). Điều này sẽ làm khó chịu tất cả những ai đã quen với quan điểm nghệ thuật truyền thống. Và vì thế, bài thơ sẽ bị bỏ qua, không đọng lại gì, nó chỉ là chứng tích một thứ trò chơi ngôn ngữ, vậy thôi., dù rằng trò chơi có dụng công. Không sao cả, thưởng thức nghệ thuật là quyền tự do của mỗi người. Và nếu đã gán cho nghệ thuật những chức năng cao cả, những sứ mệnh lịch sử, thì cũng có thể nhận ra nghệ thuật chẳng là gì cả, trò chơi ngôn ngữ, thế thôi.
Tháng 3.2013
"Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp?"

1.Emai của một bạn đọc:
Theo kiến trúc Phương Tây, cửa sổ có hai lớp : “ Kính” và “ Chớp” . Cửa chớp gồm nhiều thanh xếp nghiêng để che ánh sáng nhưng thông gió. Nhìn qua cửa chớp ta không thấy bên ngoài song không khí vẫn lưu thông. Hẳn là ngồi trong nhà sẽ không thể chết ngạt vì thiếu khí nhưng cũng không biết ngoài kia điều gì đang xẩy ra với trời đất , với con người . Hẳn là người trong trạng huống ấy cảm nhận được sự tù túng , bức bách đến nhường nào !
Bài thơ “ Những cửa chớp” của Aragon gồm sáu dòng với mười tám từ cửa chớp. Thế thôi ! Mới đọc thấy nhàm. đọc nhiều lần thấy có lý ! Đọc thêm nữa thì cái cảm giác “ Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! Thật tuyệt vời, một bài thơ chưa từng thấy về sự độc đáo !
2. Louis Aragon (1897–1982) là nhà sử học, nhà thơ và nhà văn người Pháp nổi tiếng thế giới, từng là một thành viên của viện Goncourt. Ông sinh và mất ở Paris. Ông cũng là người chiến sĩ dâng hiến trái tim chân thành cho tự do, hòa bình của nhân loại. Ông từng nhập ngũ trong thế chiến I và thế chiến II. 1927 ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Hành trình nghệ thuật của ông khởi đi từ “chủ nghĩa đa đa”, “chủ nghĩa siêu thực”, chuyển sang “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”và tìm kiếm những cách viết khác. Ông mất ngày 24-12-1982 tại Paris.
Ông có một “Vườn thơ Elsa” ngợi ca lý tưởng, Tổ quốc và nhân dân. Thơ Aragon không có các loại dấu chấm câu, và cách ngắt dòng rất linh hoạt, tự do, không theo khuôn phép nào cả. Ông muốn xóa khoảng cách giữa thơ và văn xuôi, thích viết dài để bộc lộ hết xúc cảm trào tuôn
(http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=503)
3. Bài thơ Những Cửa Chớp được L.Aragon viết bằng bút pháp gì?
Bài thơ chỉ có một chữ “cửa chớp”, được lặp lại và xếp thành 6 hàng ngang, mỗi hàng có số chữ khác nhau, điều này buộc người đọc phải chú ý đến cấu trúc của bài thơ.
“Cửa chớp” là một danh từ, gọi tên một sự vật, bên cạnh từ cửa chớp không có một tính từ miêu tả nào. Chữ cửa chớp cũng không được đặt trong một câu có cấu trúc ngữ pháp cố định để giúp người đọc định vị sự vật đang vận động thế nào, ở đâu. Nói các khác, “bài thơ” không tả cửa chớp, cũng không cho biết cửa chớp ở đâu và được dùng làm gì, không biết tác giả nói đến cửa chớp trong không gian thời gian nào, và tác giả đứng ở vị trí nào để quan sát hay tưởng nghĩ hình dung ra. Bản thân chữ “cửa chớp” không chứa đựng bất cứ hàm nghĩa nào, ngoài nghĩa tường minh, nghĩa thông tin sự vật : chữ “cửa chớp” là tiếng gọi tên sự vật, là một loại cửa sổ, khác với cửa ra vào, cửa buồng, cửa chính. Sau chữ cửa chớp ở hàng dưới cùng, có một dấu hỏi, có thể có nghĩa là, sau khi quan sát rất nhiều cửa chớp, tác giả hỏi, không biết đâu là cửa chớp tác giả muốn tìm trong những cửa chớp ấy (?)
Và vì thế, không thể xác định “bút pháp” của bài thơ. Chắc chắn đây không phải là bài thơ Siêu Thực với những hình ảnh hoang tưởng phi logic, không phải chủ nghĩa Lập Thể phá vỡ cấu trúc sự vật, cũng không là chủ nghĩa Lãng Mạn với cái tôi cá nhân và tình cảm chảy tràn. Cũng không là chủ nghĩa Hiện Thực, miêu tả cái điển hình trong hoàn cảnh điển hình, càng không là chủ nghĩa Hiện Thực XHCN, miêu tả hiện thực cách mạng kết hợp với lãng mạn cách mạng. Aragon đã đi xa hơn những kiểu bút pháp ấy, ông đặt người đọc đối diện với một vật thể duy nhất là cửa chớp và buộc người đọc phải tư duy về chính cái “cửa chớp” hiện diện siêu hình, vô cảm trước mặt.
Người đọc nhìn thẳng vào những cái cửa chớp mà khám phá và suy tư, bài thơ trở thành một tác phẩm thị giác, tức là đọc bằng mắt (tất nhiên bài thơ nào chẳng đọc bằng mắt), như kiểu xem một bức tranh, một tác phẩm điêu khắc...căn cứ vào các mối quan hệ của cấu trúc, ta có thể lần ra toàn thể cấu trúc. Cửa chớp là cửa số, tức là cửa gắn trên tường của một toà nhà. Một căn nhà thường có nhiều cửa số (có thể thuộc loại cửa chớp, hay cửa đóng bằng cánh). Cửa mở ra để lấy ánh sáng và không khí, và có thể hắt ánh sáng từ trong nhà ra khi các cửa chính đã đóng kín. Nhìn vào cấu trúc bài thơ, ta hình dung ra, có một toà nhà (không nhìn thấy trước mắt ta), có lẽ bị bóng đêm che lấp.
“Bài thơ” có 6 hàng cửa chớp, tức là toà nhà có 6 tầng. Mỗi hàng có nhiều cửa chớp, tức là có nhiều phòng. Mỗi phòng có một cửa, hoặc hai cửa, không thể một phòng có 3 hoặc 4 cửa sổ. Như vậy cấu trúc bài thơ là một “tứ” : trước mặt người đọc là một toà nhà nhiều tầng, có nhiều phòng, nhiều cửa chớp. Thời gian là ban đêm, căn nhà hoàn toàn chìm trong bóng tối, chỉ nhìn thấy cửa chớp nhờ ánh sáng hắt ra. Có dãy còn sáng đủ các phòng (nhiều cửa chớp), có dãy chỉ còn một phòng sáng (hàng cuối, một chữ cửa chớp). Điều này giải thích tại sao số chữ “cửa chớp” trong mỗi dòng khác nhau. Và ta hình dung ra, có một người đứng trong bóng tối nhìn lên căn nhà, miệng đếm số cửa chớp từ trên cao xuống. Tầng dưới cùng chỉ còn một phòng sáng đèn, những phòng khác đã tắt đèn.
4. Ý nghĩa “bài thơ” là gì ?
Tôi dùng chữ “bài thơ” trong ngoặc kép bởi vì so với thơ truyền thống, bài này hoàn toàn khác về thi pháp. Thơ truyền thống có bố cục, có cấu trúc, sự vật được đặt trong thời gian, không gian nhất định, có câu chuyện được kể, có nhân vật sự vật được miêu tả. Nhân vật có tâm trạng, có vấn đề,...về hình thức, thơ truyền thống có nhạc, có vần, có tứ thơ. Bài Những cửa chớp hoàn toàn không có yếu tố “thơ” truyền thống nào, ngoài cách viết thành nhiều dòng. Nó giống như trò chơi xếp chữ, trò chơi đố chữ, mặc cho người đọc ra sức đoán nghĩa. Tác giả không bắt người đọc phải nghĩ theo tác giả, mà nghĩa bài thơ tuỳ thuộc vào cách đọc và những gì người đọc có thể tưởng tượng, liên tưởng ra.
Tất nhiên đọc thơ, đầu tiên, người đọc phải tái hiện hình ảnh, khám phá hình tượng, khám phá tứ thơ. Mọi điều tác giả muốn nói đều được gói ẩn mật bên trong tứ thơ. Vậy tứ thơ –hình tượng thẩm mỹ tư tưởng (nếu có) của bài này là gì? Có chăng do liên tưởng, đó là một toà nhà trong đêm, bóng đêm che khuất tất cả, chỉ còn thấy những hàng cửa chớp (do ánh sáng từ trong hắt ra), nhìn từ trên xuống, tầng trệt chỉ có một phòng còn sáng. Tác giả đứng nhìn toà nhà ấy, chỉ chú ý vào các cửa chớp, nhìn từ trên xuống, có ý tìm kiếm, không biết là cửa chớp nào. Người đọc cũng không rõ tác giả là ai, tìm ai hay tìm cái gì trên các phòng có cửa chớp, còn sáng, hay tìm phòng mà cửa chớp đã tắt đèn, không biết là phòng nào (cửa chớp ?). Bạn đọc ở trên cho rằng bài thơ tạo ra cảm giác ” Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! “Tôi không nghĩ như vậy, vì nếu bạn chỉ ngồi trong một phòng nhìn ra, bạn chỉ thấy nhiều nhất là hai cửa sổ (loại cửa chớ) sao thấy được 6 tầng cửa chớp với 18 cửa chớp như cấu trúc của bài thơ. Cấu trúc bài thơ chỉ ra rằng, người đọc chỉ có thể đứng ngoài toà nhà, đứng dưới nhìn lên, và vì thế không hề có cảm giác “bị cầm tù” mà “tức anh ách”
Vì không có nhân vật trữ tình (chủ thể của hành động thơ), cũng không có một hình tượng thẩm mỹ-tư tưởng (hình ảnh chứa đựng cái đẹp, chứa đựng tư tưởng tình cảm), không có cấu trúc (không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật) nên bài thơ hoàn toàn không có nghĩa tự thân. Nghĩa nếu có là nghĩa do người đọc cảm nhận từ cấu trúc hình ảnh của “bài thơ”. Là như thế này. Một người bàng quan qua đường ban đêm có thể sẽ chẳng quan tâm gì đến toà nhà với những cửa chớp như thế, vì nó không liên can gì với anh ta. Nhưng nếu là chàng Roméo đứng nhìn lên, chàng sẽ rất mong nàng Juliette ở một khung cửa sổ nào đó. Một người vô gia cư nhìn lên, chắc sẽ ao ước có được một căn phòng có cửa chớp ấy. Và nếu là một ông già, phải lên đến tầng 6, trong tình trạng đau khớp, nhìn những khung cửa chớp ấy sẽ rất ngán ngẩm. Và bạn, người đọc, có thể nghĩ ra bất cứ điều gì tuỳ theo tâm trạng của bạn khi đứng trước những khung cửa chớp trong đêm. Đêm nay nghĩ thế này, đêm mai nghĩ khác, không có một nghĩa cố định.
5. Giá trị của bài thơ này là gì?
Bài thơ không có nội dung nên không có giá trị nội dung. Giá trị hình thức nếu có, thì đó là sự thử nghiệm một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu sáng tác mới lạ, khác hẳng với tư duy nghệ thuật và thi pháp truyền thống (như đã trình bày ở trên). Tiếp cận lần đầu với “bài thơ”, người đọc thấy lạ, vì bài thơ chỉ có một chữ, lạ ở chỗ không hiểu bài thơ nói gì, vì xưa nay tác giả luôn gửi thông điệp trong tác phẩm, luôn đặt vấn đề thông qua nội dung tác phẩm. Lạ ở chỗ không sao đọc được bài thơ như đã quen đọc kiểu bài thơ có cấu trúc, có nội dung, có sự việc, con người trong không gian thời gian nhất định, thơ là tiếng nói tâm trạng, thơ là hình là nhạc, là vần, là tứ. Bài thơ này không đọc theo cách đọc thơ truyền thống như thế. Tác giả trình bày một kiểu tư duy thẩm mỹ mới, một kiểu tác phẩm mới. Nghệ thuật không phải là sự sáng tạo cái đẹp, thơ không phải thơ, đọc thơ không phải đọc bằng trái tim, mà đọc bằng thị giác vô cảm (như một camera của robot). Điều này sẽ làm khó chịu tất cả những ai đã quen với quan điểm nghệ thuật truyền thống. Và vì thế, bài thơ sẽ bị bỏ qua, không đọng lại gì, nó chỉ là chứng tích một thứ trò chơi ngôn ngữ, vậy thôi., dù rằng trò chơi có dụng công. Không sao cả, thưởng thức nghệ thuật là quyền tự do của mỗi người. Và nếu đã gán cho nghệ thuật những chức năng cao cả, những sứ mệnh lịch sử, thì cũng có thể nhận ra nghệ thuật chẳng là gì cả, trò chơi ngôn ngữ, thế thôi.
Tháng 3.2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

