DƯƠNG ĐỨC KHÁNH,
NIỀM VUI VÀ CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC
Bùi Công Thuấn
1.Xin chúc mừng
Cuộc thi nào cũng có những tiêu chí và mục đích để tuyển chọn những người ưu việt. Dương Đức Khánh đã thắng trong hai cuộc thi khá bề thế. Truyện ngắn Nông Nổi Cù Lao của anh đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1200 chữ của báo Tuổi Trẻ. Anh đã vượt qua 1.758 bản thảo của cây bút chuyên nghiệp lẫn không chuyên từ nhiều nơi trên cả nước gửi về tham dự. Ban giám khảo cuộc thi gồm các nhà báo và nhà nghiên cứu văn học: Nguyên Ngọc, Lê Văn Thảo, Phạm Xuân Nguyên, GS- TS Lê Ngọc Trà, Nguyễn Quang Sáng... Nhà văn Nguyên Ngọc, thành viên ban giám khảo cuộc thi, nhận xét, đây là truyện ngắn "vừa buồn cười, vừa đau đớn". Theo ông, tính trào lộng trong câu chuyện chính là sự tự chế giễu cần thiết về những vụng dại của một thời chưa xa đã làm méo mó xã hội, đau khổ cho bao con người[1]. Cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ (2011-2013) có hơn 2000 bản thảo (Theo nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, có gần 3000 bản thảo, còn nhà báo Hiền Nguyễn, báo Tổ Quốc thì cho biết hơn 3000 tác phẩm dự thi*). Trước khi kết quả được công bố, nhiều nhà chuyên môn đã đánh giá cao những tên tuổi như Uông Triều, Chu Thị Minh Huệ, Võ Diệu Thanh, Chu Thùy Anh, Nguyễn Đức Lợi, Hoàng Hải Lâm[2]. Nhà văn Khuất Quang Thuỵ nói về tiêu chí của cuộc thi :” Yếu tố văn chương và những đóng góp cho thể loại được đặt lên hàng đầu, cùng với đó là nội dung phải đề cập tới vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, của thời đại chúng ta. Chuyện có thể xa xôi, nhưng cuối cùng nhất thiết nó phải rọi chiếu được vào đời sống hiện tại.[3]. Nói như thế để thấy một lần nữa Dương Đức Khánh lại vượt lên, trong một cuộc thi mà tài năng mới là yếu tố quyết định.
Thành công của Dương Đức Khánh, Thu Trân...đã ghi một “dấu ấn”[4] cho văn nghệ Đồng Nai. Xin chúc mừng các nhà văn trẻ của Văn nghệ Đồng Nai trên văn đàn cả nước.
2. Yếu tố nào đem đến thành công cho Dương Đức Khánh?
Nhà báo Hoàng Oanh tường thuật, “Dương Đức Khánh khiêm tốn tự nhận mình chỉ là"một người sắp chữ cần mẫn", vì những gì viết trong truyện đều là những sự việc có thật đã từng xảy ra ở nơi này nơi kia trong quá khứ - thời anh và nhiều người từng sống.” Anh sinh ra và lớn lên ở Huế, đến 19 tuổi vào Nam lập nghiệp và xây dựng gia đình ở Long Xuyên. Tuy nhiên, niềm đam mê viết lách và máu nghệ sĩ thôi thúc Dương Đức Khánh chuyển ra Đồng Nai, bỏ nghề may để công tác ở tập san Dưới Mái Trường (Sở Giáo dục Đồng Nai)[5].
Truyện của Dương Đức Khánh gây được ấn tượng ngay về một giọng văn nguyên chất nông dân. Hà Minh Anh nhận xét :” Dương Đức Khánh biết chắt lọc những tình tiết dân dã, những sinh hoạt thường ngày ở một làng quê nghèo để nói lên được những điều lớn lao là con người không nên thù địch, hãy vui vẻ bên nhau mà sống trong cảnh hòa bình. Dương Đức Khánh có một giọng văn riêng nghe mộc mạc như người nhà quê nói chuyện.”[4]
Với đặc điểm ngôn ngữ này, nếu Dương Đức Khánh còn dự thi, anh sẽ còn đạt giải, bởi đó là một giọng văn “lạ” giữa những giọng văn trau chuốt, hoặc giọng văn kiểu “teen” hay giọng văn “truyền thống”...điềm đạm, thâm trầm. Đương Đức Khánh (DĐK) mang được nguyên vẹn ngôn ngữ nông dân vào tác phẩm, nguyên vẹn cái không khi sinh hoạt đồng quê tạo ra kiểu ngôn ngữ ấy, và anh biết cách dấu mình đi để cho kiểu ngôn ngữ mộc, chân chất của người nông dân hiển hiện trên từng con chữ. Những đọan kể của riêng anh, cũng bắt chước giọng điệu ấy, tuy có chắt lọc hơn. Điều này không mới, vì Nguyễn Ngọc Tư đã đi trước anh, xa hơn là Nguyễn Thi, xa hơn là Sơn Nam, và nếu lần về nguồn cội ta gặp lạ Nguyễn Đình Chiểu. DĐK đã kế tục được một dòng văn chương mang những đặc thù thẩm mỹ của văn chương Nam Bộ, và anh góp thêm được chất riêng ngòi bút của mình, đó là “bản chất xuề xòa, nhân hậu của những lớp người quê bao đời nghèo khó.”
Điều làm nên giá trị đạt giải của Người Chợ Kệ là ở hình tượng con người nông dân mà DĐK khắc hoạ được. Người Chợ Kệ là người thế nào? Truyện kể về lai lịch tên chợ, “sự tích” của Mụ Thợ Rèn, và những câu chuyện “tào lao xịt bộp” của chú Tuỳ, con Mụ Thợ Rèn. Đây không phải là những kỳ tích đánh giặc hay kỳ tích làm được những việc phi thường trong kháng chiến, mà chỉ là những chuyện cười dân gian, đời thường, có cả yếu tố tục (truyện cười dân gian sử dụng nhiều yếu tố tục). Đây là chuyện của Mụ Thợ Rèn
” Bận nọ ở bến Lở làng Hạ Lang, mụ say sưa hô tát, khum lên khum xuống một hồi, cái quần lĩnh lưng vận sũng nước, tuột luốt! Mụ mặc kệ!. Nước sông Bồ thì trong leo lẽo. Đàn ông trên bờ vừa la vừa cười hô hố! Mụ cứ tát, cứ hô cho tới khi ghe làng qua khỏi, mụ quăng theo luôn cái nón móp méo tơi tả rồi mới thủng thẳn, kéo quần lên!...Lần ấy ghe làng về “nhứt phá”, giựt luôn giải “tam liên thắng, cờ trống tưng bừng mặt sông! Mụ vừa đi vừa chạy trên bờ, tay vung lên trời: “Nhờ tau đó! Nhờ tau đó!”
Chuyện chú Tuỳ cũng vậy, một lần Chú Tuỳ uống rượi với thằng Mỹ say, rồi dạy cho nó hát bài Hành Quân Xa (của Đỗ Nhuận)[6]. Cảnh tượng hài hước :” Rượu ngấm. Chú bắt đầu hát, rồi hò…Hắn ngồi nghểnh cổ nhìn rồi gục gặc hát theo. Bọn trẻ cứ lăn ra mà cười. Đến lúc hắn đứng dậy loạng choạng bước đi, không biết đứa nào đã bày đầu ra bài hát, cả bầy chạy theo vỗ tay hát ghẹo: “Hành quân xa không có tiền mua phở/ Trở lui về mà xin vợ vài trăm!...” Vậy mà cách có mấy buổi chiều hắn đã thuộc, giọng hắn ò ò theo bước đi khật khưởng: “Hanh quan xa khong co chien mo phọ…” Chú còn nghĩ cách bày nhiều trò ngoạn mục khác khiến cả làng phải cười nhiều trận đến khản cổ!.”
Tôi không nghĩ DĐK chỉ ghi nhận những “chuyện cười” để mua vui như vậy (mặc dù người Việt Nam thích cười). Người chợ Kệ có thể “mặc kệ” những chuyện đàm tiếu, cười cợt sự hồn nhiên của mình, nhưng không mặc kệ những chuyện về lòng nhân ái, về tình người, tình làng nghĩa xóm, về cái lẽ phải ở đời.“Một hôm có người đàn bà làng Hạ mang thai sắp đến ngày sinh nở, đang giữa buổi chợ chiều sắp tan bỗng đau trở dạ. Vật vã, rên la đến ngất lịm! Cả chợ xúm lại. Là đàn bà với nhau, cũng từng qua lần đi biển mồ côi nên ai cũng cảm thấy quặn lòng. Thế là mỗi người một tay, kẻ giúp chăn người giúp chiếu. Cuộc vượt cạn nơi góc lều quán chợ cũng mẹ tròn con vuông!” Có người nói, đàn bà làng khác đến đẻ rơi đẻ rớt giữa chợ làng mình là điềm xui, điềm gở! Mụ Thợ Rèn thì nói :” Ôi dào! Ông trời có mắt, mình cứ ăn ở cho phải, ai nói chi mặc kệ! Cứ “kệ” là qua hết!”
Chú Tuỳ say sưa, hồn nhiên vậy, thế nhưng trong câu hò chú dạy cho thằng Phớt (thằng Mỹ say), lại có ý nghĩa sâu sắc: Chú bắt nhịp cho thằng Mỹ hò: ” Hò hô hố hô!...”.“Đáo tói noi đay/ đát nuoc la lung/ nghe con chim keu tui cung sơ…Họ hô!...” Rồi chú hò “thông dịch” lại câu hò của thằng Mỹ : Hò hô…Đáo tới nơi đây/ đất nước lạ lùng / nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run ví cũng… ờ run! Hò hô!...” Hành động của chú Tuỳ được dân làng tán thưởng :” Mụ Thêm vỗ đùi ra chiều hả hê: “Ờ, không run răng được!...Chết gần hết rồi mới “chạy làng” về đây! Không run răng được!”. Cả chợ cười cái rần. Mụ Lé nổi hứng: “Chà, hò nghe hợp tình chi lạ! Đây, thưởng cho…một đòn bánh tét! Hai anh em ăn cho no mà hò!...” Hơn thế, Chú Tuỳ còn có công “thuần hoá” thằng Mỹ khi cho nó tham gia cuộc đua ghe, và một lần nữa nó lại thua những người nông dân bình thường. Tác giả bình luận :” Nhưng những động tác này đối với một thân hình nặng nề - một người Mỹ như thằng Phớt thì phải học tới “bạc râu” may ra mới theo kịp!.” Chú Tuỳ tự hào :” “Mỹ dưng mà…thành dân chợ Kệ rồi!...Biết uống rượu Hương Cần, biết hò giã gạo…được mụ Lé thưởng bánh tét đàng hoàng nghe! Hề!...”
Trong truyện, những “thằng Mỹ” đã thua đến 2 lần. Lần thứ nhất, “Đêm căn cứ Ti-bon trên núi Mệ bị pháo quân giải phóng tấn công, cả trái núi đỏ lựng như hòn than khổng lồ...Mờ sáng, cái thứ bay dạt về đồng làng không phải là những chiếc dù mà là…một tốp lính Mỹ te tua xơ mướp bị đẩy xuống từ một chiếc trực thăng! Chúng la ó hoảng loạn, xí lô xí la như bồ chao bể tổ một hồi rồi thất thểu kéo nhau vô náu trong nhà thờ hoang. ». Lần thứ hai, thằng Phớt tham gia đua ghe phải bỏ cuộc, trở thành trò cười cho dân làng. Chúng đã biết « sợ » dân tộc này. « Nghe con chim kêu tui cũng sợ/ gặp con cá vẫy vùng run..”.
Khi viết về những người Mỹ thua trận, DĐK đã không nói về sự căm thù và thái độ trả thù giặc Mỹ như những truyện thời kháng chiến (chẳng hạn, Những đứa con trong gia đình-Nguyễn Thi). Điều ấy là hợp tình trong hoàn cảnh hiện nay khi cả hai dân tộc đã khép lại quá khứ, hướng đến tương lai, hợp tác và hữu nghị. Chú Tuỳ đã thể hiện cái tinh thần ấy. Nói chuyện với tác giả, « Chú vỗ cái bốp: “Rồi! Tau sẽ đi Mỹ!” Rồi chú vỗ bùm bùm xuống bộ sập: “Này, trong này là hai tấn rưỡi, tau đang trữ, chờ giá! Tau sẽ “mần” một chuyến “xuất khẩu tự túc”!...Qua bên đó, tau sẽ đi tìm thằng Phớt! Uống rượu với hắn…hai ba tháng đã đời chơi! Hà!…”
3. Con đường phía trước
Hai cuộc thi đã khẳng định tên tuổi Dương Đức Khánh là một nhà văn có văn phong riêng, có sức gây ấn tượng. Con thuyền đã ra khơi, mênh mông vẫy vùng. Tôi cầu chúc nhà văn Dương Đức Khánh mọi điều tốt đẹp để anh có thể thực hiện được ước vọng nghệ thuật của mình và làm tròn “thiên chức” của một nhà văn.
Con đường sáng tạo còn dài phía trước và không ít khó khăn. Nhà văn Nguyễn Đức Thọ sau thành công của Hồi Ức Làng Che đã thốt lên một câu Kiều “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh “. Anh gọi 15 truyện ngắn anh đã viết được là 15 năm của đời Kiều. Nhà văn tài hoa và viết được những câu chuyện bi kịch dữ dội của một thời ấy đã sớm ra đi trong sự nhớ tiếc của Văn Nghệ Đồng Nai. Cũng không xa Đồng Nai gì lắm, Nguyễn Ngọc Tư đã nếm trải vinh quang và cay đắng của nghiệp cầm bút...”Đã mang lấy nghiệp vào thân”..., làm sao giữ được lửa của ngòi bút, làm sao tích luỹ được vốn cho đầy, làm sao tìm được con đường sáng tạo riêng cho mình, và làm sao đứng vững trước những phong ba bão táp của tình đời, để sáng tạo cho đời những tác phẩm giá trị, góp phần làm giàu đẹp tâm hồn và văn hoá Việt Nam, tôi nghĩ nhà văn nào cũng trăn trở về những điều ấy.
Điều tôi chia sẻ với nhà văn DĐK là ở những gì anh sẽ viết. Ngay trong những thành công của anh đã hàm chứa những khó khăn. Nếu anh chỉ viết về những gì thuộc về vốn sống, thì sẽ có lúc anh cạn vốn. Và nếu anh chỉ giữ một cách viết dân dã, một giọng dân dã thì sắc màu nghệ thuật của anh sẽ rất đơn điệu. Nguyễn Ngọc Tư khởi đầu bằng những chuyện đồng quê dân dã, nhưng ngay sau đó nhà văn này đã tìm đi những lối khác. Điều làm người đọc còn thấy “thiếu” trong những truyện ngắn của DĐK là “chất tư tưởng” của tác phẩm. Chất hồn nhiên, tự nhiên của sự việc lấn át tính tư tưởng, khiến cho truyện của anh gần như là kiểu truyện phong tục, viết về những cái “lạ” trong đời sống, sinh hoạt ở một vùng nào đó. Người đọc có thể ngạc nhiên, thú vị về những câu chuyện “lạ”, nhưng không đọng lại được điều gì về tư tưởng và nghệ thuật.
Người Chợ Kệ, giàu chất ký hơn truyện. Đoạn anh miêu tả về những người lính Mỹ thua, chạy núp trong nhà thờ hoang, chiều chiều trực thăng Mỹ thả xuống những thùng lương thực cho họ rồi bỏ đi. Những người lính Mỹ này gào thét và bắn đạn xối xả lên trời. ”Từng gương mặt đỏ ngầu vằn lên giận dữ như đang nguyền rủa một ai đó… », Tôi e rằng tác giả miêu tả như vậy để đọc cho vui. Ngưởi Mỹ không bao giờ bỏ rơi đồng đội của họ như thế, và Việt Cộng cũng không để yên cho những người lính Mỹ này, vì bọn chúng đã gây tội ác với nhân dân.
Cũng vậy, nhân vật tôi trong truyện không có vai trò gì, ngoài vai trò là người bịa chuyện để gạt chú Tuỳ, khiến cho Chú tưởng thật và quyết tâm đi Mỹ. Nhưng chú đi Mỹ để làm gì ? Tác giả không có một dòng nào miêu tả ý thức dân tộc về hành động của chú. Đi Mỹ chỉ để uống rượu hai ba tháng với thằng Phớt cho đã. Đúng là chuyện « tào lao xịt bộp ». Nhân vật chú Tuỳ có thể tào lao, còn người đọc muốn nghe tác giả nói những điều gan ruột, những điều xuất phát từ chân tâm. Tác giả bịa ra chuyện « tào lao xịt bộp » để làm gì ? Phải chăng tác giả muốn đùa cợt trên sự « chất phác » của chú Tuỳ « ? Hay để có câu chuyện vui mà nhớ về ngày xưa ? Dù thế nào, tôi nghĩ rằng tác giả có những cách kết thúc truyện khác. Cách kết truyện của DĐK không tạo được hiệu quả tư tưởng và nghệ thuật. Đọc xong truyện tôi cảm thấy hụt hẫng và tiếc.
Tôi lại có một mong ước, một ngày nào đó được đọc truyện Người Đồng Nai của DĐK. Một lần nữa xin chúc mừng thành công của nhà văn.
Tháng 5. 2013
_____________________________________________________
[1] http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/mot-nha-tho-doat-giai-cuoc-thi-viet-truyen-ngan-1-200-chu-1973025.html
[*] http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/49/doi-song-van-hoc/115930/nhin-lai-cuoc-thi-truyen-ngan-bao-van-nghe-2011-2012.aspx
[2] http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=16574
[3] http://www.baomoi.com/Xuat-hien-mot-lop-nha-van-tre-chung-chac/152/10905873.epi
[4] http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/414169
[5] Hoàng Oanh-Tuổi Trẻ: http://news.socbay.com/tac_gia_duong_duc_khanh_cuoi_buon_ve_thoi_toi_da_song_-600126154-302055424.html
[4] Hà Minh Anh: http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/414169
[6] Hành Quân Xa -Sáng tác: Đỗ Nhuận - Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ. Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi. Mắt ta sáng chí căm thù bảo vệ đồng quê ta tiến bước. Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi....
Sáng tác ca khúc, truyện ngắn và phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn. Bạn cũng có thể đọc BCT tại http://yume.vn/buicongthuan
Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013
NGHỊ QUYẾT TW5 (KHOÁ (VIII) VÀ NGHỊ QUYẾT 23 CỦA BCT VỚI LL&PBVH
THAM LUẬN*
Nghị quyết TW5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị với
LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG
Bùi Công Thuấn

Từ đổi mới đến nay, đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hoá, sáng tác và lý luận phê bình văn học nghệ thuật luôn là vấn đề “nóng” của thời sự văn học. Bởi có sự va đập, cọ xát giữa nhiều khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật khác nhau. Rất nhiều vấn đề không có lời giải đáp, chẳng hạn, vấn đề tự do trong sáng tạo, văn học và chính trị, văn học với kinh tế thị trường, văn học phản ánh hiện thực, vấn đề con người trong văn học, đổi mới văn học như thế nào, số phận của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa... Hội nghị Lý Luận phê bình Đồ Sơn không giải quyết được vấn đề nào cụ thể. Đời sống văn học trong chờ ánh sáng mở đường.
1.ÁNH SÁNG TỪ CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
Trong tình hình ấy, sự ra đời của Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) và nghị quyết 23 của Bộc Chính Trị (ngày 16.6.2008) thực sự có ý nghĩa mở đường. Cả hai nghị quyết là sự kết tinh nhận thức và đường lối văn nghệ của Đảng từ Đề Cương Văn Hoá 1943 đến nay. Là sự kiên định quan điểm văn hoá nghệ thuật phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, "Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải thành ‘một bánh xe nhỏ và một đinh ốc’ trong bộ máy xã hội dân chủ vĩ đại, thống nhất do đội tiền phong hoàn toàn giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân mở máy”.[1]; Là sự phát triển quan điểm nghệ thuật Marxist và tư tưởng Hồ Chí Minh trước yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, giai đọan công nghiệp hoá đất nước và hội nhập toàn cầu hoá.
Trước đây, trong giai đoạn kháng chiến (1945-1975), dân tộc ta phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” mới giành được, lý tưởng độc lập tự do là lý tưởng của cả dân tộc, văn học nghệ thuật cũng hướng về lý tưởng ấy. Phương châm văn nghệ kháng chiến là, “Văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá” văn hoá văn nghệ phục vụ công, nông, binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy :”Không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật mà cần nói rõ văn hoá phục vụ công, nông binh.”[2], Đảng yêu cầu văn nghệ sĩ sáng tác theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa [3]
Từ 1986, Đảng đổi mới tư duy, đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, nhà văn thế hệ kháng chiến đã quen viết bằng Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN không sao vượt lên được, họ thực sự lúng túng trước yêu cầu mới. Văn học tự thân đổi mới mà không tránh khỏi những hạn chế. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) đã chỉ ra tình trạng yếu kém lý luận và phê bình văn học nghệ thuật thời gian qua:
” Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa. Xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm.”(Nghị Quyết TW 5)
Từ đó đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về lý luận và phê bình băn học
“Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.
Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá. Nâng cao chất lượng, phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận.
Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng.”

Nghị quyết 23 cũng chỉ rõ thêm:
“Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt, chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.
Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hóa phê bình bị hạ thấp...”
Và khẳng định:
“Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, có sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân.
Văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ.
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển lý luận văn học, nghệ thuật...Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú cho hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại...”
2.TÌNH HÌNH LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG CẢ NƯỚC
Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị là kết tinh của sự kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ; là sự kiện định đường lối văn hoá văn nghệ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng kể từ Đề Cương Văn Hoá 1943. Những văn kiện này của Đảng đã mở ra nhận thức mới cho sáng tác văn học nghệ thuật, làm sáng tỏ và giải quyết được nhiều vấn đề lý luận văn nghệ trong giai đoạn đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn.
Sự ra đời của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương là sự quan tâm đặc biệt của Đảng về lý luận phê bình VHNT. Hội đồng là cơ quan tư vấn tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư và quản lý trực tiếp của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương.
Từ khi Hội đồng lý luận và Phê bình VHNT trung ương ra đời (2008), các hoạt động lý luận phê bình trở nên sôi nổi và có chiều sâu. Hội Đồng có chức năng “xem xét, đánh giá tình hình sáng tác, lý luận, phê bình, những khuynh hướng nảy sinh trong đời sống VHNT, tổng kết việc thực hiện đường lối văn nghệ của Đảng, bảo vệ những thành tựu đã đạt được, kết luận một số vấn đề lý luận thực tiễn văn nghệ còn có ý kiến khác nhau, liên kết đội ngũ lý luận phê bình chuyên và không chuyên trong cả nước...”
Hội đồng lý luận đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của lý luận và phê bình VHNT,
Năm 2008, hội thảo "Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập". Năm 2009 hội thảo "Tính dân tộc và tính hiện đại trong VH,NT hiện nay". Năm 2010 hội thảo “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” . Tổ chức đề án “Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”. Năm 2010, Hội đồng đã xuất bản cuốn sách “Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay” và “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”. Xây dựng Đề án “Chống sự xâm nhập của sản phẩm độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”... 2013 thực hiện đề án khoa học cấp nhà nước "Lý luận văn nghệ ở Việt Nam - thực tiễn và định hướng phát triển"; tổ chức hội thảo "Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử", góp phần định hướng các Hội văn học, nghệ thuật ở trung ương và địa phương cùng đội ngũ văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tác, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống. Hội đồng tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái về văn học, nghệ thuật và chủ động bám sát thời sự văn học, nghệ thuật để từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp, đạt hiệu quả cao hơn.
Hội Đồng cũng tổ chức nhiều đợt tập huấn lý luận phê bình VHNT cho đối tượng là những người làm công tác quản lý, chỉ đạo văn học, nghệ thuật ở các cơ quan Trung ương; những cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học văn khoa tại Hà Nội, các nhà báo ở các báo, đài trung ương có chuyên trang văn học, nghệ thuật…giúp những người có trách nhiệm có cái nhìn hệ thống về đường lối, quan điểm của Ðảng ta về văn nghệ. Ðồng thời, từ nhận thức về các thành tựu, hạn chế của tình hình văn nghệ hiện nay để nâng cao trách nhiệm cá nhân trên cương vị công tác của mình.(Hội Đồng đã tổ chức lớp tập huấn tại Đồng Nai từ 18 đến 21 .7.2012)
Những thành tựu có thể nhận thấy rõ ở lễ trao thưởng các tác phẩm lý luận phê bình văn học - nghệ thuật trong ba năm 2010-2012. Có 29 công trình, tác phẩm đã được trình Hội đồng lựa chọn trao thưởng từ 332 công trình, tác phẩm của 92 đơn vị, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, Hội văn học - nghệ thuật các tỉnh, thành phố và các hội chuyên ngành gửi dự xét tặng thưởng.
Nhìn chung các “khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị..”đã bị đầy lùi. Văn học kháng chiến và cách mạng được khẳng định, các quan điểm về văn học nghệ thuật của Đảng được củng cố làm nền tảng cho lý luận phê bình. Các khuynh hướng sáng tác suy đồi bị phê phán mạnh (sex, xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, thái độ mơ hồ về chiến tranh, không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa.)
Tuy nhiên trong thực tiễn sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật, thời gian qua không phải không có lúc “khủng hoảng”, hoặc “loạn chuẩn”. Sự tranh cãi thường xảy ra ở các giải thưởng văn học của Hội Nhà Văn và các cuộc thi cấp miền (chẳng hạn tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, bài thơ Trăng Nghẹn giải thưởng Đồng bằng sông Cửu Long), nhất là hội thảo thơ “Hoàng Quang Thuận với non sông Yên Tử” 8/8/2012, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam do Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức. Có tới 21 tham luận đánh giá rất cao thơ Hoàng Quang Thuận. Nhưng sau đó Nguyễn Minh Tâm đã phát hiện Hoàng Quang Thuận sao chép sách “Chùa Yên Tử, Lịch Sử - Truyền Thuyết Di Tích và Danh Thắng”,“thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương”[4]. Thường vụ Hội Nhà Văn đã có thông báo rút kinh nghiệm sâu sắc về hội thảo này.[5]
Các đợt tập huấn của Hội đồng LLPBVHNT TW đã nhiều lần đề cập đến tình trạng “loạn chuẩn”, và nhận ra nguyên nhân là, khi rời bỏ Chủ Nghịa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, lý luận phê bình Việt Nam chưa có một phương pháp phê bình mới phù hợp, chưa có những tiêu chí cụ thể cho phê bình văn học. Trong khi đó văn chương bị thu hút về phía thị trường. Những bài giới thiệu quảng cáo sách góp thêm phần làm “loạn chuẩn” phê bình văn chương, tham luận trong các hội thảo văn chương thì tung hứng mặc sức phô diễn những bài tụng ca cảm tính. Ngược lại, công chúng và những người làm công tác quản lý văn học nghệ thuật lại vẫn theo chuẩn của lý luận phê bình thời kháng chiến, chưa theo kịp sự đổi mới của Đảng.
Cho đến nay (2013) chúng ta vẫn chưa có công trình nào về lý luận phê bình văn chương Việt Nam, chưa có phương pháp phê bình nào được khẳng định có giá trị phù hợp với tình hình mới của văn chương nghệ thuật. Con đường còn mở ra phía trước của những tìm tòi và thể nghiệm. Chẳng hạn, GS Trần Đình Sử nghiên cứu Thi Pháp Học, Đỗ Lai Thuý áp dụng Phân Tâm học nghiên cứu văn chương VN (Bút Pháp của Ham Muốn), Trịnh Bá Dĩnh giới thiệu chủ nghĩa Cấu Trúc trong văn học,...còn công chúng vẫn kiên định phương pháp của Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa thời kháng chiến.

2.LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở ĐỒNG NAI
Những nhận xét của NQ TW5 và NQ 23 về lý luận phê bình có thể nhận thấy rõ ở Đồng Nai. Đội ngũ viết phê bình và lý luận văn học ở Đồng Nai “chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.”
Nói cho thật đúng, Đồng Nai không có đội ngũ viết phê bình chuyên nghiệp, vì thế không có những công trình lý luận phê bình thực sự có tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lác đác có những bài giới thiệu tác phẩm trên tạp chí Văn Nghệ Đồng Nai, của các nhà thơ, nhà văn, chủ yếu là phê bình cảm tính theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Có thể kể đến Đặng Minh Hân, Phan Nam Sinh, Bùi Quang Tú, Bùi Quang Huy,...Tuy vậy, Hội Văn Nghệ Đồng Nai tổ chức được Hội đồng thẩm định tác phẩm, đánh giá được các tác phẩm trong các trại sáng tác. Chẳng hạn trại sáng tác đề tài học tập gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh, trại Tam Nông, trại Nhà Giáo-Nhà trường...
Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 5 năm 2007-2012 ghi nhận: “Ban Văn Học có 72 hội viên, trong đó có 8 hội viên Hội Nhà Văn Việt nam. Ban có 38 hội viên thơ, 32 hội viên văn xuôi và 02 hội viên nghiên cứu lý luận phê bình”. Về hoạt động lý luận phê bình, báo cáo đánh giá :”Hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình đã có dấu hiệu tích cực, thể hiện qua một số công trình sách, tác phẩm của các hội viên được công bố, trong đó 02 tác phẩm sách được giải thưởng của Uỷ Ban Toàn Quốc Liên Hiệp các Hội VHNT Việt Nam”
Nhìn ở góc độ phê bình, văn chương Đồng Nai không mắc phải những sai lầm như nhận định chung của NQ TW5 về tình hình sáng tác văn học nghệ thuật những năm qua. Không có khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, không đối lập văn nghệ với chính trị. Cũng không có xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém của thị trường, không có văn chương sex hay văn chương suy đồi.
Văn chương Đồng Nai sâu nặng tình quê hương, tình đồng đội, nghĩa tình cách mạng. Các tác giả đều viết với ý thức sâu sắc trách nhiệm công, trách nhiệm nhà văn phục vụ sự nghiệp cách mạng. Tác phẩm giàu tinh thần nhân văn và dân chủ. Mỗi tác giả đều nỗ lực vượt lên chính mình trong sáng tạo nghệ thuật. Xin đọc:
Tuyển tập Theo Sóng Đồng Nai, Nxb Đồng Nai 2000. Tuyển Tập thơ Đồng Nai 30 Năm. Nxb Tổng Hợp Đồng Nai 2005. Trầm Tích Chiến Khu D, Nxb HNV 2006. Nhà thơ Lê Thanh Xuân :Tiếng Ru Đêm- NxbVăn Học 2001 ; Đồng Hành – Nxb. HNV 2001; Hồn Đá- Nxb. HNV. 2007. Trần Ngọc Tuấn, tập Suối Reo. Nxb HNV 2006. Đỗ Minh Dương, tập Với Miền Đất Đỏ.Nxb HNV 2007. Xuân Bảo, Âm Vang Một Dòng Sông, Tôi Đi Nhặt Bụi Vàng, tuỳ bút-thơ. Nxb Hội Nhà Văn-2008. .. Nguyễn Đức Phước, tập thơ Đêm Khát. Nxb HNV 2008. Đàm Chu Văn : Hai Phía Thời Gian. Nxb HNV,2009. Đào Trọng Thử : Trốn, Nxb Hội Nhà Văn 2011. Hoàng Đình Nguyễn, tập thơ Tự Tình. Nxb Hội Nhà Văn 2011. Nguyễn Hoài Nhơn, tập thơ Hồi Quang, Nxb Hội Nhà Văn 2012..;
Đặng Minh Hân,Văn thơ Đồng Nai, đôi điều cảm nhận. 2007, Chất anh hùng của người Đồng Nai. Khôi Vũ, Vỡ dần trong mắt (2009), Phù phiếm bên biển, 2010. Đàn ống tre bên kia sông, Nxb Đồng Nai 2013. Lê Đăng Kháng, Người lính hát đơn ca.2007, Sương sớm Nxb Quân đội nhân dân 2011. Trần Thu Hằng , Đàn Đáy, Rừng thiêng vẫy gọi. 2007, Người đàn bà lưu vong 2008. Nguyễn Một, Dòng sông độ lượng, 2007, Đất trời vần vũ, 2009. Hoàng Ngọc Điệp, Chú cún đeo Lục Lạc, 2007. Bùi Quang Tú, Viên phấn và cây viết 2012. Bùi Quang Huy, Huỳnh Văn Nghệ như là giấc mơ, Văn Học Đồng Nai lịch sử & diện mạo. Nxb Đồng Nai 2011, Bùi Công Thuấn, Chút tình tri âm (2009), Những dòng sông vẫn chảy, Nxb Hội Nhà Văn 2011...Nguyễn Quốc Hoàn, Một hình ảnh giàu lòng yêu nước. Trần Thúc Hà, Người đi mở cõi, Người Trầm Lặng, Nxb Quân Đội Nhân Dân 2011. Tấn Hoài, Viên gạch lạ, Hoa Quý Lan...
Bản thân tôi khi biết phê bình (Chút Tình Tri Âm 2009, giải Trịnh Hoài Đức lần III và Những Giòng Sông Vẫn Chảy 2011, Giải VHNT 2011 của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam) đều dựa vào Nghị Quyết TW5 và nghị quyết 23 làm chuẩn mực để đánh giá tác phẩm. Cả hai nghị quyết đều đã mở rộng biên độ về phương pháp cho nhà phê bình. Đảng đã định hướng :” “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”, nhờ thế tôi vận dụng nhiều phương pháp phê bình để tiếp cận tác phẩm. Với tác phẩm viết bằng bút pháp Hiện thực, phương pháp phê bình Tiểu sử và phê bình Marxist có ưu thế khám phá ý nghĩa xã hội của tác phẩm. Phương pháp Cấu trúc và Giải Cấu trúc, hoặc Phân Tâm Học giúp đi sâu vào ý thức sáng tạo. Thi Pháp và Phong Cách học giúp khám phá cá tính sáng tạo của nhà văn.
Khi đọc các tác phẩm của các tác giả trong Hội VHNT Đồng Nai, tôi chú ý đến “sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng” và trách nhiệm của Các hội văn học, nghệ thuật. Đó là trách nhiệm “làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết, phát huy tính chủ động, tích cực xã hội và tài năng sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ”. Bởi Hội Văn Học Nghệ Thuật “ là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước...” Tôi nhận thấy có một dòng văn thơ cách mạng Đồng Nai chảy liên tực từ Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, đến các tác giả Đồng Nai hiện nay, phản ánh được nhiều mặt đời sống của nhân dân Đồng Nai, làm giàu đẹp thêm văn hoá Đồng Nai trên con đường công nghiệp hoá.
Nỗ lực sáng tạo để có những tác phẩm tương xứng với tầm vóc sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đồng Nai vẫn là trách nhiệm chưa hoàn thành của văn nghệ Đồng Nai. Dù vậy, chúng ta có quyền hy vọng bởi văn nghệ Đồng Nai đã có truyền thống và đang dồi dào tiềm lực.
Tháng 4.2013
________________________________________________
[1] V. Lenin- Tổ chức Đảng và văn học Đảng. NXB Sự Thật Hànội 1957. Tr. 13.
[2] Hà Huy Giáp - Hồ Chủ Tịch với một vài vấn đề văn hoá văn nghệ .Nxb Sự Thật 1978.Tr74
[3] Trường Chinh - Chủ Nghĩa Mác và Văn Hoá Việt Nam. 1948
[4] Nguyễn Minh Tâm- Thi Vân Yên Tử được sao chép từ đâu?
[5] Thông báo của Thường vụ Hội Nhà Văn Việt Nam-http://vanvn.net/news/1/2372-thong-bao-cua-thuong-vu-hoi-nha-van-viet-nam.html
(*) THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 15 NĂM THỰC HIỆN NQTW5 TẠI HỘI VHNT ĐỒNG NAI NGÀY 26.04.2013
Nghị quyết TW5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị với
LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG
Bùi Công Thuấn

Từ đổi mới đến nay, đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hoá, sáng tác và lý luận phê bình văn học nghệ thuật luôn là vấn đề “nóng” của thời sự văn học. Bởi có sự va đập, cọ xát giữa nhiều khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật khác nhau. Rất nhiều vấn đề không có lời giải đáp, chẳng hạn, vấn đề tự do trong sáng tạo, văn học và chính trị, văn học với kinh tế thị trường, văn học phản ánh hiện thực, vấn đề con người trong văn học, đổi mới văn học như thế nào, số phận của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa... Hội nghị Lý Luận phê bình Đồ Sơn không giải quyết được vấn đề nào cụ thể. Đời sống văn học trong chờ ánh sáng mở đường.
1.ÁNH SÁNG TỪ CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
Trong tình hình ấy, sự ra đời của Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) và nghị quyết 23 của Bộc Chính Trị (ngày 16.6.2008) thực sự có ý nghĩa mở đường. Cả hai nghị quyết là sự kết tinh nhận thức và đường lối văn nghệ của Đảng từ Đề Cương Văn Hoá 1943 đến nay. Là sự kiên định quan điểm văn hoá nghệ thuật phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, "Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải thành ‘một bánh xe nhỏ và một đinh ốc’ trong bộ máy xã hội dân chủ vĩ đại, thống nhất do đội tiền phong hoàn toàn giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân mở máy”.[1]; Là sự phát triển quan điểm nghệ thuật Marxist và tư tưởng Hồ Chí Minh trước yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, giai đọan công nghiệp hoá đất nước và hội nhập toàn cầu hoá.
Trước đây, trong giai đoạn kháng chiến (1945-1975), dân tộc ta phải “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” mới giành được, lý tưởng độc lập tự do là lý tưởng của cả dân tộc, văn học nghệ thuật cũng hướng về lý tưởng ấy. Phương châm văn nghệ kháng chiến là, “Văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá” văn hoá văn nghệ phục vụ công, nông, binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy :”Không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật mà cần nói rõ văn hoá phục vụ công, nông binh.”[2], Đảng yêu cầu văn nghệ sĩ sáng tác theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa [3]
Từ 1986, Đảng đổi mới tư duy, đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, nhà văn thế hệ kháng chiến đã quen viết bằng Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN không sao vượt lên được, họ thực sự lúng túng trước yêu cầu mới. Văn học tự thân đổi mới mà không tránh khỏi những hạn chế. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII- ngày 16.7.1998) đã chỉ ra tình trạng yếu kém lý luận và phê bình văn học nghệ thuật thời gian qua:
” Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa. Xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm.”(Nghị Quyết TW 5)
Từ đó đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về lý luận và phê bình băn học
“Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.
Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá. Nâng cao chất lượng, phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận.
Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng.”

Nghị quyết 23 cũng chỉ rõ thêm:
“Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt, chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.
Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hóa phê bình bị hạ thấp...”
Và khẳng định:
“Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, có sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân.
Văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ.
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển lý luận văn học, nghệ thuật...Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú cho hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại...”
2.TÌNH HÌNH LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC TRONG CẢ NƯỚC
Nghi quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị là kết tinh của sự kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ; là sự kiện định đường lối văn hoá văn nghệ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng kể từ Đề Cương Văn Hoá 1943. Những văn kiện này của Đảng đã mở ra nhận thức mới cho sáng tác văn học nghệ thuật, làm sáng tỏ và giải quyết được nhiều vấn đề lý luận văn nghệ trong giai đoạn đất nước đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập toàn.
Sự ra đời của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương là sự quan tâm đặc biệt của Đảng về lý luận phê bình VHNT. Hội đồng là cơ quan tư vấn tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư và quản lý trực tiếp của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương.
Từ khi Hội đồng lý luận và Phê bình VHNT trung ương ra đời (2008), các hoạt động lý luận phê bình trở nên sôi nổi và có chiều sâu. Hội Đồng có chức năng “xem xét, đánh giá tình hình sáng tác, lý luận, phê bình, những khuynh hướng nảy sinh trong đời sống VHNT, tổng kết việc thực hiện đường lối văn nghệ của Đảng, bảo vệ những thành tựu đã đạt được, kết luận một số vấn đề lý luận thực tiễn văn nghệ còn có ý kiến khác nhau, liên kết đội ngũ lý luận phê bình chuyên và không chuyên trong cả nước...”
Hội đồng lý luận đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của lý luận và phê bình VHNT,
Năm 2008, hội thảo "Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập". Năm 2009 hội thảo "Tính dân tộc và tính hiện đại trong VH,NT hiện nay". Năm 2010 hội thảo “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” . Tổ chức đề án “Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong văn học nghệ thuật”. Năm 2010, Hội đồng đã xuất bản cuốn sách “Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay” và “Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”. Xây dựng Đề án “Chống sự xâm nhập của sản phẩm độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”... 2013 thực hiện đề án khoa học cấp nhà nước "Lý luận văn nghệ ở Việt Nam - thực tiễn và định hướng phát triển"; tổ chức hội thảo "Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử", góp phần định hướng các Hội văn học, nghệ thuật ở trung ương và địa phương cùng đội ngũ văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tác, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống. Hội đồng tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái về văn học, nghệ thuật và chủ động bám sát thời sự văn học, nghệ thuật để từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp, đạt hiệu quả cao hơn.
Hội Đồng cũng tổ chức nhiều đợt tập huấn lý luận phê bình VHNT cho đối tượng là những người làm công tác quản lý, chỉ đạo văn học, nghệ thuật ở các cơ quan Trung ương; những cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học văn khoa tại Hà Nội, các nhà báo ở các báo, đài trung ương có chuyên trang văn học, nghệ thuật…giúp những người có trách nhiệm có cái nhìn hệ thống về đường lối, quan điểm của Ðảng ta về văn nghệ. Ðồng thời, từ nhận thức về các thành tựu, hạn chế của tình hình văn nghệ hiện nay để nâng cao trách nhiệm cá nhân trên cương vị công tác của mình.(Hội Đồng đã tổ chức lớp tập huấn tại Đồng Nai từ 18 đến 21 .7.2012)
Những thành tựu có thể nhận thấy rõ ở lễ trao thưởng các tác phẩm lý luận phê bình văn học - nghệ thuật trong ba năm 2010-2012. Có 29 công trình, tác phẩm đã được trình Hội đồng lựa chọn trao thưởng từ 332 công trình, tác phẩm của 92 đơn vị, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, Hội văn học - nghệ thuật các tỉnh, thành phố và các hội chuyên ngành gửi dự xét tặng thưởng.
Nhìn chung các “khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị..”đã bị đầy lùi. Văn học kháng chiến và cách mạng được khẳng định, các quan điểm về văn học nghệ thuật của Đảng được củng cố làm nền tảng cho lý luận phê bình. Các khuynh hướng sáng tác suy đồi bị phê phán mạnh (sex, xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, thái độ mơ hồ về chiến tranh, không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa.)
Tuy nhiên trong thực tiễn sinh hoạt phê bình văn học nghệ thuật, thời gian qua không phải không có lúc “khủng hoảng”, hoặc “loạn chuẩn”. Sự tranh cãi thường xảy ra ở các giải thưởng văn học của Hội Nhà Văn và các cuộc thi cấp miền (chẳng hạn tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, bài thơ Trăng Nghẹn giải thưởng Đồng bằng sông Cửu Long), nhất là hội thảo thơ “Hoàng Quang Thuận với non sông Yên Tử” 8/8/2012, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam do Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức. Có tới 21 tham luận đánh giá rất cao thơ Hoàng Quang Thuận. Nhưng sau đó Nguyễn Minh Tâm đã phát hiện Hoàng Quang Thuận sao chép sách “Chùa Yên Tử, Lịch Sử - Truyền Thuyết Di Tích và Danh Thắng”,“thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương”[4]. Thường vụ Hội Nhà Văn đã có thông báo rút kinh nghiệm sâu sắc về hội thảo này.[5]
Các đợt tập huấn của Hội đồng LLPBVHNT TW đã nhiều lần đề cập đến tình trạng “loạn chuẩn”, và nhận ra nguyên nhân là, khi rời bỏ Chủ Nghịa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, lý luận phê bình Việt Nam chưa có một phương pháp phê bình mới phù hợp, chưa có những tiêu chí cụ thể cho phê bình văn học. Trong khi đó văn chương bị thu hút về phía thị trường. Những bài giới thiệu quảng cáo sách góp thêm phần làm “loạn chuẩn” phê bình văn chương, tham luận trong các hội thảo văn chương thì tung hứng mặc sức phô diễn những bài tụng ca cảm tính. Ngược lại, công chúng và những người làm công tác quản lý văn học nghệ thuật lại vẫn theo chuẩn của lý luận phê bình thời kháng chiến, chưa theo kịp sự đổi mới của Đảng.
Cho đến nay (2013) chúng ta vẫn chưa có công trình nào về lý luận phê bình văn chương Việt Nam, chưa có phương pháp phê bình nào được khẳng định có giá trị phù hợp với tình hình mới của văn chương nghệ thuật. Con đường còn mở ra phía trước của những tìm tòi và thể nghiệm. Chẳng hạn, GS Trần Đình Sử nghiên cứu Thi Pháp Học, Đỗ Lai Thuý áp dụng Phân Tâm học nghiên cứu văn chương VN (Bút Pháp của Ham Muốn), Trịnh Bá Dĩnh giới thiệu chủ nghĩa Cấu Trúc trong văn học,...còn công chúng vẫn kiên định phương pháp của Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa thời kháng chiến.

2.LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở ĐỒNG NAI
Những nhận xét của NQ TW5 và NQ 23 về lý luận phê bình có thể nhận thấy rõ ở Đồng Nai. Đội ngũ viết phê bình và lý luận văn học ở Đồng Nai “chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó.”
Nói cho thật đúng, Đồng Nai không có đội ngũ viết phê bình chuyên nghiệp, vì thế không có những công trình lý luận phê bình thực sự có tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lác đác có những bài giới thiệu tác phẩm trên tạp chí Văn Nghệ Đồng Nai, của các nhà thơ, nhà văn, chủ yếu là phê bình cảm tính theo phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Có thể kể đến Đặng Minh Hân, Phan Nam Sinh, Bùi Quang Tú, Bùi Quang Huy,...Tuy vậy, Hội Văn Nghệ Đồng Nai tổ chức được Hội đồng thẩm định tác phẩm, đánh giá được các tác phẩm trong các trại sáng tác. Chẳng hạn trại sáng tác đề tài học tập gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh, trại Tam Nông, trại Nhà Giáo-Nhà trường...
Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 5 năm 2007-2012 ghi nhận: “Ban Văn Học có 72 hội viên, trong đó có 8 hội viên Hội Nhà Văn Việt nam. Ban có 38 hội viên thơ, 32 hội viên văn xuôi và 02 hội viên nghiên cứu lý luận phê bình”. Về hoạt động lý luận phê bình, báo cáo đánh giá :”Hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình đã có dấu hiệu tích cực, thể hiện qua một số công trình sách, tác phẩm của các hội viên được công bố, trong đó 02 tác phẩm sách được giải thưởng của Uỷ Ban Toàn Quốc Liên Hiệp các Hội VHNT Việt Nam”
Nhìn ở góc độ phê bình, văn chương Đồng Nai không mắc phải những sai lầm như nhận định chung của NQ TW5 về tình hình sáng tác văn học nghệ thuật những năm qua. Không có khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, không đối lập văn nghệ với chính trị. Cũng không có xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém của thị trường, không có văn chương sex hay văn chương suy đồi.
Văn chương Đồng Nai sâu nặng tình quê hương, tình đồng đội, nghĩa tình cách mạng. Các tác giả đều viết với ý thức sâu sắc trách nhiệm công, trách nhiệm nhà văn phục vụ sự nghiệp cách mạng. Tác phẩm giàu tinh thần nhân văn và dân chủ. Mỗi tác giả đều nỗ lực vượt lên chính mình trong sáng tạo nghệ thuật. Xin đọc:
Tuyển tập Theo Sóng Đồng Nai, Nxb Đồng Nai 2000. Tuyển Tập thơ Đồng Nai 30 Năm. Nxb Tổng Hợp Đồng Nai 2005. Trầm Tích Chiến Khu D, Nxb HNV 2006. Nhà thơ Lê Thanh Xuân :Tiếng Ru Đêm- NxbVăn Học 2001 ; Đồng Hành – Nxb. HNV 2001; Hồn Đá- Nxb. HNV. 2007. Trần Ngọc Tuấn, tập Suối Reo. Nxb HNV 2006. Đỗ Minh Dương, tập Với Miền Đất Đỏ.Nxb HNV 2007. Xuân Bảo, Âm Vang Một Dòng Sông, Tôi Đi Nhặt Bụi Vàng, tuỳ bút-thơ. Nxb Hội Nhà Văn-2008. .. Nguyễn Đức Phước, tập thơ Đêm Khát. Nxb HNV 2008. Đàm Chu Văn : Hai Phía Thời Gian. Nxb HNV,2009. Đào Trọng Thử : Trốn, Nxb Hội Nhà Văn 2011. Hoàng Đình Nguyễn, tập thơ Tự Tình. Nxb Hội Nhà Văn 2011. Nguyễn Hoài Nhơn, tập thơ Hồi Quang, Nxb Hội Nhà Văn 2012..;
Đặng Minh Hân,Văn thơ Đồng Nai, đôi điều cảm nhận. 2007, Chất anh hùng của người Đồng Nai. Khôi Vũ, Vỡ dần trong mắt (2009), Phù phiếm bên biển, 2010. Đàn ống tre bên kia sông, Nxb Đồng Nai 2013. Lê Đăng Kháng, Người lính hát đơn ca.2007, Sương sớm Nxb Quân đội nhân dân 2011. Trần Thu Hằng , Đàn Đáy, Rừng thiêng vẫy gọi. 2007, Người đàn bà lưu vong 2008. Nguyễn Một, Dòng sông độ lượng, 2007, Đất trời vần vũ, 2009. Hoàng Ngọc Điệp, Chú cún đeo Lục Lạc, 2007. Bùi Quang Tú, Viên phấn và cây viết 2012. Bùi Quang Huy, Huỳnh Văn Nghệ như là giấc mơ, Văn Học Đồng Nai lịch sử & diện mạo. Nxb Đồng Nai 2011, Bùi Công Thuấn, Chút tình tri âm (2009), Những dòng sông vẫn chảy, Nxb Hội Nhà Văn 2011...Nguyễn Quốc Hoàn, Một hình ảnh giàu lòng yêu nước. Trần Thúc Hà, Người đi mở cõi, Người Trầm Lặng, Nxb Quân Đội Nhân Dân 2011. Tấn Hoài, Viên gạch lạ, Hoa Quý Lan...
Bản thân tôi khi biết phê bình (Chút Tình Tri Âm 2009, giải Trịnh Hoài Đức lần III và Những Giòng Sông Vẫn Chảy 2011, Giải VHNT 2011 của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam) đều dựa vào Nghị Quyết TW5 và nghị quyết 23 làm chuẩn mực để đánh giá tác phẩm. Cả hai nghị quyết đều đã mở rộng biên độ về phương pháp cho nhà phê bình. Đảng đã định hướng :” “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.”, nhờ thế tôi vận dụng nhiều phương pháp phê bình để tiếp cận tác phẩm. Với tác phẩm viết bằng bút pháp Hiện thực, phương pháp phê bình Tiểu sử và phê bình Marxist có ưu thế khám phá ý nghĩa xã hội của tác phẩm. Phương pháp Cấu trúc và Giải Cấu trúc, hoặc Phân Tâm Học giúp đi sâu vào ý thức sáng tạo. Thi Pháp và Phong Cách học giúp khám phá cá tính sáng tạo của nhà văn.
Khi đọc các tác phẩm của các tác giả trong Hội VHNT Đồng Nai, tôi chú ý đến “sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng” và trách nhiệm của Các hội văn học, nghệ thuật. Đó là trách nhiệm “làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết, phát huy tính chủ động, tích cực xã hội và tài năng sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ”. Bởi Hội Văn Học Nghệ Thuật “ là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước...” Tôi nhận thấy có một dòng văn thơ cách mạng Đồng Nai chảy liên tực từ Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, đến các tác giả Đồng Nai hiện nay, phản ánh được nhiều mặt đời sống của nhân dân Đồng Nai, làm giàu đẹp thêm văn hoá Đồng Nai trên con đường công nghiệp hoá.
Nỗ lực sáng tạo để có những tác phẩm tương xứng với tầm vóc sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đồng Nai vẫn là trách nhiệm chưa hoàn thành của văn nghệ Đồng Nai. Dù vậy, chúng ta có quyền hy vọng bởi văn nghệ Đồng Nai đã có truyền thống và đang dồi dào tiềm lực.
Tháng 4.2013
________________________________________________
[1] V. Lenin- Tổ chức Đảng và văn học Đảng. NXB Sự Thật Hànội 1957. Tr. 13.
[2] Hà Huy Giáp - Hồ Chủ Tịch với một vài vấn đề văn hoá văn nghệ .Nxb Sự Thật 1978.Tr74
[3] Trường Chinh - Chủ Nghĩa Mác và Văn Hoá Việt Nam. 1948
[4] Nguyễn Minh Tâm- Thi Vân Yên Tử được sao chép từ đâu?
[5] Thông báo của Thường vụ Hội Nhà Văn Việt Nam-http://vanvn.net/news/1/2372-thong-bao-cua-thuong-vu-hoi-nha-van-viet-nam.html
(*) THAM LUẬN TẠI HỘI NGHỊ TỔNG KẾT 15 NĂM THỰC HIỆN NQTW5 TẠI HỘI VHNT ĐỒNG NAI NGÀY 26.04.2013
Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
Ý NGHĨA THẬT SỰ CỦA GIÁC QUAN-Mattie
Ý NGHĨA THẬT SỰ CỦA GIÁC QUAN- Mattie
Mắt sinh ra để nhìn,
nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Tai sinh ra để nghe,
nhưng tim cũng để nghe.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn,
nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Tay sinh ra để sờ,
nhưng tay cũng sinh ra để ôm
và vuốt ve dịu dàng.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm,
nhưng cũng để nói những từ như
“Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
(Mattie 4-1995)
“Mattie” tên thật là Matthew J.T.Stepanek, sinh năm 1990, ở bang Maryland (Mỹ). Gia đình Mattie có nhiều người chết vì bệnh hiểm nghèo. Cậu may mắn được sống, nhưng luôn phải thở bằng ống ô xy (nối qua cổ). Mattie bắt đầu sáng tác thơ và truyện ngắn từ năm 3 tuổi. Cuốn “Khúc hát trái tim” (Heart Songs) phát hành năm 2001 làm Mattie trở thành một thiếu niên nổi tiếng ở nước Mỹ, một “thần đồng” thơ. Năm 2001 cậu là đại sứ thiện chí của bang Maryland. Năm 2002, trở thành Đại sứ thiện chí toàn Liên bang. Mattie thể hiện trí tuệ vượt trội khi mới 7 tuổi đã viết bài thơ: “Cốc nước triết học” mang tư tưởng phương Đông. Mattie mất ngày 22/6/2004 khi chưa tròn 14 tuổi
Bài thơ Ý nghĩa thật sự của giác quan là suy tư cuả Mattie về thân xác. Suy tư và biện luận để tìm ra ý nghĩa chân lý của vấn đề, về giá trị thực của các giác quan cuả con người. Thân xác là căn nguyên của nhiều vấn đề suy tư triết học. Con người tồn tại bằng thân xác, nhưng thân xác chỉ thực sự sống khi các giác quan của nó sống. Triết lý về dục tính và con đường diệt dục của Phật giáo, trước hết tập trung vào ngũ uẩn, tức là thân xác. Diệt dục là tiêu diệt những ham muốn của thân xác do giác quan sinh ra. Với Mattie, mỗi giác quan đều có chức năng vật chất cuả nó, nhưng không chỉ có thế, mà còn có chức năng tinh thần
Mắt sinh ra để nhìn, nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Mắt sinh ra để nhìn, đó là chức năng vật lý. Nhưng mắt còn biết khóc khi ta quá buồn và quá vui. Vì thế Mắt là cưả sổ cuả tâm hồn, bộc lộ những cảm xúc (khóc, cười ) những tâm trạng ( buồn, vui). Mắt có ngôn ngữ kiểu “vô ngôn”. Chỉ một ánh nhìn, ta có thể hiểu người đối diện đang nghĩ gì, đang có tâm trạng gì. Đôi mắt vô cảm là đôi mắt của một tâm hồn chết. Khi mắt đã không còn biết khóc, biết cười, thì đôi mắt ấy hoang dã biết bao.
Tai sinh ra để nghe, nhưng tim cũng để nghe.
Tai sinh ra để nghe, đó là chức năng vật lý. Tai nghe được những sóng âm thanh có tần số trung bình ( sóng vật lý). Nhưng tai không thể nghe tiếng nói tâm hồn. Chỉ có Tim mới nghe được tiếng nói từ trái tim. Đây là một khám phái mới lạ của Mattie, bởi xưa nay tim biết đập, tim là sự sống, tim bộc lộ xúc động. Mattie khám phá ra tim còn có một chức năng khác nữa là biết nghe tiếng nói tâm hồn, điều mà tai (vật lý) không thể nhận ra. Thực ra người ta có thể nghe tiếng nói từ trái tim, và rất cần nghe tiếng nói chân thành ấy, khác với tiếng nói nghe bằng tai, đa phần là giả dối.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, đó hoàn toàn là chức năng khứu giác, giúp ta cảm nhận những mùi của sự vật bởi vì mùi cũng có cấu trúc hoá chất. Nhờ mũi con người nhận ra hương thơm của thức ăn, của hoa trái, nhận ra hương vị của thế giới vật chất xung quang, kể cải thế giới của sự chết phân rã hôi thối. Nhưng con người còn có thể ngửi được những cái vô hình , như gió, như sắc màu cuả bướm. Mattie nhấn mạnh đến khả năng cảm nhận những cái vô hình của giác quan con người.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Tay sinh ra để sờ, để tìm biết nhận thức sự vật (xúc giác). Nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng. Tay hành động vì người khác, đem đến hạnh phúc cho người khác. Tay thể hiện tình yêu thương, sự chăm sóc, giữ gìn, nâng niu với tha nhân. Mattie đặc biệt chú ý đến những giá trị tinh thần mà xúc giác đem lại, và cần đem lại cho tha nhân
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm, nhưng cũng để nói những từ như “Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm (vị giác ), lưỡi giúp ta nhận ra vị cuả sự vật, thưởng thức món ngon. Nhưng lưỡi cũng là bộ máy phát ngôn. Miệng lưỡi con người đã nói đủ điều xấu xa. Mattie đặc biệt nhấn mạnh vào giá trị tinh thần của ngôn ngữ, của hành vi ngôn ngữ. Con người cần dùng lưỡi để nói những lời yêu thương, lời cảm tạ Thiên Chuá, không phải dùng miệng lưỡi để giết người.
Matiie đã liệt kê chức năng của các giác quan con người, và từ chức năng vật lý của giác quan. Mattie đề xuất những thái độ, những cách sống, những cách ứng xử của con người thông qua giác quan. Mattie không nói đến việc con người dùng giác quan để hưởng thụ, không khai thác cái khoái cảm nhục thể do giác quan đem lại, mà chú ý đến việc sử dụng giác quan hướng về tha nhân, hướng ra bên ngoài cái tôi. Mattie đã nâng giác quan vật chất lên những giá trị tinh thần, hướng thiện, hướng lên trên.
Cần chú ý đến cấu trúc tương phản cuả lập luận, và kiểu ngôn ngữ suy nghiệm bằng hình ảnh. Câu thơ có nghĩa tường minh như nó tự nhiên là vậy, thật dễ hiểu. Nhưng thực ra, “ý ở ngoài lời” của câu thơ mới là điều Mattie muốn chia sẻ với người đọc. Chất “thơ” chính là vẻ đẹp của tư tưởng tình cảm nằm ở ngoài lời rung lên trong tâm tưởng bạn đọc. Mỗi câu thơ đều có hai vế, tương phản với nhau bằng từ “ nhưng”. Cấu trúc trùng điệp này giúp người đọc hiểu rằng Mattie nhấn mạnh đến vế đứng sau. Vì vế đứng sau có ý nghiã quan trọng hơn vế đứng trước. Những chức năng vật chất cuả giác quan thì quan trong vì nó giúp ta nhận thức thế giới vật chất, nhưng chức năng nhận thức tinh thần (vế đứng sau) còn quan trọng hơn bởi nó biểu đạt tâm hồn, biểu đạt chất nhân văn, hơn hẳn tính bản năng sinh vật.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Con người cần phải biết bày tỏ buồn vui tâm hồn, biết lắng nghe bằng con tim mình tiếng kêu thương cuả đồng loại, phải biết cảm nhận cả những hương thơm thanh sắc vô hình, phải biết đón nhận an ủi chăm sóc nâng niu những yêu thương, và nhất là phải biết cảm tạ ơn Chuá, vì tất cả những gì chúng ta có là do Chuá ban cho. Hành trình tư tưởng của Mattie là hành trình khám phá thân xác con người từ bản năng giác quan, đến sự khám phá ra điều được mạc khải là nhận biết về Thiên Chúa, đấng sáng tạo nên thân xác và ban cho thân xác những giác quan, để vừa nhận biết, vừa cảm thụ, và biết thăng hoa trở về với Thiên Chúa.
Tư tưởng ấy khác hẳn với chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc vô luân, chủ nghĩa thế tục hôm nay. Con người chỉ tìm kiếm những thoả mãn giác quan xác thịt, mắt tìm cái tươi mát, tai nghe những lời dịu êm, mũi, lưỡi tìm ăn những món ngon vật lạ, tay tìm kiếm những vuốt ve khoái lạc. Nó vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân, trái tim không biết nghe lời chia sẻ. Cánh tay không biết ôm giữ bảo vệ sự sống, miệng lưỡi không biết nói lời yêu thương an ủi. Nói cách khác, con người hoàn toàn sống bản năng tìm sự thoả mãn những lạc thú vật chất, lấy hưởng thụ vật chất làm cứu cánh cuộc đời, vì thế nó ngày càng tha hoá, tội lỗi ngày càng phủ lấp nhân loại.
Mattie đã thức tỉnh con người về những giá trị thật sự cuả giác quan, của thân xác. Giá trị ấy là, bằng giác quan, con người phải vượt lên trên bản năng mà vươn tới yêu thương, phải vươn tới Thiên Chuá.
Bùi Công Thuấn
Mắt sinh ra để nhìn,
nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Tai sinh ra để nghe,
nhưng tim cũng để nghe.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn,
nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Tay sinh ra để sờ,
nhưng tay cũng sinh ra để ôm
và vuốt ve dịu dàng.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm,
nhưng cũng để nói những từ như
“Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
(Mattie 4-1995)
“Mattie” tên thật là Matthew J.T.Stepanek, sinh năm 1990, ở bang Maryland (Mỹ). Gia đình Mattie có nhiều người chết vì bệnh hiểm nghèo. Cậu may mắn được sống, nhưng luôn phải thở bằng ống ô xy (nối qua cổ). Mattie bắt đầu sáng tác thơ và truyện ngắn từ năm 3 tuổi. Cuốn “Khúc hát trái tim” (Heart Songs) phát hành năm 2001 làm Mattie trở thành một thiếu niên nổi tiếng ở nước Mỹ, một “thần đồng” thơ. Năm 2001 cậu là đại sứ thiện chí của bang Maryland. Năm 2002, trở thành Đại sứ thiện chí toàn Liên bang. Mattie thể hiện trí tuệ vượt trội khi mới 7 tuổi đã viết bài thơ: “Cốc nước triết học” mang tư tưởng phương Đông. Mattie mất ngày 22/6/2004 khi chưa tròn 14 tuổi
Bài thơ Ý nghĩa thật sự của giác quan là suy tư cuả Mattie về thân xác. Suy tư và biện luận để tìm ra ý nghĩa chân lý của vấn đề, về giá trị thực của các giác quan cuả con người. Thân xác là căn nguyên của nhiều vấn đề suy tư triết học. Con người tồn tại bằng thân xác, nhưng thân xác chỉ thực sự sống khi các giác quan của nó sống. Triết lý về dục tính và con đường diệt dục của Phật giáo, trước hết tập trung vào ngũ uẩn, tức là thân xác. Diệt dục là tiêu diệt những ham muốn của thân xác do giác quan sinh ra. Với Mattie, mỗi giác quan đều có chức năng vật chất cuả nó, nhưng không chỉ có thế, mà còn có chức năng tinh thần
Mắt sinh ra để nhìn, nhưng mắt cũng sinh ra để khóc
khi ta quá buồn và những lúc quá vui.
Mắt sinh ra để nhìn, đó là chức năng vật lý. Nhưng mắt còn biết khóc khi ta quá buồn và quá vui. Vì thế Mắt là cưả sổ cuả tâm hồn, bộc lộ những cảm xúc (khóc, cười ) những tâm trạng ( buồn, vui). Mắt có ngôn ngữ kiểu “vô ngôn”. Chỉ một ánh nhìn, ta có thể hiểu người đối diện đang nghĩ gì, đang có tâm trạng gì. Đôi mắt vô cảm là đôi mắt của một tâm hồn chết. Khi mắt đã không còn biết khóc, biết cười, thì đôi mắt ấy hoang dã biết bao.
Tai sinh ra để nghe, nhưng tim cũng để nghe.
Tai sinh ra để nghe, đó là chức năng vật lý. Tai nghe được những sóng âm thanh có tần số trung bình ( sóng vật lý). Nhưng tai không thể nghe tiếng nói tâm hồn. Chỉ có Tim mới nghe được tiếng nói từ trái tim. Đây là một khám phái mới lạ của Mattie, bởi xưa nay tim biết đập, tim là sự sống, tim bộc lộ xúc động. Mattie khám phá ra tim còn có một chức năng khác nữa là biết nghe tiếng nói tâm hồn, điều mà tai (vật lý) không thể nhận ra. Thực ra người ta có thể nghe tiếng nói từ trái tim, và rất cần nghe tiếng nói chân thành ấy, khác với tiếng nói nghe bằng tai, đa phần là giả dối.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, nhưng còn ngửi được gió, cỏ
và nếu ta ráng hết sức mình - cả bướm nữa.
Mũi sinh ra để ngửi thức ăn, đó hoàn toàn là chức năng khứu giác, giúp ta cảm nhận những mùi của sự vật bởi vì mùi cũng có cấu trúc hoá chất. Nhờ mũi con người nhận ra hương thơm của thức ăn, của hoa trái, nhận ra hương vị của thế giới vật chất xung quang, kể cải thế giới của sự chết phân rã hôi thối. Nhưng con người còn có thể ngửi được những cái vô hình , như gió, như sắc màu cuả bướm. Mattie nhấn mạnh đến khả năng cảm nhận những cái vô hình của giác quan con người.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Tay sinh ra để sờ, để tìm biết nhận thức sự vật (xúc giác). Nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng. Tay hành động vì người khác, đem đến hạnh phúc cho người khác. Tay thể hiện tình yêu thương, sự chăm sóc, giữ gìn, nâng niu với tha nhân. Mattie đặc biệt chú ý đến những giá trị tinh thần mà xúc giác đem lại, và cần đem lại cho tha nhân
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm, nhưng cũng để nói những từ như “Yêu mẹ, yêu cha” và
“Tạ ơn Chúa vì tất cả những gì Người đã ban cho!”.
Lưỡi và miệng sinh ra để nếm (vị giác ), lưỡi giúp ta nhận ra vị cuả sự vật, thưởng thức món ngon. Nhưng lưỡi cũng là bộ máy phát ngôn. Miệng lưỡi con người đã nói đủ điều xấu xa. Mattie đặc biệt nhấn mạnh vào giá trị tinh thần của ngôn ngữ, của hành vi ngôn ngữ. Con người cần dùng lưỡi để nói những lời yêu thương, lời cảm tạ Thiên Chuá, không phải dùng miệng lưỡi để giết người.
Matiie đã liệt kê chức năng của các giác quan con người, và từ chức năng vật lý của giác quan. Mattie đề xuất những thái độ, những cách sống, những cách ứng xử của con người thông qua giác quan. Mattie không nói đến việc con người dùng giác quan để hưởng thụ, không khai thác cái khoái cảm nhục thể do giác quan đem lại, mà chú ý đến việc sử dụng giác quan hướng về tha nhân, hướng ra bên ngoài cái tôi. Mattie đã nâng giác quan vật chất lên những giá trị tinh thần, hướng thiện, hướng lên trên.
Cần chú ý đến cấu trúc tương phản cuả lập luận, và kiểu ngôn ngữ suy nghiệm bằng hình ảnh. Câu thơ có nghĩa tường minh như nó tự nhiên là vậy, thật dễ hiểu. Nhưng thực ra, “ý ở ngoài lời” của câu thơ mới là điều Mattie muốn chia sẻ với người đọc. Chất “thơ” chính là vẻ đẹp của tư tưởng tình cảm nằm ở ngoài lời rung lên trong tâm tưởng bạn đọc. Mỗi câu thơ đều có hai vế, tương phản với nhau bằng từ “ nhưng”. Cấu trúc trùng điệp này giúp người đọc hiểu rằng Mattie nhấn mạnh đến vế đứng sau. Vì vế đứng sau có ý nghiã quan trọng hơn vế đứng trước. Những chức năng vật chất cuả giác quan thì quan trong vì nó giúp ta nhận thức thế giới vật chất, nhưng chức năng nhận thức tinh thần (vế đứng sau) còn quan trọng hơn bởi nó biểu đạt tâm hồn, biểu đạt chất nhân văn, hơn hẳn tính bản năng sinh vật.
Tay sinh ra để sờ, nhưng tay cũng sinh ra để ôm và vuốt ve dịu dàng.
Con người cần phải biết bày tỏ buồn vui tâm hồn, biết lắng nghe bằng con tim mình tiếng kêu thương cuả đồng loại, phải biết cảm nhận cả những hương thơm thanh sắc vô hình, phải biết đón nhận an ủi chăm sóc nâng niu những yêu thương, và nhất là phải biết cảm tạ ơn Chuá, vì tất cả những gì chúng ta có là do Chuá ban cho. Hành trình tư tưởng của Mattie là hành trình khám phá thân xác con người từ bản năng giác quan, đến sự khám phá ra điều được mạc khải là nhận biết về Thiên Chúa, đấng sáng tạo nên thân xác và ban cho thân xác những giác quan, để vừa nhận biết, vừa cảm thụ, và biết thăng hoa trở về với Thiên Chúa.
Tư tưởng ấy khác hẳn với chủ nghĩa hưởng thụ khoái lạc vô luân, chủ nghĩa thế tục hôm nay. Con người chỉ tìm kiếm những thoả mãn giác quan xác thịt, mắt tìm cái tươi mát, tai nghe những lời dịu êm, mũi, lưỡi tìm ăn những món ngon vật lạ, tay tìm kiếm những vuốt ve khoái lạc. Nó vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân, trái tim không biết nghe lời chia sẻ. Cánh tay không biết ôm giữ bảo vệ sự sống, miệng lưỡi không biết nói lời yêu thương an ủi. Nói cách khác, con người hoàn toàn sống bản năng tìm sự thoả mãn những lạc thú vật chất, lấy hưởng thụ vật chất làm cứu cánh cuộc đời, vì thế nó ngày càng tha hoá, tội lỗi ngày càng phủ lấp nhân loại.
Mattie đã thức tỉnh con người về những giá trị thật sự cuả giác quan, của thân xác. Giá trị ấy là, bằng giác quan, con người phải vượt lên trên bản năng mà vươn tới yêu thương, phải vươn tới Thiên Chuá.
Bùi Công Thuấn
NHỮNG CỬA CHỚP-L.Aragon
Những cửa chớp- L.Aragon
"Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp?"

1.Emai của một bạn đọc:
Theo kiến trúc Phương Tây, cửa sổ có hai lớp : “ Kính” và “ Chớp” . Cửa chớp gồm nhiều thanh xếp nghiêng để che ánh sáng nhưng thông gió. Nhìn qua cửa chớp ta không thấy bên ngoài song không khí vẫn lưu thông. Hẳn là ngồi trong nhà sẽ không thể chết ngạt vì thiếu khí nhưng cũng không biết ngoài kia điều gì đang xẩy ra với trời đất , với con người . Hẳn là người trong trạng huống ấy cảm nhận được sự tù túng , bức bách đến nhường nào !
Bài thơ “ Những cửa chớp” của Aragon gồm sáu dòng với mười tám từ cửa chớp. Thế thôi ! Mới đọc thấy nhàm. đọc nhiều lần thấy có lý ! Đọc thêm nữa thì cái cảm giác “ Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! Thật tuyệt vời, một bài thơ chưa từng thấy về sự độc đáo !
2. Louis Aragon (1897–1982) là nhà sử học, nhà thơ và nhà văn người Pháp nổi tiếng thế giới, từng là một thành viên của viện Goncourt. Ông sinh và mất ở Paris. Ông cũng là người chiến sĩ dâng hiến trái tim chân thành cho tự do, hòa bình của nhân loại. Ông từng nhập ngũ trong thế chiến I và thế chiến II. 1927 ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Hành trình nghệ thuật của ông khởi đi từ “chủ nghĩa đa đa”, “chủ nghĩa siêu thực”, chuyển sang “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”và tìm kiếm những cách viết khác. Ông mất ngày 24-12-1982 tại Paris.
Ông có một “Vườn thơ Elsa” ngợi ca lý tưởng, Tổ quốc và nhân dân. Thơ Aragon không có các loại dấu chấm câu, và cách ngắt dòng rất linh hoạt, tự do, không theo khuôn phép nào cả. Ông muốn xóa khoảng cách giữa thơ và văn xuôi, thích viết dài để bộc lộ hết xúc cảm trào tuôn
(http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=503)
3. Bài thơ Những Cửa Chớp được L.Aragon viết bằng bút pháp gì?
Bài thơ chỉ có một chữ “cửa chớp”, được lặp lại và xếp thành 6 hàng ngang, mỗi hàng có số chữ khác nhau, điều này buộc người đọc phải chú ý đến cấu trúc của bài thơ.
“Cửa chớp” là một danh từ, gọi tên một sự vật, bên cạnh từ cửa chớp không có một tính từ miêu tả nào. Chữ cửa chớp cũng không được đặt trong một câu có cấu trúc ngữ pháp cố định để giúp người đọc định vị sự vật đang vận động thế nào, ở đâu. Nói các khác, “bài thơ” không tả cửa chớp, cũng không cho biết cửa chớp ở đâu và được dùng làm gì, không biết tác giả nói đến cửa chớp trong không gian thời gian nào, và tác giả đứng ở vị trí nào để quan sát hay tưởng nghĩ hình dung ra. Bản thân chữ “cửa chớp” không chứa đựng bất cứ hàm nghĩa nào, ngoài nghĩa tường minh, nghĩa thông tin sự vật : chữ “cửa chớp” là tiếng gọi tên sự vật, là một loại cửa sổ, khác với cửa ra vào, cửa buồng, cửa chính. Sau chữ cửa chớp ở hàng dưới cùng, có một dấu hỏi, có thể có nghĩa là, sau khi quan sát rất nhiều cửa chớp, tác giả hỏi, không biết đâu là cửa chớp tác giả muốn tìm trong những cửa chớp ấy (?)
Và vì thế, không thể xác định “bút pháp” của bài thơ. Chắc chắn đây không phải là bài thơ Siêu Thực với những hình ảnh hoang tưởng phi logic, không phải chủ nghĩa Lập Thể phá vỡ cấu trúc sự vật, cũng không là chủ nghĩa Lãng Mạn với cái tôi cá nhân và tình cảm chảy tràn. Cũng không là chủ nghĩa Hiện Thực, miêu tả cái điển hình trong hoàn cảnh điển hình, càng không là chủ nghĩa Hiện Thực XHCN, miêu tả hiện thực cách mạng kết hợp với lãng mạn cách mạng. Aragon đã đi xa hơn những kiểu bút pháp ấy, ông đặt người đọc đối diện với một vật thể duy nhất là cửa chớp và buộc người đọc phải tư duy về chính cái “cửa chớp” hiện diện siêu hình, vô cảm trước mặt.
Người đọc nhìn thẳng vào những cái cửa chớp mà khám phá và suy tư, bài thơ trở thành một tác phẩm thị giác, tức là đọc bằng mắt (tất nhiên bài thơ nào chẳng đọc bằng mắt), như kiểu xem một bức tranh, một tác phẩm điêu khắc...căn cứ vào các mối quan hệ của cấu trúc, ta có thể lần ra toàn thể cấu trúc. Cửa chớp là cửa số, tức là cửa gắn trên tường của một toà nhà. Một căn nhà thường có nhiều cửa số (có thể thuộc loại cửa chớp, hay cửa đóng bằng cánh). Cửa mở ra để lấy ánh sáng và không khí, và có thể hắt ánh sáng từ trong nhà ra khi các cửa chính đã đóng kín. Nhìn vào cấu trúc bài thơ, ta hình dung ra, có một toà nhà (không nhìn thấy trước mắt ta), có lẽ bị bóng đêm che lấp.
“Bài thơ” có 6 hàng cửa chớp, tức là toà nhà có 6 tầng. Mỗi hàng có nhiều cửa chớp, tức là có nhiều phòng. Mỗi phòng có một cửa, hoặc hai cửa, không thể một phòng có 3 hoặc 4 cửa sổ. Như vậy cấu trúc bài thơ là một “tứ” : trước mặt người đọc là một toà nhà nhiều tầng, có nhiều phòng, nhiều cửa chớp. Thời gian là ban đêm, căn nhà hoàn toàn chìm trong bóng tối, chỉ nhìn thấy cửa chớp nhờ ánh sáng hắt ra. Có dãy còn sáng đủ các phòng (nhiều cửa chớp), có dãy chỉ còn một phòng sáng (hàng cuối, một chữ cửa chớp). Điều này giải thích tại sao số chữ “cửa chớp” trong mỗi dòng khác nhau. Và ta hình dung ra, có một người đứng trong bóng tối nhìn lên căn nhà, miệng đếm số cửa chớp từ trên cao xuống. Tầng dưới cùng chỉ còn một phòng sáng đèn, những phòng khác đã tắt đèn.
4. Ý nghĩa “bài thơ” là gì ?
Tôi dùng chữ “bài thơ” trong ngoặc kép bởi vì so với thơ truyền thống, bài này hoàn toàn khác về thi pháp. Thơ truyền thống có bố cục, có cấu trúc, sự vật được đặt trong thời gian, không gian nhất định, có câu chuyện được kể, có nhân vật sự vật được miêu tả. Nhân vật có tâm trạng, có vấn đề,...về hình thức, thơ truyền thống có nhạc, có vần, có tứ thơ. Bài Những cửa chớp hoàn toàn không có yếu tố “thơ” truyền thống nào, ngoài cách viết thành nhiều dòng. Nó giống như trò chơi xếp chữ, trò chơi đố chữ, mặc cho người đọc ra sức đoán nghĩa. Tác giả không bắt người đọc phải nghĩ theo tác giả, mà nghĩa bài thơ tuỳ thuộc vào cách đọc và những gì người đọc có thể tưởng tượng, liên tưởng ra.
Tất nhiên đọc thơ, đầu tiên, người đọc phải tái hiện hình ảnh, khám phá hình tượng, khám phá tứ thơ. Mọi điều tác giả muốn nói đều được gói ẩn mật bên trong tứ thơ. Vậy tứ thơ –hình tượng thẩm mỹ tư tưởng (nếu có) của bài này là gì? Có chăng do liên tưởng, đó là một toà nhà trong đêm, bóng đêm che khuất tất cả, chỉ còn thấy những hàng cửa chớp (do ánh sáng từ trong hắt ra), nhìn từ trên xuống, tầng trệt chỉ có một phòng còn sáng. Tác giả đứng nhìn toà nhà ấy, chỉ chú ý vào các cửa chớp, nhìn từ trên xuống, có ý tìm kiếm, không biết là cửa chớp nào. Người đọc cũng không rõ tác giả là ai, tìm ai hay tìm cái gì trên các phòng có cửa chớp, còn sáng, hay tìm phòng mà cửa chớp đã tắt đèn, không biết là phòng nào (cửa chớp ?). Bạn đọc ở trên cho rằng bài thơ tạo ra cảm giác ” Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! “Tôi không nghĩ như vậy, vì nếu bạn chỉ ngồi trong một phòng nhìn ra, bạn chỉ thấy nhiều nhất là hai cửa sổ (loại cửa chớ) sao thấy được 6 tầng cửa chớp với 18 cửa chớp như cấu trúc của bài thơ. Cấu trúc bài thơ chỉ ra rằng, người đọc chỉ có thể đứng ngoài toà nhà, đứng dưới nhìn lên, và vì thế không hề có cảm giác “bị cầm tù” mà “tức anh ách”
Vì không có nhân vật trữ tình (chủ thể của hành động thơ), cũng không có một hình tượng thẩm mỹ-tư tưởng (hình ảnh chứa đựng cái đẹp, chứa đựng tư tưởng tình cảm), không có cấu trúc (không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật) nên bài thơ hoàn toàn không có nghĩa tự thân. Nghĩa nếu có là nghĩa do người đọc cảm nhận từ cấu trúc hình ảnh của “bài thơ”. Là như thế này. Một người bàng quan qua đường ban đêm có thể sẽ chẳng quan tâm gì đến toà nhà với những cửa chớp như thế, vì nó không liên can gì với anh ta. Nhưng nếu là chàng Roméo đứng nhìn lên, chàng sẽ rất mong nàng Juliette ở một khung cửa sổ nào đó. Một người vô gia cư nhìn lên, chắc sẽ ao ước có được một căn phòng có cửa chớp ấy. Và nếu là một ông già, phải lên đến tầng 6, trong tình trạng đau khớp, nhìn những khung cửa chớp ấy sẽ rất ngán ngẩm. Và bạn, người đọc, có thể nghĩ ra bất cứ điều gì tuỳ theo tâm trạng của bạn khi đứng trước những khung cửa chớp trong đêm. Đêm nay nghĩ thế này, đêm mai nghĩ khác, không có một nghĩa cố định.
5. Giá trị của bài thơ này là gì?
Bài thơ không có nội dung nên không có giá trị nội dung. Giá trị hình thức nếu có, thì đó là sự thử nghiệm một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu sáng tác mới lạ, khác hẳng với tư duy nghệ thuật và thi pháp truyền thống (như đã trình bày ở trên). Tiếp cận lần đầu với “bài thơ”, người đọc thấy lạ, vì bài thơ chỉ có một chữ, lạ ở chỗ không hiểu bài thơ nói gì, vì xưa nay tác giả luôn gửi thông điệp trong tác phẩm, luôn đặt vấn đề thông qua nội dung tác phẩm. Lạ ở chỗ không sao đọc được bài thơ như đã quen đọc kiểu bài thơ có cấu trúc, có nội dung, có sự việc, con người trong không gian thời gian nhất định, thơ là tiếng nói tâm trạng, thơ là hình là nhạc, là vần, là tứ. Bài thơ này không đọc theo cách đọc thơ truyền thống như thế. Tác giả trình bày một kiểu tư duy thẩm mỹ mới, một kiểu tác phẩm mới. Nghệ thuật không phải là sự sáng tạo cái đẹp, thơ không phải thơ, đọc thơ không phải đọc bằng trái tim, mà đọc bằng thị giác vô cảm (như một camera của robot). Điều này sẽ làm khó chịu tất cả những ai đã quen với quan điểm nghệ thuật truyền thống. Và vì thế, bài thơ sẽ bị bỏ qua, không đọng lại gì, nó chỉ là chứng tích một thứ trò chơi ngôn ngữ, vậy thôi., dù rằng trò chơi có dụng công. Không sao cả, thưởng thức nghệ thuật là quyền tự do của mỗi người. Và nếu đã gán cho nghệ thuật những chức năng cao cả, những sứ mệnh lịch sử, thì cũng có thể nhận ra nghệ thuật chẳng là gì cả, trò chơi ngôn ngữ, thế thôi.
Tháng 3.2013
"Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp cửa chớp cửa chớp
Cửa chớp?"

1.Emai của một bạn đọc:
Theo kiến trúc Phương Tây, cửa sổ có hai lớp : “ Kính” và “ Chớp” . Cửa chớp gồm nhiều thanh xếp nghiêng để che ánh sáng nhưng thông gió. Nhìn qua cửa chớp ta không thấy bên ngoài song không khí vẫn lưu thông. Hẳn là ngồi trong nhà sẽ không thể chết ngạt vì thiếu khí nhưng cũng không biết ngoài kia điều gì đang xẩy ra với trời đất , với con người . Hẳn là người trong trạng huống ấy cảm nhận được sự tù túng , bức bách đến nhường nào !
Bài thơ “ Những cửa chớp” của Aragon gồm sáu dòng với mười tám từ cửa chớp. Thế thôi ! Mới đọc thấy nhàm. đọc nhiều lần thấy có lý ! Đọc thêm nữa thì cái cảm giác “ Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! Thật tuyệt vời, một bài thơ chưa từng thấy về sự độc đáo !
2. Louis Aragon (1897–1982) là nhà sử học, nhà thơ và nhà văn người Pháp nổi tiếng thế giới, từng là một thành viên của viện Goncourt. Ông sinh và mất ở Paris. Ông cũng là người chiến sĩ dâng hiến trái tim chân thành cho tự do, hòa bình của nhân loại. Ông từng nhập ngũ trong thế chiến I và thế chiến II. 1927 ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Hành trình nghệ thuật của ông khởi đi từ “chủ nghĩa đa đa”, “chủ nghĩa siêu thực”, chuyển sang “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”và tìm kiếm những cách viết khác. Ông mất ngày 24-12-1982 tại Paris.
Ông có một “Vườn thơ Elsa” ngợi ca lý tưởng, Tổ quốc và nhân dân. Thơ Aragon không có các loại dấu chấm câu, và cách ngắt dòng rất linh hoạt, tự do, không theo khuôn phép nào cả. Ông muốn xóa khoảng cách giữa thơ và văn xuôi, thích viết dài để bộc lộ hết xúc cảm trào tuôn
(http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=503)
3. Bài thơ Những Cửa Chớp được L.Aragon viết bằng bút pháp gì?
Bài thơ chỉ có một chữ “cửa chớp”, được lặp lại và xếp thành 6 hàng ngang, mỗi hàng có số chữ khác nhau, điều này buộc người đọc phải chú ý đến cấu trúc của bài thơ.
“Cửa chớp” là một danh từ, gọi tên một sự vật, bên cạnh từ cửa chớp không có một tính từ miêu tả nào. Chữ cửa chớp cũng không được đặt trong một câu có cấu trúc ngữ pháp cố định để giúp người đọc định vị sự vật đang vận động thế nào, ở đâu. Nói các khác, “bài thơ” không tả cửa chớp, cũng không cho biết cửa chớp ở đâu và được dùng làm gì, không biết tác giả nói đến cửa chớp trong không gian thời gian nào, và tác giả đứng ở vị trí nào để quan sát hay tưởng nghĩ hình dung ra. Bản thân chữ “cửa chớp” không chứa đựng bất cứ hàm nghĩa nào, ngoài nghĩa tường minh, nghĩa thông tin sự vật : chữ “cửa chớp” là tiếng gọi tên sự vật, là một loại cửa sổ, khác với cửa ra vào, cửa buồng, cửa chính. Sau chữ cửa chớp ở hàng dưới cùng, có một dấu hỏi, có thể có nghĩa là, sau khi quan sát rất nhiều cửa chớp, tác giả hỏi, không biết đâu là cửa chớp tác giả muốn tìm trong những cửa chớp ấy (?)
Và vì thế, không thể xác định “bút pháp” của bài thơ. Chắc chắn đây không phải là bài thơ Siêu Thực với những hình ảnh hoang tưởng phi logic, không phải chủ nghĩa Lập Thể phá vỡ cấu trúc sự vật, cũng không là chủ nghĩa Lãng Mạn với cái tôi cá nhân và tình cảm chảy tràn. Cũng không là chủ nghĩa Hiện Thực, miêu tả cái điển hình trong hoàn cảnh điển hình, càng không là chủ nghĩa Hiện Thực XHCN, miêu tả hiện thực cách mạng kết hợp với lãng mạn cách mạng. Aragon đã đi xa hơn những kiểu bút pháp ấy, ông đặt người đọc đối diện với một vật thể duy nhất là cửa chớp và buộc người đọc phải tư duy về chính cái “cửa chớp” hiện diện siêu hình, vô cảm trước mặt.
Người đọc nhìn thẳng vào những cái cửa chớp mà khám phá và suy tư, bài thơ trở thành một tác phẩm thị giác, tức là đọc bằng mắt (tất nhiên bài thơ nào chẳng đọc bằng mắt), như kiểu xem một bức tranh, một tác phẩm điêu khắc...căn cứ vào các mối quan hệ của cấu trúc, ta có thể lần ra toàn thể cấu trúc. Cửa chớp là cửa số, tức là cửa gắn trên tường của một toà nhà. Một căn nhà thường có nhiều cửa số (có thể thuộc loại cửa chớp, hay cửa đóng bằng cánh). Cửa mở ra để lấy ánh sáng và không khí, và có thể hắt ánh sáng từ trong nhà ra khi các cửa chính đã đóng kín. Nhìn vào cấu trúc bài thơ, ta hình dung ra, có một toà nhà (không nhìn thấy trước mắt ta), có lẽ bị bóng đêm che lấp.
“Bài thơ” có 6 hàng cửa chớp, tức là toà nhà có 6 tầng. Mỗi hàng có nhiều cửa chớp, tức là có nhiều phòng. Mỗi phòng có một cửa, hoặc hai cửa, không thể một phòng có 3 hoặc 4 cửa sổ. Như vậy cấu trúc bài thơ là một “tứ” : trước mặt người đọc là một toà nhà nhiều tầng, có nhiều phòng, nhiều cửa chớp. Thời gian là ban đêm, căn nhà hoàn toàn chìm trong bóng tối, chỉ nhìn thấy cửa chớp nhờ ánh sáng hắt ra. Có dãy còn sáng đủ các phòng (nhiều cửa chớp), có dãy chỉ còn một phòng sáng (hàng cuối, một chữ cửa chớp). Điều này giải thích tại sao số chữ “cửa chớp” trong mỗi dòng khác nhau. Và ta hình dung ra, có một người đứng trong bóng tối nhìn lên căn nhà, miệng đếm số cửa chớp từ trên cao xuống. Tầng dưới cùng chỉ còn một phòng sáng đèn, những phòng khác đã tắt đèn.
4. Ý nghĩa “bài thơ” là gì ?
Tôi dùng chữ “bài thơ” trong ngoặc kép bởi vì so với thơ truyền thống, bài này hoàn toàn khác về thi pháp. Thơ truyền thống có bố cục, có cấu trúc, sự vật được đặt trong thời gian, không gian nhất định, có câu chuyện được kể, có nhân vật sự vật được miêu tả. Nhân vật có tâm trạng, có vấn đề,...về hình thức, thơ truyền thống có nhạc, có vần, có tứ thơ. Bài Những cửa chớp hoàn toàn không có yếu tố “thơ” truyền thống nào, ngoài cách viết thành nhiều dòng. Nó giống như trò chơi xếp chữ, trò chơi đố chữ, mặc cho người đọc ra sức đoán nghĩa. Tác giả không bắt người đọc phải nghĩ theo tác giả, mà nghĩa bài thơ tuỳ thuộc vào cách đọc và những gì người đọc có thể tưởng tượng, liên tưởng ra.
Tất nhiên đọc thơ, đầu tiên, người đọc phải tái hiện hình ảnh, khám phá hình tượng, khám phá tứ thơ. Mọi điều tác giả muốn nói đều được gói ẩn mật bên trong tứ thơ. Vậy tứ thơ –hình tượng thẩm mỹ tư tưởng (nếu có) của bài này là gì? Có chăng do liên tưởng, đó là một toà nhà trong đêm, bóng đêm che khuất tất cả, chỉ còn thấy những hàng cửa chớp (do ánh sáng từ trong hắt ra), nhìn từ trên xuống, tầng trệt chỉ có một phòng còn sáng. Tác giả đứng nhìn toà nhà ấy, chỉ chú ý vào các cửa chớp, nhìn từ trên xuống, có ý tìm kiếm, không biết là cửa chớp nào. Người đọc cũng không rõ tác giả là ai, tìm ai hay tìm cái gì trên các phòng có cửa chớp, còn sáng, hay tìm phòng mà cửa chớp đã tắt đèn, không biết là phòng nào (cửa chớp ?). Bạn đọc ở trên cho rằng bài thơ tạo ra cảm giác ” Tức anh ách” xuất hiện như một người bị cầm tù, bị bịt mắt, bị cô lập với mọi thứ ! “Tôi không nghĩ như vậy, vì nếu bạn chỉ ngồi trong một phòng nhìn ra, bạn chỉ thấy nhiều nhất là hai cửa sổ (loại cửa chớ) sao thấy được 6 tầng cửa chớp với 18 cửa chớp như cấu trúc của bài thơ. Cấu trúc bài thơ chỉ ra rằng, người đọc chỉ có thể đứng ngoài toà nhà, đứng dưới nhìn lên, và vì thế không hề có cảm giác “bị cầm tù” mà “tức anh ách”
Vì không có nhân vật trữ tình (chủ thể của hành động thơ), cũng không có một hình tượng thẩm mỹ-tư tưởng (hình ảnh chứa đựng cái đẹp, chứa đựng tư tưởng tình cảm), không có cấu trúc (không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật) nên bài thơ hoàn toàn không có nghĩa tự thân. Nghĩa nếu có là nghĩa do người đọc cảm nhận từ cấu trúc hình ảnh của “bài thơ”. Là như thế này. Một người bàng quan qua đường ban đêm có thể sẽ chẳng quan tâm gì đến toà nhà với những cửa chớp như thế, vì nó không liên can gì với anh ta. Nhưng nếu là chàng Roméo đứng nhìn lên, chàng sẽ rất mong nàng Juliette ở một khung cửa sổ nào đó. Một người vô gia cư nhìn lên, chắc sẽ ao ước có được một căn phòng có cửa chớp ấy. Và nếu là một ông già, phải lên đến tầng 6, trong tình trạng đau khớp, nhìn những khung cửa chớp ấy sẽ rất ngán ngẩm. Và bạn, người đọc, có thể nghĩ ra bất cứ điều gì tuỳ theo tâm trạng của bạn khi đứng trước những khung cửa chớp trong đêm. Đêm nay nghĩ thế này, đêm mai nghĩ khác, không có một nghĩa cố định.
5. Giá trị của bài thơ này là gì?
Bài thơ không có nội dung nên không có giá trị nội dung. Giá trị hình thức nếu có, thì đó là sự thử nghiệm một kiểu tư duy nghệ thuật, một kiểu sáng tác mới lạ, khác hẳng với tư duy nghệ thuật và thi pháp truyền thống (như đã trình bày ở trên). Tiếp cận lần đầu với “bài thơ”, người đọc thấy lạ, vì bài thơ chỉ có một chữ, lạ ở chỗ không hiểu bài thơ nói gì, vì xưa nay tác giả luôn gửi thông điệp trong tác phẩm, luôn đặt vấn đề thông qua nội dung tác phẩm. Lạ ở chỗ không sao đọc được bài thơ như đã quen đọc kiểu bài thơ có cấu trúc, có nội dung, có sự việc, con người trong không gian thời gian nhất định, thơ là tiếng nói tâm trạng, thơ là hình là nhạc, là vần, là tứ. Bài thơ này không đọc theo cách đọc thơ truyền thống như thế. Tác giả trình bày một kiểu tư duy thẩm mỹ mới, một kiểu tác phẩm mới. Nghệ thuật không phải là sự sáng tạo cái đẹp, thơ không phải thơ, đọc thơ không phải đọc bằng trái tim, mà đọc bằng thị giác vô cảm (như một camera của robot). Điều này sẽ làm khó chịu tất cả những ai đã quen với quan điểm nghệ thuật truyền thống. Và vì thế, bài thơ sẽ bị bỏ qua, không đọng lại gì, nó chỉ là chứng tích một thứ trò chơi ngôn ngữ, vậy thôi., dù rằng trò chơi có dụng công. Không sao cả, thưởng thức nghệ thuật là quyền tự do của mỗi người. Và nếu đã gán cho nghệ thuật những chức năng cao cả, những sứ mệnh lịch sử, thì cũng có thể nhận ra nghệ thuật chẳng là gì cả, trò chơi ngôn ngữ, thế thôi.
Tháng 3.2013
ĐÀN GHITA CỦA LORCA- Thanh Thảo
ĐÀN GUITAR CỦA LORCA
Bui Công Thuấn

1.Federico García Lorca (5 /6 /1898 – 19 /8 /1936) – nhà thơ, nhà soạn kịch lớn nhất của Tây Ban Nha thế kỉ XX. Ông sinh ở thị trấn Fuente Vaqueros, tỉnh Granada, học và hoạt động nghệ thuật ở thủ đô Madrid. Tháng 8/1936, ông bị bọn dân vệ của Franco chặn bắt rồi xử bắn mà không xét xử. Cái chết của ông vẫn còn nhiều bí ẩn. Lúc sinh thời, ông nói với mọi người ước nguyện của mình
Khi tôi chết,
Hãy chôn tôi với cây đàn ghita
Dưới cát
Khi tôi chết,
Giữa hàng cam
Và cây bạc hà
Khi tôi chết,
Hãy chôn tôi, nếu các anh em mong muốn
Trong chiếc chong chóng
.
Khi tôi chết,
(Lorca Ghi Nhớ (Memento) -Trích trong tập Thơ Federico Garcia Lorca-Đan Tâm dịch)
Đàn Guitar của Lorca là bài thơ của Thanh Thảo được chọn dạy trong chương trình lớp 12. Hệ thống hình ảnh Siêu thực của bài thơ gây khó cho thầy cô và học sinh. Bởi học sinh đã quen học với các tác phẩm viết theo bút pháp Hiện Thực. Việc giải mã bài thơ vẫn còn trong quá trình tìm kiếm những ý nghĩa có thể chấp nhận được, song để nói cho mạch lạc, thuyết phục về bài thơ, còn cần sự đóng góp ý kiến của nhiều bạn đọc.
ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA
(Thanh Thảo)
Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn
Ph.G.Lor-ca
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la-li-la-li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la-li-la-li-la...
Lorca nói với mọi người,”Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”.Tất nhiên là bọn dân vệ Franco chẳng chôn cây đàn nào theo Lorca, chúng vùi xác ông trong mộ huyệt mà chúng bắt ông đào trước đó. Thanh Thảo dẫn lời Lorca để đặt nhan đề cho bài thơ của mình là Đàn Ghita của Lorca, nhưng trong suốt bài thơ, Thanh Thảo chỉ khai thác tiếng đàn ghita. Li-la- li-la –Li-la / tiếng ghi ta nâu/ tiêng ghita lá xanh/; tiếng ghita ròng ròng...Độ vênh thông tin này tạo ra ẩn nghĩa gì?
Đàn ghita mà Lorca đòi được chôn theo không phải là cây đàn Tây Ban Cầm 6 giây, mà chính là nghệ thuật của TBN. Ở Tây Ban Nha, đàn ghita, điệu nhảy Flamenco, và đầu bò tót là những môn nghệ thuật và thể thao mang đặc trưng TBN. Nhà thơ Hoàng Hưng cho biết :” thơ Lorca nổi bật lên xu hướng trở về khai thác dân ca, tìm lại những truyện thơ trữ tình và lịch sử còn lưu truyền trên miệng người dân quê tỉnh lẻ. Thế hệ thơ anh đã tìm thấy ở anh người mang sứ mệnh đẹp đẽ: Tìm lại tâm hồn Tây Ban Nha đang có nguy cơ bị quên lãng, nối kết cái truyền thống với cái thời đại.”(nguồn: http://hoangphongtuan.wordpress.com)
Như vậy, Thanh Thảo nói về Đàn Ghita của Lorca là nói về Lorca, trong mối quan hệ với dân tộc và thời đại của ông. Bài thơ Ghi Nhớ của Lorca nói rõ, ông muốn được an nghỉ trong thiên nhiên hiền hoà TBN (trong cát, cây cam, cây bạc hà,) cùng với nghệ thuật TBN (đàn ghita).
Đặc điểm ngôn ngữ đầu tiên của bài thơ là việc khai thác chất liệu tiếng đàn. Có khi là âm thanh trực tiếp li-la-li-a-li-la (câu 3 và câu kết), khi được hình tượng hoá : Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan (câu 16). Nhìn theo cấu trúc bài thơ, “tiếng ghita” trở thành bè nền cho cả bài thơ, và không nhất thiết phải mang nghĩa tường minh. Trên bè nền ấy, thời đại và hình ảnh Lorca hiện ra. Các câu thơ không được viết hoa ở đầu câu khiến bài thơ như một bản văn xuôi viết xuống dòng, điều ấy lưu ý người đọc khi tiếp cận với bài thơ là tiếp cận với một văn bản tự sự. Thanh Thảo kể câu chuyện về Lorca và qua đó bày tỏ cảm nghĩ bằng một hệ thống hình ảnh Tượng Trưng và Siêu Thực.(2)
2.Lorca lúc sinh thời
Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
Li-la-li-la-li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
Câu thơ không có chủ ngữ, hình tượng nhân vật trở nên không thể xác định, không thể nắm bắt, nhờ đó thơ trở nên đa nghiã, ý nghĩa để mở. Cấu trúc logic của khổ thơ bị phá vỡ, khiến cho việc đọc thơ bằng logic lý trí trở nên không thể. Trái lại cần cảm nhận theo trực giác, và giải mã hệ thống hình ảnh, bởi nghĩa của văn bản nằm trong cấu trúc khổ thơ.
Như đã phân tích ở trên, ta không bận tâm đến những câu viết về tiếng đàn. Tiếng đàn ở câu 1 và câu 3 chỉ làm nền, và có nhiệm vụ phá vỡ cấu trúc logic của khổ thơ. Ta quan tâm đến những hình ảnh tượng trưng khác.
áo choàng đỏ là hình ảnh đặc trưng trong những trường đấu bò tót. Người thi đấu dùng áo choàng đỏ để dẫn dụ con bò. Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt không còn là một cuộc đấu bò tót nữa mà có sự chuyển nghĩa. Nước TBN đang trong những cuộc đấu tranh quyết liệt, máu lửa (đỏ gắt). Tiếng đàn li-la-li-la-li-la như thôi thúc. Xin chú ý, âm thanh li-la-li-la-li-la được viết nối liền.
Trên nền của bối cảnh xã hội TBN như vậy, hình ảnh Lorca hiện lên :” đi lang thang về miền đơn độc”. Đó là hành trình nghệ thuật và hành trình chiến đấu của Lorca. Trong cuộc cách tân nghệ thuật mà ông khởi xướng, ông đã đi một mình. “đi lang thang về miền đơn độc/ với vầng trăng chếnh choáng”. “vầng trăng”gợi ra cái đẹp, đó là là nghệ thuật. “Chếnh choáng” là trạng thái say. “Vần trăng chếnh choáng” là trạng thái say mê nghệ thuật, nhưng Lorca đơn độc. Nhà thơ Hoàng Hưng cho biết, Lorca đưa ra ý niệm duende : ” Còn duende, đó là cái phải đánh thức từ trong tận cùng sâu thẳm của máu ta, nó đốt cháy máu ta, nó "vứt bỏ thứ hình học êm đềm ta học được, nó đập vỡ các bút pháp", nó là "quyền lực chứ không phải cấu trúc, cuộc chiến đấu chứ không phải tư duy", nó là cái mà Goethe đã nói đến: "Quyền lực bí mật mà mọi người đều cảm thấy nhưng không triết gia nào giải thích được", nó là "tinh thần của đất". Và Lorca cho rằng nghệ thuật của Tây Ban Nha là nghệ thuật của duende”(đd)
“Trên yên ngựa” có thể là khách lữ hành, cũng có thể là người chiến sĩ. “Yên ngựa mỏi mòn” là người ngồi trên yên ngựa đã lâu, người đã mỏi, yên đã mòn. Có lẽ để chỉ cuộc chiến đấu lâu dài của Lorca. Lorca là người chiến sĩ đấu tranh cho tự do, bị lực lượng cánh hữu coi là kẻ thù, “bởi vì ngòi bút của Lorca đã gây ra nhiều thiệt hại hơn những người khác dùng súng”. Lorca chưa thấy cái kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh chống phát xít Franco, nhưng ông đã trở thành nạn nhân của chúng. Ông Bị bọn tướng lĩnh phản bội nền Cộng hoà bắt giữ ngày 17-8-1936, thi thể anh được tìm thấy trong đống xác 15.000 người bị bắn ngày 19-8 trên miệng một vực sâu ở ngoại vi thành phố. Granada (Hoàng Hưng-đd)
Khổ thơ chỉ vẽ ra mơ hồ, thấp thoáng hình ảnh Lorca, với cảm giác ngậm ngùi, không gian trước mặt như vô vọng. Lorca đi lang thang về miền đơn độc. Hình ảnh thơ hoàn toàn phi hiện thực, bởi không có bất cứ một chi tiết nào của đời sống hiện thực của Lorca được ghi lại, ngoài hình ảnh tượng trưng:” Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt”. Sinh thời, Lorca đã hoạt động rất tích cực. Lorca lên thủ đô Madrid học Đại học và làm quen với Gregorio Martínez Sierra, và viết vở kịch đầu tiên El maleficio de la mariposa (Yêu thuật của bướm) và dựng vở kịch này. Năm 1929 Lorca sang New York, ông viết tập thơ Poeta en Nueva York (Nhà thơ ở New York, 1931) và hai vở kịch El público (Công chúng, 1931) và Así que pasen cinco años (Khi nào hết 5 năm, 1931). Lorca quay trở lại Tây Ban Nha khi nước này bắt đầu thiết lập chính thể cộng hoà. Năm 1931 được mời làm giám đốc nhà hát sinh viên La Barraca. Thời kỳ này ông viết nhiều vở kịch nổi tiếng như: Bodas de sangre (Đám cưới máu); Yerma (Yerma); La casa de Bernarda Alba (Ngôi nhà của Bernarda Alba)...
Hình ảnh Lorca đi lang thang về miền đơn độc là cách cảm nhận riêng của Thanh Thảo (Ấy là chúng ta đứng trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực)
3.Hình ảnh cái chết của Lorca
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choáng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
Chàng đi như người mộng du
Cấu trúc đoạn thơ vẫn được sắp xếp để phá vỡ tính logic của nhân thức. Nếu đọc theo thứ tự từ trên xuống, câu thơ sẽ là : “Tây Ban Nha/ hát nghêu ngao/ bỗng kinh hoàng”. TBN là nước TBN, không thể hát nghêu ngao. Phải là ai đó hát nghêu ngao. Và đang hát nghêu ngao, thì không thể bỗng kinh hoàng. Khổ thơ có thể sắp xếp lại thế này
Tây Ban Nha
bỗng kinh hoàng
Lorca bị điệu về bãi bắn
áo choàng bê bết đỏ
(Chàng vừa đi vừa ) hát nghêu ngao
(Chàng đi ) như người mộng du
Nhưng nếu sắp xếp lại như trên, đoạn thơ chỉ còn là một đoạn kể chuyện theo logic nhận thức, một mẩu tin, với chỉ một nghĩa tường minh. Đoạn sắp xếp lại không còn gây được ấn tượng, mất tính đa nghĩa, và không còn là thơ.
Thanh Thảo muốn nhấn mạnh đến thái độ kinh hoàng của nước TBN trước cái chết dữ dội của Lorca do bọn dân vệ Franco gây ra. Áo choàng đỏ gắt là hình ảnh người chiến đấu. Áo choáng bê bết đỏ, hình ảnh Lorca bị bắn. Thái độ cuả Lorca là không bận tâm đến cái chết. Vẫn là người nghệ sĩ, người đã viết những dòng Ghi Nhớ. Chàng vẫn hát nghêu ngao và đi như người mộng du.
Ở đoạn thơ này, Thanh Thảo đã tưởng tượng ra cảnh Lorca bị xử bắn theo cảm quan Siêu thực của mình.Theo Gibson, có những chỉ dấu rằng, trước khi ra lệnh hành quyết Lorca, Valdés đã hội ý với General Queipo de Llano, lãnh đạo tối cao của lực lượng nổi dậy ở Andalusia. Lorca được đưa tới ngôi làng của Víznar cùng với những nạn nhân khác. Sau một đêm ở đó trong một nhà tù tạm bợ, Lorca được chở bằng xe tải xuống con đường dẫn vào làng kế cận. Ông bị bắn ở đó, trước lúc mặt trời mọc, và được chôn bên cạnh một cây olive. Cái chết của Lorca là một trong hàng ngàn cuộc hành quyết ở Granada trong những ngày ngay trước cuộc Chiến Tranh Dân Sự”
Đoạn tường thuật của Gibson và đoạn thơ của Thanh Thảo viết về cái chết của Lorca có sự khác biệt gì? Bản tin của Gibson thoả mãn trí hiểu của người đọc về những uẩn khúc quanh cái chết của Lorca, không mang cảm xúc nghệ thuật nào. Trái lại Thanh Thảo đã vẽ ra một Lorca cụ thể. TBN bỗng kinh hoàng về cái chết dữ dội của Lorca, nhưng Lorca vẫn bình thản. Sự tương phản ấy tạo ra ấn tượng tư tưởng và nghệ thuật. Thanh Thảo ca ngợi Lorca như một hình tượng anh hùng.
Tây Ban Nha
bỗng kinh hoàng
áo choáng bê bết đỏ
4.Sau cái chết cuả Lorca
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gài ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
Khổ thơ gây được ấn tượng mạnh cả về ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật bởi tiếng ghita được hình tượng hoá. Tiếng ghi ta nâu / tiếng ghi ta lá xanh / tiếng ghi ta tròn / tiếng ghi ta ròng ròng. Người đọc không chỉ nghe thấy âm thanh vật lý của tiếng ghita, mà còn nhìn thấy hình ảnh, màu sắc và tính chất của tiếng ghi ta. Rất lạ so với tiếng đàn thực, và so với những cách miêu tả tiếng đàn từ xưa tới nay (Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, tiếng đàn của Thuý Kiều được Nguyễn Du tả trong Đoạn Trường Tân Thanh)
Nếu cứ bám vào văn bản mà giải nhiã, người đọc sẽ bế tắc. Thí dụ, tiếng ghi ta nâu nghĩa là gì? Nhìn sâu vào cấu trúc văn bản, đặt các chữ “tiêng ghi ta” tách hẳn ra, như một bè nền (tức là không cần giải nghĩa), những chữ còn lại sẽ mang ý nghĩa thực
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
Câu này sẽ trở thành “Tiếng ghi ta- Bầu trời cô gái ấy (màu) nâu”. Cụm từ “bầu trời màu nâu” có thể giải thích. Sau cái chết của Lorca, bầu trời nơi cô gái người yêu Lorca bao trùm bởi màu nâu, tức là màu buồn ảm đạm. Nói các khác, nỗi buồn ảm đạm bao trùm cả bầu trời tâm hồn cô gái người yêu của Lorca. Theo cách giải mã ấy ta có thể đọc nghĩa khổ thơ. Thanh Thảo nói về bầu khí xã hội TBN sau cái chết của Lorca. Cuộc sống vẫn sinh sôi, phải chăng sự hy sinh của Lorca làm cho cuộc sống trở nên mạnh mẽ hơn (“lá xanh biết mấy”), nhưng có một sự mất mát không cứu vãn được (Cái gì vỡ còn có thể hàn gắn, “bọt nước vỡ tan” chỉ còn lại hư không), cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, vẫn quyết liệt máu lửa (“ròng ròng”/ “máu chảy”)
Cảm nhận như thế, Thanh Thảo đã miêu tả được tầm vóc và ảnh hưởng của Lorca đối với thời đại của ông. Hình tượng Lorca lớn lên thêm một bước so với trước đó. Ở một góc nhìn khác,
Thanh Thảo cảm nhận
Không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang
Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng
Thanh Thảo dùng chữ : Không ai chôn cất tiếng đàn/ Tiếng đàn như cỏ mọc hoang, không phải là “không ai chôn cất cây đàn ghita của Lorca”. Đó là sự phân biệt rất tế nhị. Có thể đó là tiếng kêu gọi cách tân nghệ thuật của Lorca “tìm lại tâm hồn Tây Ban Nha đang có nguy cơ bị quên lãng”, có thể là tiếng kêu thươngcủa Lorca về thân phận con người. Xin đọc bài Lorca viết về Ghita, đó không còn là tiếng đàn , mà là tiếng khóc.
Đàn Guitar
Tiếng than khóc của đàn
bắt đầu.
Những ly thuỷ tinh bình minh
bị tan vỡ.
Tiếng than khóc của đàn
bắt đầu.
Hãm thanh vô ích.
Không thể nào
tắt được.
Đàn khóc, đều đều
như nước khóc, như gió khóc trên tuyết rơi.
Không thể nào
tắt được.
Đàn khóc cho những gì
đã xa khuất.
Cát của phương Nam ấm áp
nguyện cầu cho trà mi trắng.
Đàn khóc, như một mũi tên
không có mục tiêu,
(như) hoàng hôn khôngcó bình minh,
loài quyện điểu đầu tiên chết
trên cành.
Đàn ơi!
Xé tim
bằng năm lưỡi gươm.
(Lorca)
Dù hiểu cách nào, người đọc đều có thể nhận ra sự chia sẻ của Thanh Thảo với Lorca về những suy tư và ước vọng Lorca muốn làm cho dân tộc mình, và xa hơn Lorca suy tư về những vấn đề sâu xa của nhân loại. Nhà thơ Hoàng Hưng nhận xét về thơ Lorca :”Từ cuộc tranh chấp vĩnh hằng không thể hoà giải giữa sự sống - cái chết, những khao khát không bao giờ thoả mãn, những cái đích không bao giờ đạt được... sự bất lực của phận người sinh ra nỗi buồn chất chứa thơ anh, nỗi buồn có trăm biến dạng: Thất vọng, ưu phiền, xa vắng, đắm chìm, cô tịch...”
Không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang
Tiếng nói ấy, tiếng thơ ấy, sau khi Lorca chết đã không có người kết thừa. Hình ảnh so sánh “như cỏ mọc hoang” diễn tả được nỗi buồn trước sự hoang phế của những “cái đích không bao giờ đạt được” của Lorca. Tình cảm của Thanh Thảo dành cho Lorca đọng lại ở tứ thơ này
Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng
Đây là môt tứ thơ hay khi cảm nhận bằng trực giác, nhưng ý nghĩa cụ thể thế nào thì không dễ trình bày tường minh. Xin nghe một đoạn Thanh Thảo trao đổi với độc giả:
Hỏi : Trong bài có nhiều hình ảnh gợi cảm: "tiếng đàn bọt nước", "vầng trăng chếnh choáng", "yên ngựa mỏi mòn"...Vì sao Thanh Thảo lại dùng những hình dung từ này? Ý nghĩa của những hình ảnh đó trong việc thể hiện chủ đề?
Thanh Thảo: Anh hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai ? Thực ra, tôi cũng dùng những "hình dung từ" ấy một cách tình cờ thôi, hoàn toàn không cố ý. Tôi vẫn làm thơ như vậy, không cố ý, không "mài giũa ngôn từ". Những liên hệ (nếu có) giữa các tổ hợp từ ấy trong bài thơ đều gắn một cách vô thức với số phận Lorca. Những "chếnh choáng", " mỏi mòn", "bọt nước" dường như có gần xa ám ảnh cuộc đời Lorca, chúng ám cả vào thi ca của Ông
Hỏi : Câu thơ “”
Giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
Xin Nhà thơ cho vài lời gợi mở để độc giả có thể hiểu thêm hai câu thơ rất đẹp trên?
Thanh Thảo : Cảm ơn anh! Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp. Mà đã đẹp rồi thì không thể cắt nghĩa, không nên cắt nghĩa. (4)
Tác giả phủ định việc cắt nghĩa tứ thơ, cắt nghĩa cái đẹp, ấy là nói về phương diện cảm thụ nghệ thuật. Cảm thụ lý tính buộc ta phải hiểu, bởi “vô tri bất mộ” (không hiểu thì không yêu mến, một người mù thì không thể cảm nhận cái đẹp của bức tranh). Ta hãy thử giải mã những hỉnh ảnh từ “vô thức” ấy của tác giả xem sao, bắt đầu từ cấu trúc ngôn ngữ.
Không thể có nghĩa nếu câu thơ viết là “Giọt nước mắt của vầng trăng”. Cũng không thể viết “Giọt nước mắt và vầng trăng” bởi hai danh từ đứng trước và sau từ “và” phải tương đương nhau cả về ngữ pháp và nghĩa. Chỉ có thể viết : Giọt nước mắt/ long lanh trong đáy giếng và vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng. Hai câu có cấu trúc ngữ pháp chồng lên nhau tạo nên sự đa nghĩa. Đọc liên văn bản, ta mơ hồ liên tưởng đến Trương Chi - Mị Nương, và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ. Khi giọt nước mắt Mỵ Nương rơi xuống, ly ngọc của Trương Chi đã vỡ tan những ước mơ hạnh phúc. Và khi đem ngọc từ những con trai ăn máu của Mỵ Châu ở ngoài biển, về rửa ở giếng Trọng Thuỷ, ngọc trở nên long lanh. Nếu liên tưởng như thế, tứ thơ của Thanh Thảo hiện lên sâu sắc một tình xót thương. Tiếng sáo là cầu nối trong tình yêu Trương Chi-Mỵ Nương , ngọc trai là cầu nối trong tình yêu Mỵ Châu -Trọng Thuỷ. Có thể hai hình ảnh này để lại ấn tượng tạo nên tứ thơ của Thanh Thảo, trong đó trăng là cầu nối. Tôi tin rằng điều ấy có thể, bởi với bất cứ người Việt Nam yêu văn chương nào, đều có trong sâu thẳm hồn mình câu chuyện Trương Chi-Mỵ Nương, đều yêu mến và sự cảm thông cho những lứa đôi yêu nhau mà ước vọng không thành. Để rồi hình ảnh ấy, như từ vô thức của nhà thơ Thanh Thảo, hiện về.
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
đọng lại nỗi xót thương sâu thẳm Thanh Thảo dành cho Lorca
4. Lorca thanh thản ra đi
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghita màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Digan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la “
Thanh Thảo sáng tạo một hệ thống hình ảnh ẩn dụ để suy tư về sự ra đi cuả Lorca. Đường chỉ tay đứt là số mệnh đã hết (chết). Trên bàn tay, chỗ đường sinh mệnh đứt, là thời điểm số mệnh đã dứt. Chỉ ngưới sống mới cần đeo bùa hộ mạng, người đã chết, chẳng cần lá bùa ấy nữa. Chàng ném lá buà vào xoáy nước. Tất nhiên là xoáy nước sẽ cuốn mất không còn đâu tăm dạng. chàng ném trái tim mình vào lặng im, cũng cùng một nghĩa, chỉ cái chết. Bởi trái tim là sự sống, ném trái tim vào lặng yên chỉ sự yên nghỉ. Với Thanh Thảo, cũng như cảm nhận của chính Lorca, cái chết của ông như một tất yếu không khác được khi Lực Lượng Cánh Hữu đã coi ông là kẻ thù và quyết tâm tiêu diệt ông. Ông đã trở vế quê Granada dù biết rằng sẽ rất nguy hiểm. Và ông đã ra đi ở nơi gần quê hương mình.
dòng sông rộng vô cùng/ Lorca bơi sang ngang/ trên chiếc ghita màu bạc là tư thế Lorca vượt qua cõi tử sinh. Đây là một hình ảnh Siêu Thực, khó có thể hiểu Thanh Thảo định nói gì qua hình ảnh“chiếc ghita màu bạc”. Nhưng hình ảnh dòng sông và hình ảnh Lorca bơi sang ngang là ẩn dụ quen thuộc. Trong ngôn ngữ Phật giáo, đến bờ bên kia (Đáo bỉ ngạn) chỉ sự giác ngộ. Thanh Thảo lý giải thế nào về cái chết của Lorca? Tất nhiên nhà thơ đã không nhìn cái chết ấy theo chính kiến xã hội như Lực Lượng Cánh Hữu thời ấy. Cũng không nhìn theo chiều tôn giáo, sau khi chết thì linh hồn Lorca sẽ về đâu. Thanh Thảo chỉ nói, Lorca bơi qua sông, và vào lặng yên bất chợt, như một tất yếu, đơn độc. Phải chăng Thanh Thảo suy niệm về hiện sinh? Rõ ràng Thanh Thảo không tạc tượng đài Lorca như một người anh hùng (như Lê Anh Xuân viết về anh Giải Phóng Quân trong bài Dáng Đứng Việt Nam), cũng không có bất cứ liên tưởng “thu hoạch” nào trong tương quan Lorca với nhà thơ Việt Nam đương đại, khi nhà thơ Việt Nam nhiều người đã ngã xuống với tư thế người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ...). Thanh Thảo viết về sự ngậm ngùi, vắng lặng. Lorca băng tới phía trước, bỏ lại tất cả, ném lại tất cả.
5.Đọc bài thơ Siêu Thực
Đàn ghita của Lorca lạ so với thơ Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa (1945-1975) nhưng thực ra không mới trong thơ Việt Nam đương đại. Điều đặc sắc là Thanh Thảo sáng tạo được những tứ thơ đẹp, và cách cảm thụ thơ “đẹp” không cần phân tích. “Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp. Mà đã đẹp rồi thì không thể cắt nghĩa, không nên cắt nghĩa” bởi cái đẹp là tổng thể. Bông hồng chỉ đẹp khi đó là một bông hoa nở trên cành, nếu tách từng nhánh hoa để xem bông hồng đẹp ở chỗ nào thì cái đẹp (bông hoa) sẽ tan nát. Cách cảm thụ này đòi hỏi người đọc phải có trực giác thẩm mỹ và trình độ thưởng lãm, và có sự đồng điệu với tác giả. Thực ra “đẹp” hay “xấu” là cảm thụ chủ quan. Bông hồng tự nó không đẹp hay xấu. Cho nên Thanh Thảo mới đặt điều kiện: “Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp”. Nhà thơ rất tế nhị khi đặt điều kiện “nếu”, và đưa ra một giả định “có thể đẹp”. Thanh Thảo nhường quyền cho những bạn đọc “không thấy đẹp”, và bài thơ “có thể không đẹp”. Tiếp nhận đương đại chấp nhận rộng rãi mọi cách giải mã và cảm thụ tác phẩm. Tuy vậy, cách cảm thụ của một cá nhân không thể vượt ra ngoài những chuẩn mực văn hoá và chuẩn mực về cái đẹp của cộng đồng.
Tháng 3.2013
__________________________________________
(1) Nguồn tiếng Anh : García Lorca's central themes are love, pride, passion and violent death, which also marked his own life. The Spanish Civil was began in 1936 and García Lorca was seen by the right-wing forces as an enemy. Lorca "had done more damage with his pen than others with their guns."
Về cái chết của Lorca : Lorca was dragged into a field at the foot of the Sierra Nevada Mountains, shot, and thrown into an unmarked grave (mộ huyệt)- he was driven in a lorry down the road to the next village, and was shot there, sometime before sunrise, and buried beside an olive tree.
(2) Chủ nghĩa Siêu Thực (Sách Giáo Viên tr. 170): Chủ nghiã Siêu Thực ( Le surrealism ) xuất hiện vào năm 1922. Châu Âu vưà trải qua thế chiến I. các giá trị đạo đức và tinh thần truyền thống có nguy cơ sụp đổ. Cá nhân trở nên trần trụi. Họ chạy trốn vào giấc mơ, đi tìm cái hiện thực khác, cao hơn , nằm ngoài cái hiện thực đang tồn tại.
Hệ thống quan điểm mỹ học gồm :
1.Đề cao ngẫu hứng trong thế giới vô thức
2. Đề cao hỗn độn, phi logic. Vứt bỏ sự phân tíc logic, phá vỡ khuôn mẫu đạo đức, tôn giaó, cùng với suy luận lý tính. Chỉ tin vào trực giác, giấc mơ, ảo giác,linh cảm bản năng và sự tiên tri. Gạt bỏ mọi quy tắc ngữ pháp, không tuân thủ cú pháp, không dùng chấm câu. Đề cao liên tưởng cá nhân , hướng tới hồn nhiên cuả thế giới trẻ thơ
3.Phá vỡ ngăn cách chủ thể khách thể. Họ biến chủ thể thành khách thể. Làm thơ bằng thị giác ( thay vì thính giác ( nhạc điệu, âm vận )
(3) According to Gibson, "there are indications that, before he gave the order to execute Lorca, Valdés was in touch with General Queipo de Llano, supreme commander of the rebel forces in Andalusia."The poet was taken to the village of Víznar, together with other victims. After spending the night there in an improvised jail, he was driven in a lorry down the road to the next village, and was shot there, sometime before sunrise, and buried beside an olive tree. Lorca's death was one of thousands of executions in Granada in the early days of the Civil War.
(4) http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/107738
Bui Công Thuấn

1.Federico García Lorca (5 /6 /1898 – 19 /8 /1936) – nhà thơ, nhà soạn kịch lớn nhất của Tây Ban Nha thế kỉ XX. Ông sinh ở thị trấn Fuente Vaqueros, tỉnh Granada, học và hoạt động nghệ thuật ở thủ đô Madrid. Tháng 8/1936, ông bị bọn dân vệ của Franco chặn bắt rồi xử bắn mà không xét xử. Cái chết của ông vẫn còn nhiều bí ẩn. Lúc sinh thời, ông nói với mọi người ước nguyện của mình
Khi tôi chết,
Hãy chôn tôi với cây đàn ghita
Dưới cát
Khi tôi chết,
Giữa hàng cam
Và cây bạc hà
Khi tôi chết,
Hãy chôn tôi, nếu các anh em mong muốn
Trong chiếc chong chóng
.
Khi tôi chết,
(Lorca Ghi Nhớ (Memento) -Trích trong tập Thơ Federico Garcia Lorca-Đan Tâm dịch)
Đàn Guitar của Lorca là bài thơ của Thanh Thảo được chọn dạy trong chương trình lớp 12. Hệ thống hình ảnh Siêu thực của bài thơ gây khó cho thầy cô và học sinh. Bởi học sinh đã quen học với các tác phẩm viết theo bút pháp Hiện Thực. Việc giải mã bài thơ vẫn còn trong quá trình tìm kiếm những ý nghĩa có thể chấp nhận được, song để nói cho mạch lạc, thuyết phục về bài thơ, còn cần sự đóng góp ý kiến của nhiều bạn đọc.
ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA
(Thanh Thảo)
Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn
Ph.G.Lor-ca
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la-li-la-li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la-li-la-li-la...
Lorca nói với mọi người,”Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”.Tất nhiên là bọn dân vệ Franco chẳng chôn cây đàn nào theo Lorca, chúng vùi xác ông trong mộ huyệt mà chúng bắt ông đào trước đó. Thanh Thảo dẫn lời Lorca để đặt nhan đề cho bài thơ của mình là Đàn Ghita của Lorca, nhưng trong suốt bài thơ, Thanh Thảo chỉ khai thác tiếng đàn ghita. Li-la- li-la –Li-la / tiếng ghi ta nâu/ tiêng ghita lá xanh/; tiếng ghita ròng ròng...Độ vênh thông tin này tạo ra ẩn nghĩa gì?
Đàn ghita mà Lorca đòi được chôn theo không phải là cây đàn Tây Ban Cầm 6 giây, mà chính là nghệ thuật của TBN. Ở Tây Ban Nha, đàn ghita, điệu nhảy Flamenco, và đầu bò tót là những môn nghệ thuật và thể thao mang đặc trưng TBN. Nhà thơ Hoàng Hưng cho biết :” thơ Lorca nổi bật lên xu hướng trở về khai thác dân ca, tìm lại những truyện thơ trữ tình và lịch sử còn lưu truyền trên miệng người dân quê tỉnh lẻ. Thế hệ thơ anh đã tìm thấy ở anh người mang sứ mệnh đẹp đẽ: Tìm lại tâm hồn Tây Ban Nha đang có nguy cơ bị quên lãng, nối kết cái truyền thống với cái thời đại.”(nguồn: http://hoangphongtuan.wordpress.com)
Như vậy, Thanh Thảo nói về Đàn Ghita của Lorca là nói về Lorca, trong mối quan hệ với dân tộc và thời đại của ông. Bài thơ Ghi Nhớ của Lorca nói rõ, ông muốn được an nghỉ trong thiên nhiên hiền hoà TBN (trong cát, cây cam, cây bạc hà,) cùng với nghệ thuật TBN (đàn ghita).
Đặc điểm ngôn ngữ đầu tiên của bài thơ là việc khai thác chất liệu tiếng đàn. Có khi là âm thanh trực tiếp li-la-li-a-li-la (câu 3 và câu kết), khi được hình tượng hoá : Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan (câu 16). Nhìn theo cấu trúc bài thơ, “tiếng ghita” trở thành bè nền cho cả bài thơ, và không nhất thiết phải mang nghĩa tường minh. Trên bè nền ấy, thời đại và hình ảnh Lorca hiện ra. Các câu thơ không được viết hoa ở đầu câu khiến bài thơ như một bản văn xuôi viết xuống dòng, điều ấy lưu ý người đọc khi tiếp cận với bài thơ là tiếp cận với một văn bản tự sự. Thanh Thảo kể câu chuyện về Lorca và qua đó bày tỏ cảm nghĩ bằng một hệ thống hình ảnh Tượng Trưng và Siêu Thực.(2)
2.Lorca lúc sinh thời
Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
Li-la-li-la-li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
Câu thơ không có chủ ngữ, hình tượng nhân vật trở nên không thể xác định, không thể nắm bắt, nhờ đó thơ trở nên đa nghiã, ý nghĩa để mở. Cấu trúc logic của khổ thơ bị phá vỡ, khiến cho việc đọc thơ bằng logic lý trí trở nên không thể. Trái lại cần cảm nhận theo trực giác, và giải mã hệ thống hình ảnh, bởi nghĩa của văn bản nằm trong cấu trúc khổ thơ.
Như đã phân tích ở trên, ta không bận tâm đến những câu viết về tiếng đàn. Tiếng đàn ở câu 1 và câu 3 chỉ làm nền, và có nhiệm vụ phá vỡ cấu trúc logic của khổ thơ. Ta quan tâm đến những hình ảnh tượng trưng khác.
áo choàng đỏ là hình ảnh đặc trưng trong những trường đấu bò tót. Người thi đấu dùng áo choàng đỏ để dẫn dụ con bò. Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt không còn là một cuộc đấu bò tót nữa mà có sự chuyển nghĩa. Nước TBN đang trong những cuộc đấu tranh quyết liệt, máu lửa (đỏ gắt). Tiếng đàn li-la-li-la-li-la như thôi thúc. Xin chú ý, âm thanh li-la-li-la-li-la được viết nối liền.
Trên nền của bối cảnh xã hội TBN như vậy, hình ảnh Lorca hiện lên :” đi lang thang về miền đơn độc”. Đó là hành trình nghệ thuật và hành trình chiến đấu của Lorca. Trong cuộc cách tân nghệ thuật mà ông khởi xướng, ông đã đi một mình. “đi lang thang về miền đơn độc/ với vầng trăng chếnh choáng”. “vầng trăng”gợi ra cái đẹp, đó là là nghệ thuật. “Chếnh choáng” là trạng thái say. “Vần trăng chếnh choáng” là trạng thái say mê nghệ thuật, nhưng Lorca đơn độc. Nhà thơ Hoàng Hưng cho biết, Lorca đưa ra ý niệm duende : ” Còn duende, đó là cái phải đánh thức từ trong tận cùng sâu thẳm của máu ta, nó đốt cháy máu ta, nó "vứt bỏ thứ hình học êm đềm ta học được, nó đập vỡ các bút pháp", nó là "quyền lực chứ không phải cấu trúc, cuộc chiến đấu chứ không phải tư duy", nó là cái mà Goethe đã nói đến: "Quyền lực bí mật mà mọi người đều cảm thấy nhưng không triết gia nào giải thích được", nó là "tinh thần của đất". Và Lorca cho rằng nghệ thuật của Tây Ban Nha là nghệ thuật của duende”(đd)
“Trên yên ngựa” có thể là khách lữ hành, cũng có thể là người chiến sĩ. “Yên ngựa mỏi mòn” là người ngồi trên yên ngựa đã lâu, người đã mỏi, yên đã mòn. Có lẽ để chỉ cuộc chiến đấu lâu dài của Lorca. Lorca là người chiến sĩ đấu tranh cho tự do, bị lực lượng cánh hữu coi là kẻ thù, “bởi vì ngòi bút của Lorca đã gây ra nhiều thiệt hại hơn những người khác dùng súng”. Lorca chưa thấy cái kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh chống phát xít Franco, nhưng ông đã trở thành nạn nhân của chúng. Ông Bị bọn tướng lĩnh phản bội nền Cộng hoà bắt giữ ngày 17-8-1936, thi thể anh được tìm thấy trong đống xác 15.000 người bị bắn ngày 19-8 trên miệng một vực sâu ở ngoại vi thành phố. Granada (Hoàng Hưng-đd)
Khổ thơ chỉ vẽ ra mơ hồ, thấp thoáng hình ảnh Lorca, với cảm giác ngậm ngùi, không gian trước mặt như vô vọng. Lorca đi lang thang về miền đơn độc. Hình ảnh thơ hoàn toàn phi hiện thực, bởi không có bất cứ một chi tiết nào của đời sống hiện thực của Lorca được ghi lại, ngoài hình ảnh tượng trưng:” Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt”. Sinh thời, Lorca đã hoạt động rất tích cực. Lorca lên thủ đô Madrid học Đại học và làm quen với Gregorio Martínez Sierra, và viết vở kịch đầu tiên El maleficio de la mariposa (Yêu thuật của bướm) và dựng vở kịch này. Năm 1929 Lorca sang New York, ông viết tập thơ Poeta en Nueva York (Nhà thơ ở New York, 1931) và hai vở kịch El público (Công chúng, 1931) và Así que pasen cinco años (Khi nào hết 5 năm, 1931). Lorca quay trở lại Tây Ban Nha khi nước này bắt đầu thiết lập chính thể cộng hoà. Năm 1931 được mời làm giám đốc nhà hát sinh viên La Barraca. Thời kỳ này ông viết nhiều vở kịch nổi tiếng như: Bodas de sangre (Đám cưới máu); Yerma (Yerma); La casa de Bernarda Alba (Ngôi nhà của Bernarda Alba)...
Hình ảnh Lorca đi lang thang về miền đơn độc là cách cảm nhận riêng của Thanh Thảo (Ấy là chúng ta đứng trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực)
3.Hình ảnh cái chết của Lorca
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choáng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
Chàng đi như người mộng du
Cấu trúc đoạn thơ vẫn được sắp xếp để phá vỡ tính logic của nhân thức. Nếu đọc theo thứ tự từ trên xuống, câu thơ sẽ là : “Tây Ban Nha/ hát nghêu ngao/ bỗng kinh hoàng”. TBN là nước TBN, không thể hát nghêu ngao. Phải là ai đó hát nghêu ngao. Và đang hát nghêu ngao, thì không thể bỗng kinh hoàng. Khổ thơ có thể sắp xếp lại thế này
Tây Ban Nha
bỗng kinh hoàng
Lorca bị điệu về bãi bắn
áo choàng bê bết đỏ
(Chàng vừa đi vừa ) hát nghêu ngao
(Chàng đi ) như người mộng du
Nhưng nếu sắp xếp lại như trên, đoạn thơ chỉ còn là một đoạn kể chuyện theo logic nhận thức, một mẩu tin, với chỉ một nghĩa tường minh. Đoạn sắp xếp lại không còn gây được ấn tượng, mất tính đa nghĩa, và không còn là thơ.
Thanh Thảo muốn nhấn mạnh đến thái độ kinh hoàng của nước TBN trước cái chết dữ dội của Lorca do bọn dân vệ Franco gây ra. Áo choàng đỏ gắt là hình ảnh người chiến đấu. Áo choáng bê bết đỏ, hình ảnh Lorca bị bắn. Thái độ cuả Lorca là không bận tâm đến cái chết. Vẫn là người nghệ sĩ, người đã viết những dòng Ghi Nhớ. Chàng vẫn hát nghêu ngao và đi như người mộng du.
Ở đoạn thơ này, Thanh Thảo đã tưởng tượng ra cảnh Lorca bị xử bắn theo cảm quan Siêu thực của mình.Theo Gibson, có những chỉ dấu rằng, trước khi ra lệnh hành quyết Lorca, Valdés đã hội ý với General Queipo de Llano, lãnh đạo tối cao của lực lượng nổi dậy ở Andalusia. Lorca được đưa tới ngôi làng của Víznar cùng với những nạn nhân khác. Sau một đêm ở đó trong một nhà tù tạm bợ, Lorca được chở bằng xe tải xuống con đường dẫn vào làng kế cận. Ông bị bắn ở đó, trước lúc mặt trời mọc, và được chôn bên cạnh một cây olive. Cái chết của Lorca là một trong hàng ngàn cuộc hành quyết ở Granada trong những ngày ngay trước cuộc Chiến Tranh Dân Sự”
Đoạn tường thuật của Gibson và đoạn thơ của Thanh Thảo viết về cái chết của Lorca có sự khác biệt gì? Bản tin của Gibson thoả mãn trí hiểu của người đọc về những uẩn khúc quanh cái chết của Lorca, không mang cảm xúc nghệ thuật nào. Trái lại Thanh Thảo đã vẽ ra một Lorca cụ thể. TBN bỗng kinh hoàng về cái chết dữ dội của Lorca, nhưng Lorca vẫn bình thản. Sự tương phản ấy tạo ra ấn tượng tư tưởng và nghệ thuật. Thanh Thảo ca ngợi Lorca như một hình tượng anh hùng.
Tây Ban Nha
bỗng kinh hoàng
áo choáng bê bết đỏ
4.Sau cái chết cuả Lorca
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gài ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
Khổ thơ gây được ấn tượng mạnh cả về ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật bởi tiếng ghita được hình tượng hoá. Tiếng ghi ta nâu / tiếng ghi ta lá xanh / tiếng ghi ta tròn / tiếng ghi ta ròng ròng. Người đọc không chỉ nghe thấy âm thanh vật lý của tiếng ghita, mà còn nhìn thấy hình ảnh, màu sắc và tính chất của tiếng ghi ta. Rất lạ so với tiếng đàn thực, và so với những cách miêu tả tiếng đàn từ xưa tới nay (Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, tiếng đàn của Thuý Kiều được Nguyễn Du tả trong Đoạn Trường Tân Thanh)
Nếu cứ bám vào văn bản mà giải nhiã, người đọc sẽ bế tắc. Thí dụ, tiếng ghi ta nâu nghĩa là gì? Nhìn sâu vào cấu trúc văn bản, đặt các chữ “tiêng ghi ta” tách hẳn ra, như một bè nền (tức là không cần giải nghĩa), những chữ còn lại sẽ mang ý nghĩa thực
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
Câu này sẽ trở thành “Tiếng ghi ta- Bầu trời cô gái ấy (màu) nâu”. Cụm từ “bầu trời màu nâu” có thể giải thích. Sau cái chết của Lorca, bầu trời nơi cô gái người yêu Lorca bao trùm bởi màu nâu, tức là màu buồn ảm đạm. Nói các khác, nỗi buồn ảm đạm bao trùm cả bầu trời tâm hồn cô gái người yêu của Lorca. Theo cách giải mã ấy ta có thể đọc nghĩa khổ thơ. Thanh Thảo nói về bầu khí xã hội TBN sau cái chết của Lorca. Cuộc sống vẫn sinh sôi, phải chăng sự hy sinh của Lorca làm cho cuộc sống trở nên mạnh mẽ hơn (“lá xanh biết mấy”), nhưng có một sự mất mát không cứu vãn được (Cái gì vỡ còn có thể hàn gắn, “bọt nước vỡ tan” chỉ còn lại hư không), cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, vẫn quyết liệt máu lửa (“ròng ròng”/ “máu chảy”)
Cảm nhận như thế, Thanh Thảo đã miêu tả được tầm vóc và ảnh hưởng của Lorca đối với thời đại của ông. Hình tượng Lorca lớn lên thêm một bước so với trước đó. Ở một góc nhìn khác,
Thanh Thảo cảm nhận
Không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang
Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng
Thanh Thảo dùng chữ : Không ai chôn cất tiếng đàn/ Tiếng đàn như cỏ mọc hoang, không phải là “không ai chôn cất cây đàn ghita của Lorca”. Đó là sự phân biệt rất tế nhị. Có thể đó là tiếng kêu gọi cách tân nghệ thuật của Lorca “tìm lại tâm hồn Tây Ban Nha đang có nguy cơ bị quên lãng”, có thể là tiếng kêu thươngcủa Lorca về thân phận con người. Xin đọc bài Lorca viết về Ghita, đó không còn là tiếng đàn , mà là tiếng khóc.
Đàn Guitar
Tiếng than khóc của đàn
bắt đầu.
Những ly thuỷ tinh bình minh
bị tan vỡ.
Tiếng than khóc của đàn
bắt đầu.
Hãm thanh vô ích.
Không thể nào
tắt được.
Đàn khóc, đều đều
như nước khóc, như gió khóc trên tuyết rơi.
Không thể nào
tắt được.
Đàn khóc cho những gì
đã xa khuất.
Cát của phương Nam ấm áp
nguyện cầu cho trà mi trắng.
Đàn khóc, như một mũi tên
không có mục tiêu,
(như) hoàng hôn khôngcó bình minh,
loài quyện điểu đầu tiên chết
trên cành.
Đàn ơi!
Xé tim
bằng năm lưỡi gươm.
(Lorca)
Dù hiểu cách nào, người đọc đều có thể nhận ra sự chia sẻ của Thanh Thảo với Lorca về những suy tư và ước vọng Lorca muốn làm cho dân tộc mình, và xa hơn Lorca suy tư về những vấn đề sâu xa của nhân loại. Nhà thơ Hoàng Hưng nhận xét về thơ Lorca :”Từ cuộc tranh chấp vĩnh hằng không thể hoà giải giữa sự sống - cái chết, những khao khát không bao giờ thoả mãn, những cái đích không bao giờ đạt được... sự bất lực của phận người sinh ra nỗi buồn chất chứa thơ anh, nỗi buồn có trăm biến dạng: Thất vọng, ưu phiền, xa vắng, đắm chìm, cô tịch...”
Không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang
Tiếng nói ấy, tiếng thơ ấy, sau khi Lorca chết đã không có người kết thừa. Hình ảnh so sánh “như cỏ mọc hoang” diễn tả được nỗi buồn trước sự hoang phế của những “cái đích không bao giờ đạt được” của Lorca. Tình cảm của Thanh Thảo dành cho Lorca đọng lại ở tứ thơ này
Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng
Đây là môt tứ thơ hay khi cảm nhận bằng trực giác, nhưng ý nghĩa cụ thể thế nào thì không dễ trình bày tường minh. Xin nghe một đoạn Thanh Thảo trao đổi với độc giả:
Hỏi : Trong bài có nhiều hình ảnh gợi cảm: "tiếng đàn bọt nước", "vầng trăng chếnh choáng", "yên ngựa mỏi mòn"...Vì sao Thanh Thảo lại dùng những hình dung từ này? Ý nghĩa của những hình ảnh đó trong việc thể hiện chủ đề?
Thanh Thảo: Anh hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai ? Thực ra, tôi cũng dùng những "hình dung từ" ấy một cách tình cờ thôi, hoàn toàn không cố ý. Tôi vẫn làm thơ như vậy, không cố ý, không "mài giũa ngôn từ". Những liên hệ (nếu có) giữa các tổ hợp từ ấy trong bài thơ đều gắn một cách vô thức với số phận Lorca. Những "chếnh choáng", " mỏi mòn", "bọt nước" dường như có gần xa ám ảnh cuộc đời Lorca, chúng ám cả vào thi ca của Ông
Hỏi : Câu thơ “”
Giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
Xin Nhà thơ cho vài lời gợi mở để độc giả có thể hiểu thêm hai câu thơ rất đẹp trên?
Thanh Thảo : Cảm ơn anh! Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp. Mà đã đẹp rồi thì không thể cắt nghĩa, không nên cắt nghĩa. (4)
Tác giả phủ định việc cắt nghĩa tứ thơ, cắt nghĩa cái đẹp, ấy là nói về phương diện cảm thụ nghệ thuật. Cảm thụ lý tính buộc ta phải hiểu, bởi “vô tri bất mộ” (không hiểu thì không yêu mến, một người mù thì không thể cảm nhận cái đẹp của bức tranh). Ta hãy thử giải mã những hỉnh ảnh từ “vô thức” ấy của tác giả xem sao, bắt đầu từ cấu trúc ngôn ngữ.
Không thể có nghĩa nếu câu thơ viết là “Giọt nước mắt của vầng trăng”. Cũng không thể viết “Giọt nước mắt và vầng trăng” bởi hai danh từ đứng trước và sau từ “và” phải tương đương nhau cả về ngữ pháp và nghĩa. Chỉ có thể viết : Giọt nước mắt/ long lanh trong đáy giếng và vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng. Hai câu có cấu trúc ngữ pháp chồng lên nhau tạo nên sự đa nghĩa. Đọc liên văn bản, ta mơ hồ liên tưởng đến Trương Chi - Mị Nương, và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ. Khi giọt nước mắt Mỵ Nương rơi xuống, ly ngọc của Trương Chi đã vỡ tan những ước mơ hạnh phúc. Và khi đem ngọc từ những con trai ăn máu của Mỵ Châu ở ngoài biển, về rửa ở giếng Trọng Thuỷ, ngọc trở nên long lanh. Nếu liên tưởng như thế, tứ thơ của Thanh Thảo hiện lên sâu sắc một tình xót thương. Tiếng sáo là cầu nối trong tình yêu Trương Chi-Mỵ Nương , ngọc trai là cầu nối trong tình yêu Mỵ Châu -Trọng Thuỷ. Có thể hai hình ảnh này để lại ấn tượng tạo nên tứ thơ của Thanh Thảo, trong đó trăng là cầu nối. Tôi tin rằng điều ấy có thể, bởi với bất cứ người Việt Nam yêu văn chương nào, đều có trong sâu thẳm hồn mình câu chuyện Trương Chi-Mỵ Nương, đều yêu mến và sự cảm thông cho những lứa đôi yêu nhau mà ước vọng không thành. Để rồi hình ảnh ấy, như từ vô thức của nhà thơ Thanh Thảo, hiện về.
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
đọng lại nỗi xót thương sâu thẳm Thanh Thảo dành cho Lorca
4. Lorca thanh thản ra đi
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghita màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Digan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la “
Thanh Thảo sáng tạo một hệ thống hình ảnh ẩn dụ để suy tư về sự ra đi cuả Lorca. Đường chỉ tay đứt là số mệnh đã hết (chết). Trên bàn tay, chỗ đường sinh mệnh đứt, là thời điểm số mệnh đã dứt. Chỉ ngưới sống mới cần đeo bùa hộ mạng, người đã chết, chẳng cần lá bùa ấy nữa. Chàng ném lá buà vào xoáy nước. Tất nhiên là xoáy nước sẽ cuốn mất không còn đâu tăm dạng. chàng ném trái tim mình vào lặng im, cũng cùng một nghĩa, chỉ cái chết. Bởi trái tim là sự sống, ném trái tim vào lặng yên chỉ sự yên nghỉ. Với Thanh Thảo, cũng như cảm nhận của chính Lorca, cái chết của ông như một tất yếu không khác được khi Lực Lượng Cánh Hữu đã coi ông là kẻ thù và quyết tâm tiêu diệt ông. Ông đã trở vế quê Granada dù biết rằng sẽ rất nguy hiểm. Và ông đã ra đi ở nơi gần quê hương mình.
dòng sông rộng vô cùng/ Lorca bơi sang ngang/ trên chiếc ghita màu bạc là tư thế Lorca vượt qua cõi tử sinh. Đây là một hình ảnh Siêu Thực, khó có thể hiểu Thanh Thảo định nói gì qua hình ảnh“chiếc ghita màu bạc”. Nhưng hình ảnh dòng sông và hình ảnh Lorca bơi sang ngang là ẩn dụ quen thuộc. Trong ngôn ngữ Phật giáo, đến bờ bên kia (Đáo bỉ ngạn) chỉ sự giác ngộ. Thanh Thảo lý giải thế nào về cái chết của Lorca? Tất nhiên nhà thơ đã không nhìn cái chết ấy theo chính kiến xã hội như Lực Lượng Cánh Hữu thời ấy. Cũng không nhìn theo chiều tôn giáo, sau khi chết thì linh hồn Lorca sẽ về đâu. Thanh Thảo chỉ nói, Lorca bơi qua sông, và vào lặng yên bất chợt, như một tất yếu, đơn độc. Phải chăng Thanh Thảo suy niệm về hiện sinh? Rõ ràng Thanh Thảo không tạc tượng đài Lorca như một người anh hùng (như Lê Anh Xuân viết về anh Giải Phóng Quân trong bài Dáng Đứng Việt Nam), cũng không có bất cứ liên tưởng “thu hoạch” nào trong tương quan Lorca với nhà thơ Việt Nam đương đại, khi nhà thơ Việt Nam nhiều người đã ngã xuống với tư thế người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ...). Thanh Thảo viết về sự ngậm ngùi, vắng lặng. Lorca băng tới phía trước, bỏ lại tất cả, ném lại tất cả.
5.Đọc bài thơ Siêu Thực
Đàn ghita của Lorca lạ so với thơ Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa (1945-1975) nhưng thực ra không mới trong thơ Việt Nam đương đại. Điều đặc sắc là Thanh Thảo sáng tạo được những tứ thơ đẹp, và cách cảm thụ thơ “đẹp” không cần phân tích. “Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp. Mà đã đẹp rồi thì không thể cắt nghĩa, không nên cắt nghĩa” bởi cái đẹp là tổng thể. Bông hồng chỉ đẹp khi đó là một bông hoa nở trên cành, nếu tách từng nhánh hoa để xem bông hồng đẹp ở chỗ nào thì cái đẹp (bông hoa) sẽ tan nát. Cách cảm thụ này đòi hỏi người đọc phải có trực giác thẩm mỹ và trình độ thưởng lãm, và có sự đồng điệu với tác giả. Thực ra “đẹp” hay “xấu” là cảm thụ chủ quan. Bông hồng tự nó không đẹp hay xấu. Cho nên Thanh Thảo mới đặt điều kiện: “Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp”. Nhà thơ rất tế nhị khi đặt điều kiện “nếu”, và đưa ra một giả định “có thể đẹp”. Thanh Thảo nhường quyền cho những bạn đọc “không thấy đẹp”, và bài thơ “có thể không đẹp”. Tiếp nhận đương đại chấp nhận rộng rãi mọi cách giải mã và cảm thụ tác phẩm. Tuy vậy, cách cảm thụ của một cá nhân không thể vượt ra ngoài những chuẩn mực văn hoá và chuẩn mực về cái đẹp của cộng đồng.
Tháng 3.2013
__________________________________________
(1) Nguồn tiếng Anh : García Lorca's central themes are love, pride, passion and violent death, which also marked his own life. The Spanish Civil was began in 1936 and García Lorca was seen by the right-wing forces as an enemy. Lorca "had done more damage with his pen than others with their guns."
Về cái chết của Lorca : Lorca was dragged into a field at the foot of the Sierra Nevada Mountains, shot, and thrown into an unmarked grave (mộ huyệt)- he was driven in a lorry down the road to the next village, and was shot there, sometime before sunrise, and buried beside an olive tree.
(2) Chủ nghĩa Siêu Thực (Sách Giáo Viên tr. 170): Chủ nghiã Siêu Thực ( Le surrealism ) xuất hiện vào năm 1922. Châu Âu vưà trải qua thế chiến I. các giá trị đạo đức và tinh thần truyền thống có nguy cơ sụp đổ. Cá nhân trở nên trần trụi. Họ chạy trốn vào giấc mơ, đi tìm cái hiện thực khác, cao hơn , nằm ngoài cái hiện thực đang tồn tại.
Hệ thống quan điểm mỹ học gồm :
1.Đề cao ngẫu hứng trong thế giới vô thức
2. Đề cao hỗn độn, phi logic. Vứt bỏ sự phân tíc logic, phá vỡ khuôn mẫu đạo đức, tôn giaó, cùng với suy luận lý tính. Chỉ tin vào trực giác, giấc mơ, ảo giác,linh cảm bản năng và sự tiên tri. Gạt bỏ mọi quy tắc ngữ pháp, không tuân thủ cú pháp, không dùng chấm câu. Đề cao liên tưởng cá nhân , hướng tới hồn nhiên cuả thế giới trẻ thơ
3.Phá vỡ ngăn cách chủ thể khách thể. Họ biến chủ thể thành khách thể. Làm thơ bằng thị giác ( thay vì thính giác ( nhạc điệu, âm vận )
(3) According to Gibson, "there are indications that, before he gave the order to execute Lorca, Valdés was in touch with General Queipo de Llano, supreme commander of the rebel forces in Andalusia."The poet was taken to the village of Víznar, together with other victims. After spending the night there in an improvised jail, he was driven in a lorry down the road to the next village, and was shot there, sometime before sunrise, and buried beside an olive tree. Lorca's death was one of thousands of executions in Granada in the early days of the Civil War.
(4) http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/107738
Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013
NĂM QUÝ TỴ và CHUYỆN RẮN
NĂM QUÝ TỴ và CHUYỆN RẮN
Bùi Công Thuấn
1.Người tuổi con rắn
Tôi có mấy người bạn nữ, tuổi Tỵ, đều cô độc. Có người tuổi Tỵ lớn (49), có người tuổi Tỵ nhỏ (37). Trong khoa Tử Vi, người phụ nữ tuổi Tỵ ở cung Mệnh và Phu đều có sao Cô Quả (Cô Thần, Quả Tú). Có hai sao này thì dù có nằm bên chồng vẫn cảm thấy thui thủi một mình. Người cãi số mệnh, nhắm mắt lấy liều thì chồng cũng chẳng ra gì. Tôi thực sự chia sẻ cái khát vọng sâu xa của người phụ nữ ở họ, nhưng không sao giải thích được tại sao bạn gái tuổi Ty lại khó lấy chồng như vậy, khó hơn cả tuổi Dần? Những người phụ nữ có dáng đi lưng uốn vặn như lưng rắn thì cực kỳ gian dâm. Người mắt rắn thuộc tướng đại ác. Mắt nhỏ và dài, xanh lè, đuôi chẻ, là kẻ giết người không gớm tay, chỉ thua kẻ mắt tam giác, bậc nhất trong thập ác. Năm nay, người tuổi Tỵ (năm tuổi) gặp vận hạn lao đao, bị quậy đến chóng mặt, bởi Tử Vi có nhóm đại sát tinh xâm nhật. 2 Kình Dương, 2 Tang Môn, 2 Thiên Khốc, 2 Bạch Hổ xung chiếu hạn. Người tuổi Tỵ phải phòng hỏa, phải giải vía cọp may ra mới đỡ chuyện đau buồn (Tang Khốc) (Ấy là tôi nghe người ta tán vậy). “Đức trọng quỷ thần kinh”, người có phúc đức dày thì chẳng quỷ thần nào quậy phá được…
2. Sấm Trạng Trình
Nhắc tới năm rắn, khi còn nhỏ tuổi, tôi đã nghe truyền tụng sấm Trạnh Trình. Người ta bàn nhiều câu về nhiều sự kiện vào những thời điểm khác nhau. Chẳng hạn.
Nói về khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học (quê Vĩnh Bảo):
Một mình yên ngựa ai sùng bái
Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay
Nói về việc Tây rút khỏi Việt Nam :
“Bao giờ trúc mọc trên chì
Voi đi trên giấy Tây thì về Tây”
(Khi xuất hiện đồng tiền kẽm có khóm trúc, đồng tiền giấy có in hình con voi)
Nói về chiến tranh, các cụ luận câu này. Ấy là hồi còn chiến tranh, tương lai còn xa mờ, ai cũng mong hòa bình.
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ khổ đao binh
Mã đề , Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu liên lai kiến thái bình
(Cuối năm Rồng, đầu năm Rắn thì chiến tranh bắt đầu. Bốn phương khổ vì gươm đao tràn lan. Cuối năm Ngựa, năm Dê anh hùng không còn ai. Năm Thân năm Dậu mới có thái bình)
Người ta đem những câu sấm này để luận về chiến tranh Việt Nam. Cuối năm 1964 (Giáp Thìn), đầu năm 1965 (Ất Tỵ) nhân vụ Vịnh Bắc bộ, Mỹ đánh tràn ra miền Bắc, và ào ạt đổ quân Mỹ vào miến Nam thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ. Mức độ tàn khốc, ác liệt chưa bao giờ từng có trước đó. Tổng tiến công Mậu Thân (1968) làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ. Thế nhưng Thân Dậu liên lai (1968-1969) vẫn chưa thấy hòa bình ở đâu. Đế Quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược Việt Nam Hóa Chiến Tranh (1968-1972) . Chỉ khi thất bại, chúng mới chịu ký hiệp định Paris. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta còn tiếp tục cho đến năm 1975 (Ất Mão), đất nước mới hòa bình thống nhất. Hóa ra sấm chỉ là sấm, và ứng vào thời nào chẳng ai biết.
3. Rắn trả thù ba đời ?!
Nói về rắn thì giai thoại Nguyễn Trãi bị rắn báo oán là ly kỳ bậc nhất. Sách Tang thương ngẫu lục đã ghi lại :” Nay xét mồ mả tổ tiên ông tại làng Nhị Khê thì huyệt táng giữa khu ruộng bằng phẳng. Người thì nói rằng đó là kiểu đất tướng quân mở cờ, kẻ lại bảo đó là kiểu đất tướng quân cụt đầu, bởi vì ở hướng Nam của mả có cái gò hình con rùa quay đuôi lại. Bản Kiểm ký của Hoàng Phúc có ghi rằng: Nhị Khê mạch đoản, họa thảm tru di, tức là khu đất này.
Tương truyền, khi còn chưa được hiển đạt, ông dạy học trò ở làng Nhị Khê. Một hôm, ông trỏ cái gò nhỏ ngoài đồng và bảo học trò rằng:
- Ngày mai các anh ra phạt cỏ gò ấy để lấy đất dựng nhà mà học.
Học trò vâng lời. Tảng sáng hôm sau, ông mơ thấy một người đàn bà tới nói với ông rằng:
- Tôi còn yếu người và con thì còn nhỏ, xin ông hãy thư thư cho vài ba bữa để tôi còn kịp dọn đi nơi khác.
Tỉnh dậy, ông vội chạy ra đồng xem thì học trò đã dọn gò đất xong rồi. Họ bắt được hai quả trứng rắn. Ông hỏi thì họ nói:
- Vừa rồi thấy có con rắn, chúng con đánh nó cụt đuôi và nó đã chạy mất.
Ông cầm hai quả trứng rắn đem về cất giữ. Đêm đêm chong đèn đọc sách thì có con rắn trắng bò trên xà nhà, máu từ đuôi nó chảy xuống, rơi đúng chữ đại nghĩa là đời, thấm ướt đến ba tờ giấy liền. Ông tự hiểu và than rằng:
- Nó sẽ báo oán ta đến ba đời.
Hai trứng rắn nở ra được hai con, một dài một ngắn, ông sai đem thả xuống sông Tô Lịch ở làng bên. Nay, những rắn ấy đều được tôn làm thần sông.
Sau khi đã hiển đạt, hàng ngày từ triều về, qua phố hàng chiếu ông vẫn thường gặp một người con gái nhan sắc rất mặn mà. Hai bên dùng thơ vui đùa, rồi yêu mến nhau, ông cưới cô gái ấy về làm thiếp. Trong năm Thiệu Bình, người con gái ấy được ra vào nơi cung cấm, được hoàng đế Lê Thái Tông cho làm Nữ Học Sỹ. Khi Hoàng Đế băng, triều đình đem cô ra tra khảo thì cô khai là Nguyễn Trãi sai cô giết Hoàng Đế. Bởi lẽ này mà ông bị trị tội. Khi đem ra hành hình, người con gái ấy liền hóa thành một con rắn, bò xuống nước mà đi mất”.(Nguyễn Khắc Thuần- http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=93093)
Khi học đại học, tôi còn nghe một GS Đại học nói về Nguyễn Trãi kể tiếp rằng, lúc Nguyễn Trãi bị đem hành hình, có người đàn bà đến gần ông để xin một kỷ vật, ông bảo bà ta ngửa bàn tay ra, rồi ông nhổ bọt vào tay, bảo bà mang về. Bà ấy về mang thai, sinh ra Anh Vũ. Khi Nguyễn Trãi bị nạn, bà ấy trốn lên rừng, về sau khi Vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, nhà vua có cho tìm kiếm con cháu Nguyễn Trãi để ban ơn. Anh Vũ được phong chức và được cử đi sứ Trung Quốc. Khi thuyền Anh Vũ đến Động Đình Hồ thì có con giao long hiện lên đòi mạng. Anh Vũ bảo, ông đang đi sứ, chừng nào xong việc sẽ trả mạng. Con giao long lặn mất. Khi Anh Vũ trở về, con giao long hiện lên cuốn Anh Vũ xuống hồ. Ứng nghiệm với chữ “đại”, con rắn báo oán ba đời.
Ai cũng biết giai thoại này là bịa đặt. Nhà Lê đã sát hại Nguyễn Trãi và bịa đặt ra chuyện Lệ Chi Viên và con rắn báo oán để chạy tội. Ngay từ khi Lê Lợi còn sống, nhà Lê đã muốn trừ diệt hết con cháu nhà Trần. Ông Ngoại Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán bị bức tử. Những người bạn của Nguyễn Trãi như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo cũng bị nhục hình, bản thân Nguyễn Trãi cũng từng bị bắt giam trước đó. Nếu rắn biết báo oán thì những bợm nhậu thịt rắn ngày nay chắc đã chết sạch. Bợm nhậu vào quán, chủ đem ra một lồng rắn, khách thích con nào thì chỉ. Chủ quán treo cố con rắn lên, cắt đuôi hứng lấy máu, rạch bụng rắn, cắt lấy cái mật bỏ vào ly rượu, rồi đem ly rượu cho khách uống trước cho bổ, sau đó xơi món rắn bằm hoặc cháo rắn. Người ta bảo ăn thịt rắn ngon hơn thịt gà và rất bổ. Ăn một bữa khỏe tới 6 tháng.
4. Rắn cũng đáng yêu
Những năm 1960 tôi ở miền tây. Mùa nước nổi, cánh đồng nước mênh mông, rắn thường bò vào nhà. Ở những vì kèo thường có vài con rắn khoanh quấn lấy thân kèo, con nào cũng bằng bắp tay. Nó ngủ rất êm. Cũng không ai làm phiền nó, vì nó bắt chuột trên mái nhà. Chỉ khi nào cần nhậu, người ta mới móc xuống một con làm mồi. Miền tây hồi đó cá tôm ên hề nên dân nhậu lâu lâu mới xơi món rắn, bởi có nhiều món hảo hơn. Cá lóc cỡ một kg, đắp đất sét, nướng rơm ăn tuyệt ngon. Đi câu tôm, dân câu bao giờ cũng đem theo quầy dừa. Câu được tôm, bỏ vào nước dừa, tôm chím đỏ, ăn thật tuyệt. Món rắn phải làm cầu kỳ hơn , còn phải kiêng không được làm thịt rắn trên thớt me, ăn bị độc.
Thời học trò lội ruộng ấy, tôi có ấn tượng đặc biệt với bài thơ Rắn Đầu Biếng Học của Lê Quý Đôn. Người ta kể rằng, một hôm, Tiến sĩ Vũ Công Trấn đến thăm Tiến sĩ Lê Phú Thứ là người bạn cùng đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1724 (sau đổi là Lê Trọng Thứ). Nghe con bạn là Lê Quý Đôn còn trẻ mà đã hay chữ, nên ông Trấn lấy đầu đề “Rắn đầu biếng học” để thử tài. Ít phút sau, Lê Quý Đôn đã làm xong bài thơ dưới đây:
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà!
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da.
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!
Dân lội ruộng, biết nhiều loại rắn, đọc bài thơ sẽ thấy thú vị vô cùng. Lê Quý Đôn đưa được tên nhiều loài rắn vào bài thơ. Đó là rắn Liu Điu, rắn Hổ lửa, rắn Mai Gầm, rắn Ráo, rắn Hổ Mang. Nghệ thuật chơi chữ đạt đến chỗ tuyệt diệu trong phép đối, luật bằng trắc của thơ Đường luật, đồng thời diễn đạt tình ý sâu sắc và tinh tế. Lê Quý Đôn nhập thân vào vai ông Trấn để dạy dỗ, nhưng đồng thời cũng diễu cợt ông Trấn. Ẩn chứa đàng sau câu chữ còn là sự thể hiện tình nghĩa mẹ cha, và thế giá gia tộc. Nó cũng bộc lộ khẩu khí của Lê Quý Đôn, một bậc tài danh sau này. Giá trị bài thơ còn ở cách Việt hóa thơ Đường luật. Bài thơ đậm chất dân dã ở cách dùng từ nôm na gần gũi (rát cổ, ráo mép, tuồng lếu láo, lằn lưng, kẻo hổ mang…) Bài thơ này chưa có bài họa xứng tầm. Thơ Đường luật hôm nay khó có bài nào sánh được.
5. Tại sao nhân loại ghét rắn?
Nhân loại có ấn tượng xấu về rắn bởi Kinh Thánh nói khá nhiều về con vật này. Thời Adam-Eva còn sống trong Vườn Địa Đàng, ở giữa vườn có một cây khôn ngoan, gọi là cây trái cấm. Đức Chúa cấm Adam-Eva không được ăn trái cây ấy. Con rắn đã cám dỗ người đàn bà ăn trái cấm. Từ đó loài người đã bị trừng phạt. Sách Sáng Thế Ký kể rằng (chương 3):
” 1 Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?2 Người đàn bà nói với con rắn: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.3 Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."4 Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu!5 Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."6 Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn.7 Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân…
Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.15 Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
16 Với người đàn bà (Eva), Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."
17 Với con người (Adam), Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó", nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. 18 Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. 19 Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Đức Chúa là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai.24 Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.”
Đoạn trích Sáng Thế Ký gợi ra nhiều điều suy gẫm. Vì con rắn cám dỗ (ma quỷ) nên loài người phải khổ, nhất là người phụ nữ, và con người là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã lường trước mọi hiểm nguy và dạy môn đồ : “Này, Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói, Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”(Mt 10:16). Ngài cũng nguyền rủa các Kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình là loài rắn độc : "Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào. Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, cho nên các người sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn. Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục ?(Mt 23. 13-33)
Phật thọai cũng có câu truyện Đức Phật hàng phục rắn :
” Một lần, đức Phật dừng chân ở núi Linh Thứu nước Ma Kiệt Ðà, thuyết pháp giảng kinh cho rất nhiều đệ tử. Lúc đó, vua nước Ma Kiệt Ðà là Tần Bà Sa La Vương, dẫn đầu một đoàn đại thần rất đông lên núi Linh Thứu, chắp tay cung linh lễ chân Phật rồi xin ngài hang phục con rắn ở rừng trúc lâm.
Ðức Phật bằng lòng giúp nhà vua, nên một hôm, Ngài một mình một thân đi bộ thẳng vào khu rừng trúc, nơi con rắn độc đang ẩn náu. Ðức Phật vận dụng lực từ bi, từ mỗi đầu ngón tay của Ngài phát ra năm tia ánh sáng năm mầu. Những tia ánh sáng năm mầu rực rỡ này chiếu lên thân con rắn khiến nó lập tức trở nên hiền lành, độc khí tiêu tan, tâm hoan hỉ phát sinh, nó ngóc đầu lên chiêm ngưỡng đức Phật
Ðức Phật biết là con rắn độc đã được Ngài điều phục rồi, nên nói với nó rằng:
- Trưởng giả Hiền Diện, trong những kiếp trước ngươi là người keo kiệt tham lam, ngươi có biết tội của mình đã làm không? Trong thời quá khứ, ngươi tuy rất giàu sang phú quý nhưng tâm keo kiệt và đố kỵ rất mạnh, ngươi chuyên môn dối trá gạt người, không có việc ác nào mà ngươi không làm, chưa từng một lần bố thí vật gì cho ai. Cái người hành khất đáng thương kia đến xin, ngươi đã không cho hạt gạo nào thì chớ, còn nổi giận nhìn người ta, dùng ác khẩu mắng người ta. Vì thế kiếp này ngươi mới phải chịu quả báo mang lấy hình thù xấu xí, tại sao ngươi lại chưa chịu phản tỉnh mà sám hối? Tại sao lại còn sinh tâm ác độc mà nhiễu hại những người đi ngang qua đây? Tội nghiệp của ngươi đã nặng lắm rồi, bây giờ còn tiếp tục tạo nữa, vậy ngươi muốn chịu khổ cho tới chừng nào mới ngưng? Nếu ngươi cứ theo đà này thì quả báo khổ đau về sau sẽ vô cùng vô tận, cả ngàn vạn kiếp cũng không thoát ra được.
Ðức Phật thấy nó đã rõ ràng tự biết tội mình và thật lòng muốn cầu giải thoát, nên giáo hóa nó.
Rắn độc nghe thế, tự nhiên biết mở miệng ra nói cho đức Phật hiểu được:
- Thế Tôn, con không dám làm trái lời giáo huấn từ bi của Ngài, từ nay về sau con thề nguyện sẽ phụng hành.
- Thế thì hãy chui vào bát của ta
Ðức Phật vừa dứt lời, con rắn đã tuân lệnh ngay, bò vào bát của Ngài. Ðức Phật bèn ôm bát ra khỏi rừng trúc. Nhà vua cùng rất nhiều người nghe tin ấy, vội vàng vào rừng xem ngã ngũ câu chuyện ra sao. Khi con rắn nhìn thấy người ta, lòng cảm thấy hổ thẹn và chán ghét thân hình rắn độc của mình, liền chết ngay tại chỗ. Mệnh vừa dứt, nhờ nó đã chân thành sám hối với tâm muốn cải thiện, nên được sinh lên cung trời Ðao Lợi hưởng phúc cõi trời. (http://truyenviet.com/truyen-phat-giao/84-dieu-hanh-giao-trinh/1011-hoi-loi-sinh-thien)
Cả hai bậc thánh nhân đều chỉ ra rắn là loài độc ác,” chuyên môn dối trá gạt người, không có việc ác nào mà ngươi không làm,..”và hậu quả là không tránh khỏi. “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục ?”; “quả báo khổ đau về sau sẽ vô cùng vô tận, cả ngàn vạn kiếp cũng không thoát ra được. Không biết những kẻ tâm địa rắn độc có biết sợ những lời cảnh báo như thế không nhỉ ?!
6. Rắn và khát vọng của con người
Truyện dân gian Việt Nam kể rằng, sau khi hạt lúa thần bị bà góa đập vỡ, con người phải cày cấy vất vả quá thì kêu trời, trời ơi là trời! trời ơi ngó xuống mà xem! sao khổ cực thế này. Trời chịu không thấu tiếng kêu của dân nên sai một vị thần xuống trần. Vị thần này mặc áo thụng xanh, đội mũ cánh chuồn, đem xuống một nắm cỏ và một nắm lúa. Trời bảo gieo nắm lúa cho dân nhờ. Khi xuống trần gian, bao nhiêu trò vui làm vị thần này quên mất không biết nắm nào là cỏ, nắm nào là lúa. Đến giờ phải về chầu trời, thần vứt đại một nắm hạt xuống đất. Trời yêu trí phen này dân có lúa ăn, khỏi phải vất vả. Nhưng trời chưa kịp ngồi nóng đít thì tiếng dân kêu trời lại dội lên, thảm thiết hơn. Trời ngó xuống, trần gian cỏ mọc ngút ngàn. Giận quá, trời phất tay một cái, vị thần gieo cỏ rơi xuống đất, biến thành con trâu, từ đó trâu phải ăn cỏ.
Để sửa lỗi, Trời sai một vị thần khác xuống trần gian, ban cho dân một ân huệ đặc biệt là không phải chết. Trời cho vị thần một câu quyết :”Người già người lột, rắn già rắn tụt vào săng”(săng là cái quan tài, ý nói rắn già thì rắn chết, vì rắn là loài độc ác). Vị thần thứ hai xuống trần. Bao nhiêu điều hấp dẫn đã làm vị thần này quên mất câu quyết. Rắn già rắn lột hay người già người lột? Đến giờ chầu trời, vị thần ấy nói cho xong “Rắn già rắn lột, người già người tụt vào săng”. Trời yên trí phen này dân không còn nguyền rủa trời nữa. Nhưng hỡi ôi, trời chưa kịp ngồi yên ghế thì tiếng khóc thương của dân lại vang thấu trời. Trời ngó xuống trần gian, chỗ này người già chết, chỗ kia người trẻ chết. Trời biết vị thần thứ hai đã đọc sai câu quyết, vì thế loài người phải chết. Giận quá, trời phất tay một cái, vị thần thứ hai rơi xuống trần, đúng ngay bãi phân của người nông dân ở bờ ruộng, thần biến thành con bọ hung. Từ đấy, giống bọ hung phải chui rúc trong đống phân. Phải chi vị thần này nói đúng câu quyết, thì con người sẽ lột da sống mãi, các cô khỏi phải đi mỹ viện lột da mặt làm đẹp (!)
Con rắn quấn quanh chiếc gậy là biểu tượng của Y khoa. Điều này có nguồn gốc từ thần thoại Hy lạp và thoại La Mã, thần Hermes và thần Asklepios. “Về truyền thuyết, rắn là một loài vật được nhiều nền văn hoá, tôn giáo và truyền thuyết nhắc đến, thậm chí được sùng kính. Một số bộ tộc Phi châu, bộ tộc Ấn độ cổ đại, đạo Hin-đu (từ khoảng thế kỷ 6 đến 4 trước Công nguyên) còn thờ cúng rắn trong các buổi lễ nghi thức. Thế tại sao rắn được sùng kính như vậy. Người ta cho rằng, rắn nó nằm trong một lớp vỏ bọc, và theo niềm tin của các bộ tộc này, họ cho rằng rắn có khả năng thay vỏ để trẻ hoá và kéo dài tuổi thọ. Và họ tin rằng rắn sống trường sinh bất lão…Ở Ai cập cổ đại các mẫu rắn được dùng trong các kiểu viết chữ tượng hình. Ở Trung quốc và cả Việt Nam rắn là một loại thuốc trị được nhiều chứng bệnh..”
(Nguyễn Đình Nguyên- ttp://www.ykhoa.net/binhluan/nguyendinhnguyen/NDN001.htm)
26 tháng chạp Nhâm Thìn (Tháng 2.2013)
Bùi Công Thuấn
1.Người tuổi con rắn
Tôi có mấy người bạn nữ, tuổi Tỵ, đều cô độc. Có người tuổi Tỵ lớn (49), có người tuổi Tỵ nhỏ (37). Trong khoa Tử Vi, người phụ nữ tuổi Tỵ ở cung Mệnh và Phu đều có sao Cô Quả (Cô Thần, Quả Tú). Có hai sao này thì dù có nằm bên chồng vẫn cảm thấy thui thủi một mình. Người cãi số mệnh, nhắm mắt lấy liều thì chồng cũng chẳng ra gì. Tôi thực sự chia sẻ cái khát vọng sâu xa của người phụ nữ ở họ, nhưng không sao giải thích được tại sao bạn gái tuổi Ty lại khó lấy chồng như vậy, khó hơn cả tuổi Dần? Những người phụ nữ có dáng đi lưng uốn vặn như lưng rắn thì cực kỳ gian dâm. Người mắt rắn thuộc tướng đại ác. Mắt nhỏ và dài, xanh lè, đuôi chẻ, là kẻ giết người không gớm tay, chỉ thua kẻ mắt tam giác, bậc nhất trong thập ác. Năm nay, người tuổi Tỵ (năm tuổi) gặp vận hạn lao đao, bị quậy đến chóng mặt, bởi Tử Vi có nhóm đại sát tinh xâm nhật. 2 Kình Dương, 2 Tang Môn, 2 Thiên Khốc, 2 Bạch Hổ xung chiếu hạn. Người tuổi Tỵ phải phòng hỏa, phải giải vía cọp may ra mới đỡ chuyện đau buồn (Tang Khốc) (Ấy là tôi nghe người ta tán vậy). “Đức trọng quỷ thần kinh”, người có phúc đức dày thì chẳng quỷ thần nào quậy phá được…
2. Sấm Trạng Trình
Nhắc tới năm rắn, khi còn nhỏ tuổi, tôi đã nghe truyền tụng sấm Trạnh Trình. Người ta bàn nhiều câu về nhiều sự kiện vào những thời điểm khác nhau. Chẳng hạn.
Nói về khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học (quê Vĩnh Bảo):
Một mình yên ngựa ai sùng bái
Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay
Nói về việc Tây rút khỏi Việt Nam :
“Bao giờ trúc mọc trên chì
Voi đi trên giấy Tây thì về Tây”
(Khi xuất hiện đồng tiền kẽm có khóm trúc, đồng tiền giấy có in hình con voi)
Nói về chiến tranh, các cụ luận câu này. Ấy là hồi còn chiến tranh, tương lai còn xa mờ, ai cũng mong hòa bình.
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ khổ đao binh
Mã đề , Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu liên lai kiến thái bình
(Cuối năm Rồng, đầu năm Rắn thì chiến tranh bắt đầu. Bốn phương khổ vì gươm đao tràn lan. Cuối năm Ngựa, năm Dê anh hùng không còn ai. Năm Thân năm Dậu mới có thái bình)
Người ta đem những câu sấm này để luận về chiến tranh Việt Nam. Cuối năm 1964 (Giáp Thìn), đầu năm 1965 (Ất Tỵ) nhân vụ Vịnh Bắc bộ, Mỹ đánh tràn ra miền Bắc, và ào ạt đổ quân Mỹ vào miến Nam thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ. Mức độ tàn khốc, ác liệt chưa bao giờ từng có trước đó. Tổng tiến công Mậu Thân (1968) làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ. Thế nhưng Thân Dậu liên lai (1968-1969) vẫn chưa thấy hòa bình ở đâu. Đế Quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược Việt Nam Hóa Chiến Tranh (1968-1972) . Chỉ khi thất bại, chúng mới chịu ký hiệp định Paris. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta còn tiếp tục cho đến năm 1975 (Ất Mão), đất nước mới hòa bình thống nhất. Hóa ra sấm chỉ là sấm, và ứng vào thời nào chẳng ai biết.
3. Rắn trả thù ba đời ?!
Nói về rắn thì giai thoại Nguyễn Trãi bị rắn báo oán là ly kỳ bậc nhất. Sách Tang thương ngẫu lục đã ghi lại :” Nay xét mồ mả tổ tiên ông tại làng Nhị Khê thì huyệt táng giữa khu ruộng bằng phẳng. Người thì nói rằng đó là kiểu đất tướng quân mở cờ, kẻ lại bảo đó là kiểu đất tướng quân cụt đầu, bởi vì ở hướng Nam của mả có cái gò hình con rùa quay đuôi lại. Bản Kiểm ký của Hoàng Phúc có ghi rằng: Nhị Khê mạch đoản, họa thảm tru di, tức là khu đất này.
Tương truyền, khi còn chưa được hiển đạt, ông dạy học trò ở làng Nhị Khê. Một hôm, ông trỏ cái gò nhỏ ngoài đồng và bảo học trò rằng:
- Ngày mai các anh ra phạt cỏ gò ấy để lấy đất dựng nhà mà học.
Học trò vâng lời. Tảng sáng hôm sau, ông mơ thấy một người đàn bà tới nói với ông rằng:
- Tôi còn yếu người và con thì còn nhỏ, xin ông hãy thư thư cho vài ba bữa để tôi còn kịp dọn đi nơi khác.
Tỉnh dậy, ông vội chạy ra đồng xem thì học trò đã dọn gò đất xong rồi. Họ bắt được hai quả trứng rắn. Ông hỏi thì họ nói:
- Vừa rồi thấy có con rắn, chúng con đánh nó cụt đuôi và nó đã chạy mất.
Ông cầm hai quả trứng rắn đem về cất giữ. Đêm đêm chong đèn đọc sách thì có con rắn trắng bò trên xà nhà, máu từ đuôi nó chảy xuống, rơi đúng chữ đại nghĩa là đời, thấm ướt đến ba tờ giấy liền. Ông tự hiểu và than rằng:
- Nó sẽ báo oán ta đến ba đời.
Hai trứng rắn nở ra được hai con, một dài một ngắn, ông sai đem thả xuống sông Tô Lịch ở làng bên. Nay, những rắn ấy đều được tôn làm thần sông.
Sau khi đã hiển đạt, hàng ngày từ triều về, qua phố hàng chiếu ông vẫn thường gặp một người con gái nhan sắc rất mặn mà. Hai bên dùng thơ vui đùa, rồi yêu mến nhau, ông cưới cô gái ấy về làm thiếp. Trong năm Thiệu Bình, người con gái ấy được ra vào nơi cung cấm, được hoàng đế Lê Thái Tông cho làm Nữ Học Sỹ. Khi Hoàng Đế băng, triều đình đem cô ra tra khảo thì cô khai là Nguyễn Trãi sai cô giết Hoàng Đế. Bởi lẽ này mà ông bị trị tội. Khi đem ra hành hình, người con gái ấy liền hóa thành một con rắn, bò xuống nước mà đi mất”.(Nguyễn Khắc Thuần- http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=93093)
Khi học đại học, tôi còn nghe một GS Đại học nói về Nguyễn Trãi kể tiếp rằng, lúc Nguyễn Trãi bị đem hành hình, có người đàn bà đến gần ông để xin một kỷ vật, ông bảo bà ta ngửa bàn tay ra, rồi ông nhổ bọt vào tay, bảo bà mang về. Bà ấy về mang thai, sinh ra Anh Vũ. Khi Nguyễn Trãi bị nạn, bà ấy trốn lên rừng, về sau khi Vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, nhà vua có cho tìm kiếm con cháu Nguyễn Trãi để ban ơn. Anh Vũ được phong chức và được cử đi sứ Trung Quốc. Khi thuyền Anh Vũ đến Động Đình Hồ thì có con giao long hiện lên đòi mạng. Anh Vũ bảo, ông đang đi sứ, chừng nào xong việc sẽ trả mạng. Con giao long lặn mất. Khi Anh Vũ trở về, con giao long hiện lên cuốn Anh Vũ xuống hồ. Ứng nghiệm với chữ “đại”, con rắn báo oán ba đời.
Ai cũng biết giai thoại này là bịa đặt. Nhà Lê đã sát hại Nguyễn Trãi và bịa đặt ra chuyện Lệ Chi Viên và con rắn báo oán để chạy tội. Ngay từ khi Lê Lợi còn sống, nhà Lê đã muốn trừ diệt hết con cháu nhà Trần. Ông Ngoại Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán bị bức tử. Những người bạn của Nguyễn Trãi như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo cũng bị nhục hình, bản thân Nguyễn Trãi cũng từng bị bắt giam trước đó. Nếu rắn biết báo oán thì những bợm nhậu thịt rắn ngày nay chắc đã chết sạch. Bợm nhậu vào quán, chủ đem ra một lồng rắn, khách thích con nào thì chỉ. Chủ quán treo cố con rắn lên, cắt đuôi hứng lấy máu, rạch bụng rắn, cắt lấy cái mật bỏ vào ly rượu, rồi đem ly rượu cho khách uống trước cho bổ, sau đó xơi món rắn bằm hoặc cháo rắn. Người ta bảo ăn thịt rắn ngon hơn thịt gà và rất bổ. Ăn một bữa khỏe tới 6 tháng.
4. Rắn cũng đáng yêu
Những năm 1960 tôi ở miền tây. Mùa nước nổi, cánh đồng nước mênh mông, rắn thường bò vào nhà. Ở những vì kèo thường có vài con rắn khoanh quấn lấy thân kèo, con nào cũng bằng bắp tay. Nó ngủ rất êm. Cũng không ai làm phiền nó, vì nó bắt chuột trên mái nhà. Chỉ khi nào cần nhậu, người ta mới móc xuống một con làm mồi. Miền tây hồi đó cá tôm ên hề nên dân nhậu lâu lâu mới xơi món rắn, bởi có nhiều món hảo hơn. Cá lóc cỡ một kg, đắp đất sét, nướng rơm ăn tuyệt ngon. Đi câu tôm, dân câu bao giờ cũng đem theo quầy dừa. Câu được tôm, bỏ vào nước dừa, tôm chím đỏ, ăn thật tuyệt. Món rắn phải làm cầu kỳ hơn , còn phải kiêng không được làm thịt rắn trên thớt me, ăn bị độc.
Thời học trò lội ruộng ấy, tôi có ấn tượng đặc biệt với bài thơ Rắn Đầu Biếng Học của Lê Quý Đôn. Người ta kể rằng, một hôm, Tiến sĩ Vũ Công Trấn đến thăm Tiến sĩ Lê Phú Thứ là người bạn cùng đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1724 (sau đổi là Lê Trọng Thứ). Nghe con bạn là Lê Quý Đôn còn trẻ mà đã hay chữ, nên ông Trấn lấy đầu đề “Rắn đầu biếng học” để thử tài. Ít phút sau, Lê Quý Đôn đã làm xong bài thơ dưới đây:
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà!
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da.
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!
Dân lội ruộng, biết nhiều loại rắn, đọc bài thơ sẽ thấy thú vị vô cùng. Lê Quý Đôn đưa được tên nhiều loài rắn vào bài thơ. Đó là rắn Liu Điu, rắn Hổ lửa, rắn Mai Gầm, rắn Ráo, rắn Hổ Mang. Nghệ thuật chơi chữ đạt đến chỗ tuyệt diệu trong phép đối, luật bằng trắc của thơ Đường luật, đồng thời diễn đạt tình ý sâu sắc và tinh tế. Lê Quý Đôn nhập thân vào vai ông Trấn để dạy dỗ, nhưng đồng thời cũng diễu cợt ông Trấn. Ẩn chứa đàng sau câu chữ còn là sự thể hiện tình nghĩa mẹ cha, và thế giá gia tộc. Nó cũng bộc lộ khẩu khí của Lê Quý Đôn, một bậc tài danh sau này. Giá trị bài thơ còn ở cách Việt hóa thơ Đường luật. Bài thơ đậm chất dân dã ở cách dùng từ nôm na gần gũi (rát cổ, ráo mép, tuồng lếu láo, lằn lưng, kẻo hổ mang…) Bài thơ này chưa có bài họa xứng tầm. Thơ Đường luật hôm nay khó có bài nào sánh được.
5. Tại sao nhân loại ghét rắn?
Nhân loại có ấn tượng xấu về rắn bởi Kinh Thánh nói khá nhiều về con vật này. Thời Adam-Eva còn sống trong Vườn Địa Đàng, ở giữa vườn có một cây khôn ngoan, gọi là cây trái cấm. Đức Chúa cấm Adam-Eva không được ăn trái cây ấy. Con rắn đã cám dỗ người đàn bà ăn trái cấm. Từ đó loài người đã bị trừng phạt. Sách Sáng Thế Ký kể rằng (chương 3):
” 1 Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?2 Người đàn bà nói với con rắn: "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn.3 Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: "Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết."4 Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu!5 Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác."6 Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn.7 Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân…
Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.15 Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
16 Với người đàn bà (Eva), Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi."
17 Với con người (Adam), Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: "Ngươi đừng ăn nó", nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. 18 Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. 19 Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Đức Chúa là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen để cày cấy đất đai.24 Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh.”
Đoạn trích Sáng Thế Ký gợi ra nhiều điều suy gẫm. Vì con rắn cám dỗ (ma quỷ) nên loài người phải khổ, nhất là người phụ nữ, và con người là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã lường trước mọi hiểm nguy và dạy môn đồ : “Này, Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói, Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”(Mt 10:16). Ngài cũng nguyền rủa các Kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình là loài rắn độc : "Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào. Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, cho nên các người sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn. Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục ?(Mt 23. 13-33)
Phật thọai cũng có câu truyện Đức Phật hàng phục rắn :
” Một lần, đức Phật dừng chân ở núi Linh Thứu nước Ma Kiệt Ðà, thuyết pháp giảng kinh cho rất nhiều đệ tử. Lúc đó, vua nước Ma Kiệt Ðà là Tần Bà Sa La Vương, dẫn đầu một đoàn đại thần rất đông lên núi Linh Thứu, chắp tay cung linh lễ chân Phật rồi xin ngài hang phục con rắn ở rừng trúc lâm.
Ðức Phật bằng lòng giúp nhà vua, nên một hôm, Ngài một mình một thân đi bộ thẳng vào khu rừng trúc, nơi con rắn độc đang ẩn náu. Ðức Phật vận dụng lực từ bi, từ mỗi đầu ngón tay của Ngài phát ra năm tia ánh sáng năm mầu. Những tia ánh sáng năm mầu rực rỡ này chiếu lên thân con rắn khiến nó lập tức trở nên hiền lành, độc khí tiêu tan, tâm hoan hỉ phát sinh, nó ngóc đầu lên chiêm ngưỡng đức Phật
Ðức Phật biết là con rắn độc đã được Ngài điều phục rồi, nên nói với nó rằng:
- Trưởng giả Hiền Diện, trong những kiếp trước ngươi là người keo kiệt tham lam, ngươi có biết tội của mình đã làm không? Trong thời quá khứ, ngươi tuy rất giàu sang phú quý nhưng tâm keo kiệt và đố kỵ rất mạnh, ngươi chuyên môn dối trá gạt người, không có việc ác nào mà ngươi không làm, chưa từng một lần bố thí vật gì cho ai. Cái người hành khất đáng thương kia đến xin, ngươi đã không cho hạt gạo nào thì chớ, còn nổi giận nhìn người ta, dùng ác khẩu mắng người ta. Vì thế kiếp này ngươi mới phải chịu quả báo mang lấy hình thù xấu xí, tại sao ngươi lại chưa chịu phản tỉnh mà sám hối? Tại sao lại còn sinh tâm ác độc mà nhiễu hại những người đi ngang qua đây? Tội nghiệp của ngươi đã nặng lắm rồi, bây giờ còn tiếp tục tạo nữa, vậy ngươi muốn chịu khổ cho tới chừng nào mới ngưng? Nếu ngươi cứ theo đà này thì quả báo khổ đau về sau sẽ vô cùng vô tận, cả ngàn vạn kiếp cũng không thoát ra được.
Ðức Phật thấy nó đã rõ ràng tự biết tội mình và thật lòng muốn cầu giải thoát, nên giáo hóa nó.
Rắn độc nghe thế, tự nhiên biết mở miệng ra nói cho đức Phật hiểu được:
- Thế Tôn, con không dám làm trái lời giáo huấn từ bi của Ngài, từ nay về sau con thề nguyện sẽ phụng hành.
- Thế thì hãy chui vào bát của ta
Ðức Phật vừa dứt lời, con rắn đã tuân lệnh ngay, bò vào bát của Ngài. Ðức Phật bèn ôm bát ra khỏi rừng trúc. Nhà vua cùng rất nhiều người nghe tin ấy, vội vàng vào rừng xem ngã ngũ câu chuyện ra sao. Khi con rắn nhìn thấy người ta, lòng cảm thấy hổ thẹn và chán ghét thân hình rắn độc của mình, liền chết ngay tại chỗ. Mệnh vừa dứt, nhờ nó đã chân thành sám hối với tâm muốn cải thiện, nên được sinh lên cung trời Ðao Lợi hưởng phúc cõi trời. (http://truyenviet.com/truyen-phat-giao/84-dieu-hanh-giao-trinh/1011-hoi-loi-sinh-thien)
Cả hai bậc thánh nhân đều chỉ ra rắn là loài độc ác,” chuyên môn dối trá gạt người, không có việc ác nào mà ngươi không làm,..”và hậu quả là không tránh khỏi. “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục ?”; “quả báo khổ đau về sau sẽ vô cùng vô tận, cả ngàn vạn kiếp cũng không thoát ra được. Không biết những kẻ tâm địa rắn độc có biết sợ những lời cảnh báo như thế không nhỉ ?!
6. Rắn và khát vọng của con người
Truyện dân gian Việt Nam kể rằng, sau khi hạt lúa thần bị bà góa đập vỡ, con người phải cày cấy vất vả quá thì kêu trời, trời ơi là trời! trời ơi ngó xuống mà xem! sao khổ cực thế này. Trời chịu không thấu tiếng kêu của dân nên sai một vị thần xuống trần. Vị thần này mặc áo thụng xanh, đội mũ cánh chuồn, đem xuống một nắm cỏ và một nắm lúa. Trời bảo gieo nắm lúa cho dân nhờ. Khi xuống trần gian, bao nhiêu trò vui làm vị thần này quên mất không biết nắm nào là cỏ, nắm nào là lúa. Đến giờ phải về chầu trời, thần vứt đại một nắm hạt xuống đất. Trời yêu trí phen này dân có lúa ăn, khỏi phải vất vả. Nhưng trời chưa kịp ngồi nóng đít thì tiếng dân kêu trời lại dội lên, thảm thiết hơn. Trời ngó xuống, trần gian cỏ mọc ngút ngàn. Giận quá, trời phất tay một cái, vị thần gieo cỏ rơi xuống đất, biến thành con trâu, từ đó trâu phải ăn cỏ.
Để sửa lỗi, Trời sai một vị thần khác xuống trần gian, ban cho dân một ân huệ đặc biệt là không phải chết. Trời cho vị thần một câu quyết :”Người già người lột, rắn già rắn tụt vào săng”(săng là cái quan tài, ý nói rắn già thì rắn chết, vì rắn là loài độc ác). Vị thần thứ hai xuống trần. Bao nhiêu điều hấp dẫn đã làm vị thần này quên mất câu quyết. Rắn già rắn lột hay người già người lột? Đến giờ chầu trời, vị thần ấy nói cho xong “Rắn già rắn lột, người già người tụt vào săng”. Trời yên trí phen này dân không còn nguyền rủa trời nữa. Nhưng hỡi ôi, trời chưa kịp ngồi yên ghế thì tiếng khóc thương của dân lại vang thấu trời. Trời ngó xuống trần gian, chỗ này người già chết, chỗ kia người trẻ chết. Trời biết vị thần thứ hai đã đọc sai câu quyết, vì thế loài người phải chết. Giận quá, trời phất tay một cái, vị thần thứ hai rơi xuống trần, đúng ngay bãi phân của người nông dân ở bờ ruộng, thần biến thành con bọ hung. Từ đấy, giống bọ hung phải chui rúc trong đống phân. Phải chi vị thần này nói đúng câu quyết, thì con người sẽ lột da sống mãi, các cô khỏi phải đi mỹ viện lột da mặt làm đẹp (!)
Con rắn quấn quanh chiếc gậy là biểu tượng của Y khoa. Điều này có nguồn gốc từ thần thoại Hy lạp và thoại La Mã, thần Hermes và thần Asklepios. “Về truyền thuyết, rắn là một loài vật được nhiều nền văn hoá, tôn giáo và truyền thuyết nhắc đến, thậm chí được sùng kính. Một số bộ tộc Phi châu, bộ tộc Ấn độ cổ đại, đạo Hin-đu (từ khoảng thế kỷ 6 đến 4 trước Công nguyên) còn thờ cúng rắn trong các buổi lễ nghi thức. Thế tại sao rắn được sùng kính như vậy. Người ta cho rằng, rắn nó nằm trong một lớp vỏ bọc, và theo niềm tin của các bộ tộc này, họ cho rằng rắn có khả năng thay vỏ để trẻ hoá và kéo dài tuổi thọ. Và họ tin rằng rắn sống trường sinh bất lão…Ở Ai cập cổ đại các mẫu rắn được dùng trong các kiểu viết chữ tượng hình. Ở Trung quốc và cả Việt Nam rắn là một loại thuốc trị được nhiều chứng bệnh..”
(Nguyễn Đình Nguyên- ttp://www.ykhoa.net/binhluan/nguyendinhnguyen/NDN001.htm)
26 tháng chạp Nhâm Thìn (Tháng 2.2013)
Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013
VỚI VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI
VỚI VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI
Bùi Công Thuấn
Năm 1988 tôi được kết nạp vào Hội VHNT Đồng Nai, ban Âm Nhạc. Trong lễ kết nạp, cố nhà văn Nguyễn Đức Thọ (NĐT) có phỏng vấn tôi và đưa tin. Tôi nhớ mãi nụ cười hiền lành và tác phong lanh lợi của anh. Sau này khi viết phê bình văn chương, tôi mới đọc văn NĐT. Hồi Ức Làng Che và Dấu Chân Tiên của anh thực sự thuyết phục tôi. Anh viết về những bi kịch dữ dội của con người Việt Nam trong những khúc quanh khốc liệt của lịch sử. Tôi nhìn thấy ở anh triển vọng một nhà văn viết truyện ngắn hay của văn chương VN. Rất tiếc anh lại ra đi quá sớm. Những tài năng thực sự chỉ lóe sáng như một ánh sao băng giữa trời.
Tôi ở xa, rất ít có dịp gặp gỡ các nhà văn Đồng Nai. Những năm 1980, thỉnh thoảng tôi có nhìn thấy nhà văn Lý Văn Sâm đi vào văn phòng Hội. Tôi là kẻ hậu bối, chỉ đứng xa mà ngưỡng phục. Ông không chỉ là nhà văn nổi tiếng, mà nhìn dáng ông, tôi có nhiều điều ngẫm ngợi. Một con người vóc dáng nhỏ thó, gầy guộc, thanh thoát vậy mà lại sống và viết trong lòng địch mấy chục năm, chịu bắt bớ giam cầm vì ngòi bút của mình. Ở ông toát ra một sức mạnh mà tôi không hiểu nổi. Sức mạnh của một con người, một nhà văn sống có lý tưởng. Hiểm nguy, gian khổ như vậy mà ông vẫn viết được, viết hay và viết rất sung sức. Ít có nhà văn Đồng Nai nào viết về đất nước con người Đồng Nai hay như ông. Hẳn những trang văn của ông sẽ còn là thách thức đối với những nhà văn trẻ Đồng Nai, và tôi nghĩ khó có nhà văn trẻ Đồng Nai nào vượt qua ông, bởi họ không thể có một lý tưởng, một đời sống chiến đấu cho lý tưởng như ông, và hơn thế, có một tấm lòng với Đồng Nai và một tài năng sáng tạo có nhiều nét độc đáo như ông.
Cho đến giờ, tôi vẫn còn nợ nhà văn Hoàng Văn Bổn một món nợ tinh thần, món nợ tự nguyện. Đó là tôi chưa thể viết được một công trình nghiên cứu về ông. Bởi ông không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà văn hóa lớn của Đồng Nai. Những lần gặp ông ở văn phòng Hội, lúc nào tôi cũng thấy ông ưu tư. Ông bảo tôi muốn đọc tác phẩm nào của ông thì cứ ghé nhà. Trước một khối lượng tác phẩm đồ sộ của ông, tôi biết mình không đủ sức khám phá hết tài năng nhiều mặt của ông. Điều làm tôi kính phục ông là ông sống và viết cho một lý tưởng cao đẹp, và ông đã có nhiều đóng góp cho văn học nghệ thuật chung của cả nước, như một nhà văn lớn. Tôi gọi ông là nhà văn lớn bởi ông có nhiều bộ tiểu thuyết sử thi viết về Đồng Nai, hẳn nhiên ông đã đổ hết công sức và tâm huyết của ông cho những bộ sử thi ấy. Và hẳn nhiên, ông đã sống đắm mình trong thời đại bão táp Cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc thì ông mới có thể phản ánh được thời đại lịch sử vẻ vang ấy. Những nhà văn như ông ở Đồng Nai chỉ có Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm. Nhà văn trẻ không ai có thể theo chân ông được. Và tôi biết, ông sẽ còn mãi ưu tư.
Tất nhiên là mỗi nhà văn có một không gian nghệ thuật riêng của mình, có ưu thế riêng về khả năng thể hiện, và có những nhiệm vụ riêng mà người cầm bút tự nguyện dấn thân. Gần đây Đàn Ống Tre Bên Kia Sông của Khôi Vũ được nhà xuất bản Đồng Nai chọn in tài trợ, là một dấu chỉ Khôi Vũ là nhà văn Đồng Nai có cốt cách riêng. Tôi có “duyên” với nhà văn Khôi Vũ từ bên ban Âm Nhạc. Anh giúp tôi in tuyển tập nhạc, nhân dịp tôi tổ chức một đêm nhạc kỷ niệm 30 năm viết ca khúc (tháng 11. 1998). Trong lời giới thệu tập sách, anh phát hiện ra trong các ca khúc của tôi có những nốt thăng, giáng bất thường, giống như nhưng thăng giáng trong đời thực của tôi. Điều ấy làm tôi rất thú vị, bởi phát hiện ra anh đọc nhạc của tôi rất sâu sắc. Hèn gì mà (anh kể với tôi), trong một năm người ta mời anh tham gia làm giám khảo tới mấy chục cuộc hội thi âm nhạc.
Có lần tôi hỏi anh, anh làm việc xã hội nhiều như vậy thì anh lấy đâu ra thời gian để viết văn, anh chỉ cười (chắc là bí mật nghề nghiệp). Thực sự là tôi thán phục sức làm việc và sức viết của anh. Anh cho xuất bản tác phẩm đều đều, và tác phẩm của anh sống lâu bền trong lòng bạn đọc. Ở Đồng Nai, tôi đánh giá cao nỗ lực khám phá sáng tạo của anh. Lời Nguyền Hai Trăm Năm của anh là một khám phá về kết cấu hai tuyến truyện song song khá độc đáo. Đến Vỡ Dần Trong Mắt, anh có một bước cách tân khác về lối viết. Anh có tài kể những chuyện đời thường, dung dị nhưng giàu ý nghĩa tư tưởng. Cách kể của anh bộc trực nhưng ý nhị khôn ngoan. Tôi học được ở anh nhiều bài học đối với người cầm bút. Lần anh giúp tôi in cuốn Chút Tình Tri Âm, anh bảo, tôi chưa in cuốn nào vất vả như in cuốn này, tranh cãi nhiều lần với nhà xuất bản để bảo vệ bài viết của tôi. Sách được in đẹp, đầy đặn , đặt được một cột mốc trong đời viết phê bình văn chương của tôi. Cả những khi ngòi bút của tôi mất lửa, anh cũng giúp tôi giữ gìn nhiệt tình với văn chương.
Thực sự thì khi viết phê bình văn chương, tôi bị mất lửa nhiều lần. Có lẽ tại tôi sinh bất phùng thời, không có được một không gian phê bình văn chương đúng nghĩa, tức là phê bình để khám phá tài năng và giá trị văn chương. Và vì thế bài viết của tôi dễ đụng chạm. Tôi viết phê bình văn chương chỉ vì một chút tình tri âm, không vì bất cứ điều gì. Thế nhưng người cầm bút viết văn làm thơ hôm nay lại vì rất nhiều thứ ngoài văn chương. Thật khó tìm được một nhà thơ nhà văn chỉ viết vì cái đẹp nghệ thuật, chỉ viết để làm đẹp cuộc đời, làm giàu đẹp đời sồng tinh thần của nhân dân và làm giàu có vốn văn hóa của dân tộc. Lúc sinh thời, nhà thơ Hải Ba đọc bài tôi viết về thơ ông, ông đã phủ định thẳng thừng những nhận xét của tôi. Tôi hiểu ông ái ngại về những nhận xét ấy, vì nó dễ làm tổn thương con người đảng viên của ông, dù rằng bài viết của tôi không nói gì đến Hải Ba, con người xã hội.
Mãi sau này tôi mới ngộ ra một điều, trong thực tế không có chỗ cho nhà phê bình độc lập (tôi tạm dùng từ này để chỉ phê bình khám phá các tài năng và giá trị văn chương). Ở các Hội văn nghệ địa phương, chức năng của Hội là làm văn nghệ phục vụ chính trị. Hội có chức năng phát triển văn nghệ quần chúng. Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã đề ra quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ cụ thể:” Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, có sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân.- Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời tập trung xây dựng phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. “Quy định số 284-QĐ/TW ngày 5-2-2010 của Ban Bí thư đã khẳng định: “Công tác cán bộ lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật là công tác cán bộ của Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật…” Các quan điểm ấy đã xác lập tiêu chí chính trị là tiêu chí tiên quyết của văn nghệ. Vì thế Hội văn nghệ hay tạp chí văn nghệ của Hội trước hết, và tiên quyết phải phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Vấn đề chất lượng nghệ thuật không phải là quyết định. Cũng vì thế vấn đề phê bình văn nghệ , trước hết phải trên tiêu chí chính trị, lấy việc phục vụ các nhiệm vụ cách mạng là thang giá trị. Thật cũng dễ hiểu Hội kết nạp tất cả những ai có khả năng cầm bút phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng, mà không bận tâm nhiều đến tài năng sáng tạo. Tôi đã đọc văn nghệ Đồng Nai với tinh thần ấy.(Tôi cũng đọc VNĐN với tiêu chí khác, nhưng ở một diễn đàn khác, tiêu chí khám phá những cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật)
Tôi đã đọc văn của Anh Hoàng, Trần Thúc Hà, Tấn Hoài, Lê Đăng Kháng, Phạm Thanh Quang, Đào Sỹ Quang, Nguyễn Một, Dương Đức Khánh, Trần Thu Hằng, Hoàng Ngọc Điệp, Trâm Oanh, Hạnh Vân… Tôi đã đọc thơ Cao Xuân sơn, Trương Nam Hương, Hải Ba (trước kia), Lê Thanh Xuân, Đàm Chu Văn, Đỗ Minh Dương, Xuân Bảo, Hồng Phương, Đào Trọng Thử, Nguyễn Hoài Nhơn, Ngọc Thùy Giang, Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Đức Phước, Tiêu Thanh Giang, Khương Hà Bùi, Nguyễn Thị Khánh…(Có tác phẩm tôi đã viết thành bài đăng báo, có tác phẩm tôi lưu giữ trong kho tư liệu, để dành viết). Tôi thấy rằng đội ngũ nhà thơ nhà văn Đồng Nai sung sức, say mê văn chương, thực hiện tốt trách nhiệm nhà văn - chiến sĩ. Tác phẩm phục vụ tốt cho nhiệm vụ cách mạng của Đồng Nai (xin đọc tác phẩm của các trại sáng tác về học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh, đề tài Công nghiệp, đề tài Tam Nông, đề tài nhà giáo, nhà trường…). Cá nhân mỗi người cầm bút đều có những nỗ lực âm thầm vượt lên chính mình. Những vấp váp lúc này lúc khác là trong quá trình vượt lên để trưởng thành, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn. Không có những sai phạm nặng nề như Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất của Nguyễn Khải hay Nhật Ký Nguyễn Đăng Mạnh…Có nhà văn Đồng Nai đã vươn tầm vóc đến với bạn đọc cả nước, tác phẩm đạt giải của Hội Nhà Văn, đó là tín hiệu đáng mừng của Văn Nghệ Đồng Nai.
Là người viết phê bình văn chương, tôi quan tâm đến tác phẩm và giá trị tác phẩm (tôi không dùng chữ chất lượng). Bởi khi xét giá trị tác phẩm, thì tùy tiêu chí đánh giá mà tác phẩm có giá trị hay không. Khi đã lấy tiêu chí phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng làm chuẩn, kết hợp với nhiệm vụ phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng làm nhiệm vụ trọng tâm thì tiêu chí về chất lượng nghệ thuật là chuẩn mực hạng hai. Và ngay cả lấy chuẩn mực nghệ thuật, thì thế nào là hay, thế nào là không hay cũng không dễ phân định rạch ròi. Thế nên nhiêu khi tôi cũng băn khoăn về một vài việc liên quan đến tiêu chí. Chẳng hạn giải Trịnh Hoài Đức đặt ra tiêu chí tác phẩm phải có ít nhất 50 phần trăm nội dung viết về đất nước con người Đồng Nai. Điều này đúng với yêu cầu chính trị, nhưng thật khó cho nhà văn. Bởi văn chương cần phải vượt qua cái ao làng, vươn tới cộng đồng cả nước và cộng đồng thế giới. Cuốn Chút Tình Tri Âm của tôi được giải khuyến khích vì tiêu chí này, mặc dù tôi mất 4 năm mới hoàn thành, trong khi có bài hát viết về Đồng Nai lại đạt giải A, giải B. Thú thực nếu có cảm hứng, một nhạc sĩ có thể chỉ mất 30 phút là viết xong một ca khúc, không cần mất 4 năm như tôi. (Hôm dự trại sáng tác Đà Lạt 7.2012, trong một tuần tôi viết được 4 ca khúc. Các nhạc sĩ trong ban âm nhạc nghe tôi trình bày đều không chê -tôi không dám nói rằng các nhạc sĩ đều khen hay, bởi ca khúc còn tùy vào ca sĩ, hòa âm phối khí và kỹ thuật thu âm). Vâng, còn nhiều điều băn khoăn, nhưng điều quan trọng đối với một người cầm bút là anh có viết được không, tác phẩm của anh có được cộng đồng công nhận hay không.
Tất nhiên là chính quyền và nhân dân Đồng Nai mong mỏi các văn nghệ sĩ Đồng Nai viết được những tác phẩm lớn. Đó là món nợ mà chưa nhà văn nhà thơ Đồng Nai nào trả được (ngoại trừ Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn). Ngày xưa (1925-1940), M.Sôlôkhôp chỉ viết về sông Đông cũng trở thành nhà văn thế giới (tác phẩm Sông Đông Êm Đềm). Sông Đồng Nai vẫn đang nhẫn nại chờ các nhà văn nhà thơ Đồng Nai viết về mình, như thể Sông Đồng Nai Êm Đềm (tôi giả định vậy).
Tháng 1.2013
Bùi Công Thuấn
Năm 1988 tôi được kết nạp vào Hội VHNT Đồng Nai, ban Âm Nhạc. Trong lễ kết nạp, cố nhà văn Nguyễn Đức Thọ (NĐT) có phỏng vấn tôi và đưa tin. Tôi nhớ mãi nụ cười hiền lành và tác phong lanh lợi của anh. Sau này khi viết phê bình văn chương, tôi mới đọc văn NĐT. Hồi Ức Làng Che và Dấu Chân Tiên của anh thực sự thuyết phục tôi. Anh viết về những bi kịch dữ dội của con người Việt Nam trong những khúc quanh khốc liệt của lịch sử. Tôi nhìn thấy ở anh triển vọng một nhà văn viết truyện ngắn hay của văn chương VN. Rất tiếc anh lại ra đi quá sớm. Những tài năng thực sự chỉ lóe sáng như một ánh sao băng giữa trời.
Tôi ở xa, rất ít có dịp gặp gỡ các nhà văn Đồng Nai. Những năm 1980, thỉnh thoảng tôi có nhìn thấy nhà văn Lý Văn Sâm đi vào văn phòng Hội. Tôi là kẻ hậu bối, chỉ đứng xa mà ngưỡng phục. Ông không chỉ là nhà văn nổi tiếng, mà nhìn dáng ông, tôi có nhiều điều ngẫm ngợi. Một con người vóc dáng nhỏ thó, gầy guộc, thanh thoát vậy mà lại sống và viết trong lòng địch mấy chục năm, chịu bắt bớ giam cầm vì ngòi bút của mình. Ở ông toát ra một sức mạnh mà tôi không hiểu nổi. Sức mạnh của một con người, một nhà văn sống có lý tưởng. Hiểm nguy, gian khổ như vậy mà ông vẫn viết được, viết hay và viết rất sung sức. Ít có nhà văn Đồng Nai nào viết về đất nước con người Đồng Nai hay như ông. Hẳn những trang văn của ông sẽ còn là thách thức đối với những nhà văn trẻ Đồng Nai, và tôi nghĩ khó có nhà văn trẻ Đồng Nai nào vượt qua ông, bởi họ không thể có một lý tưởng, một đời sống chiến đấu cho lý tưởng như ông, và hơn thế, có một tấm lòng với Đồng Nai và một tài năng sáng tạo có nhiều nét độc đáo như ông.
Cho đến giờ, tôi vẫn còn nợ nhà văn Hoàng Văn Bổn một món nợ tinh thần, món nợ tự nguyện. Đó là tôi chưa thể viết được một công trình nghiên cứu về ông. Bởi ông không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà văn hóa lớn của Đồng Nai. Những lần gặp ông ở văn phòng Hội, lúc nào tôi cũng thấy ông ưu tư. Ông bảo tôi muốn đọc tác phẩm nào của ông thì cứ ghé nhà. Trước một khối lượng tác phẩm đồ sộ của ông, tôi biết mình không đủ sức khám phá hết tài năng nhiều mặt của ông. Điều làm tôi kính phục ông là ông sống và viết cho một lý tưởng cao đẹp, và ông đã có nhiều đóng góp cho văn học nghệ thuật chung của cả nước, như một nhà văn lớn. Tôi gọi ông là nhà văn lớn bởi ông có nhiều bộ tiểu thuyết sử thi viết về Đồng Nai, hẳn nhiên ông đã đổ hết công sức và tâm huyết của ông cho những bộ sử thi ấy. Và hẳn nhiên, ông đã sống đắm mình trong thời đại bão táp Cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc thì ông mới có thể phản ánh được thời đại lịch sử vẻ vang ấy. Những nhà văn như ông ở Đồng Nai chỉ có Huỳnh Văn Nghệ, Lý Văn Sâm. Nhà văn trẻ không ai có thể theo chân ông được. Và tôi biết, ông sẽ còn mãi ưu tư.
Tất nhiên là mỗi nhà văn có một không gian nghệ thuật riêng của mình, có ưu thế riêng về khả năng thể hiện, và có những nhiệm vụ riêng mà người cầm bút tự nguyện dấn thân. Gần đây Đàn Ống Tre Bên Kia Sông của Khôi Vũ được nhà xuất bản Đồng Nai chọn in tài trợ, là một dấu chỉ Khôi Vũ là nhà văn Đồng Nai có cốt cách riêng. Tôi có “duyên” với nhà văn Khôi Vũ từ bên ban Âm Nhạc. Anh giúp tôi in tuyển tập nhạc, nhân dịp tôi tổ chức một đêm nhạc kỷ niệm 30 năm viết ca khúc (tháng 11. 1998). Trong lời giới thệu tập sách, anh phát hiện ra trong các ca khúc của tôi có những nốt thăng, giáng bất thường, giống như nhưng thăng giáng trong đời thực của tôi. Điều ấy làm tôi rất thú vị, bởi phát hiện ra anh đọc nhạc của tôi rất sâu sắc. Hèn gì mà (anh kể với tôi), trong một năm người ta mời anh tham gia làm giám khảo tới mấy chục cuộc hội thi âm nhạc.
Có lần tôi hỏi anh, anh làm việc xã hội nhiều như vậy thì anh lấy đâu ra thời gian để viết văn, anh chỉ cười (chắc là bí mật nghề nghiệp). Thực sự là tôi thán phục sức làm việc và sức viết của anh. Anh cho xuất bản tác phẩm đều đều, và tác phẩm của anh sống lâu bền trong lòng bạn đọc. Ở Đồng Nai, tôi đánh giá cao nỗ lực khám phá sáng tạo của anh. Lời Nguyền Hai Trăm Năm của anh là một khám phá về kết cấu hai tuyến truyện song song khá độc đáo. Đến Vỡ Dần Trong Mắt, anh có một bước cách tân khác về lối viết. Anh có tài kể những chuyện đời thường, dung dị nhưng giàu ý nghĩa tư tưởng. Cách kể của anh bộc trực nhưng ý nhị khôn ngoan. Tôi học được ở anh nhiều bài học đối với người cầm bút. Lần anh giúp tôi in cuốn Chút Tình Tri Âm, anh bảo, tôi chưa in cuốn nào vất vả như in cuốn này, tranh cãi nhiều lần với nhà xuất bản để bảo vệ bài viết của tôi. Sách được in đẹp, đầy đặn , đặt được một cột mốc trong đời viết phê bình văn chương của tôi. Cả những khi ngòi bút của tôi mất lửa, anh cũng giúp tôi giữ gìn nhiệt tình với văn chương.
Thực sự thì khi viết phê bình văn chương, tôi bị mất lửa nhiều lần. Có lẽ tại tôi sinh bất phùng thời, không có được một không gian phê bình văn chương đúng nghĩa, tức là phê bình để khám phá tài năng và giá trị văn chương. Và vì thế bài viết của tôi dễ đụng chạm. Tôi viết phê bình văn chương chỉ vì một chút tình tri âm, không vì bất cứ điều gì. Thế nhưng người cầm bút viết văn làm thơ hôm nay lại vì rất nhiều thứ ngoài văn chương. Thật khó tìm được một nhà thơ nhà văn chỉ viết vì cái đẹp nghệ thuật, chỉ viết để làm đẹp cuộc đời, làm giàu đẹp đời sồng tinh thần của nhân dân và làm giàu có vốn văn hóa của dân tộc. Lúc sinh thời, nhà thơ Hải Ba đọc bài tôi viết về thơ ông, ông đã phủ định thẳng thừng những nhận xét của tôi. Tôi hiểu ông ái ngại về những nhận xét ấy, vì nó dễ làm tổn thương con người đảng viên của ông, dù rằng bài viết của tôi không nói gì đến Hải Ba, con người xã hội.
Mãi sau này tôi mới ngộ ra một điều, trong thực tế không có chỗ cho nhà phê bình độc lập (tôi tạm dùng từ này để chỉ phê bình khám phá các tài năng và giá trị văn chương). Ở các Hội văn nghệ địa phương, chức năng của Hội là làm văn nghệ phục vụ chính trị. Hội có chức năng phát triển văn nghệ quần chúng. Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị đã đề ra quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ cụ thể:” Văn hóa, văn nghệ là một bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, có sứ mệnh phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân.- Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời tập trung xây dựng phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. “Quy định số 284-QĐ/TW ngày 5-2-2010 của Ban Bí thư đã khẳng định: “Công tác cán bộ lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật là công tác cán bộ của Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật…” Các quan điểm ấy đã xác lập tiêu chí chính trị là tiêu chí tiên quyết của văn nghệ. Vì thế Hội văn nghệ hay tạp chí văn nghệ của Hội trước hết, và tiên quyết phải phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Vấn đề chất lượng nghệ thuật không phải là quyết định. Cũng vì thế vấn đề phê bình văn nghệ , trước hết phải trên tiêu chí chính trị, lấy việc phục vụ các nhiệm vụ cách mạng là thang giá trị. Thật cũng dễ hiểu Hội kết nạp tất cả những ai có khả năng cầm bút phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng, mà không bận tâm nhiều đến tài năng sáng tạo. Tôi đã đọc văn nghệ Đồng Nai với tinh thần ấy.(Tôi cũng đọc VNĐN với tiêu chí khác, nhưng ở một diễn đàn khác, tiêu chí khám phá những cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật)
Tôi đã đọc văn của Anh Hoàng, Trần Thúc Hà, Tấn Hoài, Lê Đăng Kháng, Phạm Thanh Quang, Đào Sỹ Quang, Nguyễn Một, Dương Đức Khánh, Trần Thu Hằng, Hoàng Ngọc Điệp, Trâm Oanh, Hạnh Vân… Tôi đã đọc thơ Cao Xuân sơn, Trương Nam Hương, Hải Ba (trước kia), Lê Thanh Xuân, Đàm Chu Văn, Đỗ Minh Dương, Xuân Bảo, Hồng Phương, Đào Trọng Thử, Nguyễn Hoài Nhơn, Ngọc Thùy Giang, Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Đức Phước, Tiêu Thanh Giang, Khương Hà Bùi, Nguyễn Thị Khánh…(Có tác phẩm tôi đã viết thành bài đăng báo, có tác phẩm tôi lưu giữ trong kho tư liệu, để dành viết). Tôi thấy rằng đội ngũ nhà thơ nhà văn Đồng Nai sung sức, say mê văn chương, thực hiện tốt trách nhiệm nhà văn - chiến sĩ. Tác phẩm phục vụ tốt cho nhiệm vụ cách mạng của Đồng Nai (xin đọc tác phẩm của các trại sáng tác về học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh, đề tài Công nghiệp, đề tài Tam Nông, đề tài nhà giáo, nhà trường…). Cá nhân mỗi người cầm bút đều có những nỗ lực âm thầm vượt lên chính mình. Những vấp váp lúc này lúc khác là trong quá trình vượt lên để trưởng thành, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn. Không có những sai phạm nặng nề như Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất của Nguyễn Khải hay Nhật Ký Nguyễn Đăng Mạnh…Có nhà văn Đồng Nai đã vươn tầm vóc đến với bạn đọc cả nước, tác phẩm đạt giải của Hội Nhà Văn, đó là tín hiệu đáng mừng của Văn Nghệ Đồng Nai.
Là người viết phê bình văn chương, tôi quan tâm đến tác phẩm và giá trị tác phẩm (tôi không dùng chữ chất lượng). Bởi khi xét giá trị tác phẩm, thì tùy tiêu chí đánh giá mà tác phẩm có giá trị hay không. Khi đã lấy tiêu chí phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng làm chuẩn, kết hợp với nhiệm vụ phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng làm nhiệm vụ trọng tâm thì tiêu chí về chất lượng nghệ thuật là chuẩn mực hạng hai. Và ngay cả lấy chuẩn mực nghệ thuật, thì thế nào là hay, thế nào là không hay cũng không dễ phân định rạch ròi. Thế nên nhiêu khi tôi cũng băn khoăn về một vài việc liên quan đến tiêu chí. Chẳng hạn giải Trịnh Hoài Đức đặt ra tiêu chí tác phẩm phải có ít nhất 50 phần trăm nội dung viết về đất nước con người Đồng Nai. Điều này đúng với yêu cầu chính trị, nhưng thật khó cho nhà văn. Bởi văn chương cần phải vượt qua cái ao làng, vươn tới cộng đồng cả nước và cộng đồng thế giới. Cuốn Chút Tình Tri Âm của tôi được giải khuyến khích vì tiêu chí này, mặc dù tôi mất 4 năm mới hoàn thành, trong khi có bài hát viết về Đồng Nai lại đạt giải A, giải B. Thú thực nếu có cảm hứng, một nhạc sĩ có thể chỉ mất 30 phút là viết xong một ca khúc, không cần mất 4 năm như tôi. (Hôm dự trại sáng tác Đà Lạt 7.2012, trong một tuần tôi viết được 4 ca khúc. Các nhạc sĩ trong ban âm nhạc nghe tôi trình bày đều không chê -tôi không dám nói rằng các nhạc sĩ đều khen hay, bởi ca khúc còn tùy vào ca sĩ, hòa âm phối khí và kỹ thuật thu âm). Vâng, còn nhiều điều băn khoăn, nhưng điều quan trọng đối với một người cầm bút là anh có viết được không, tác phẩm của anh có được cộng đồng công nhận hay không.
Tất nhiên là chính quyền và nhân dân Đồng Nai mong mỏi các văn nghệ sĩ Đồng Nai viết được những tác phẩm lớn. Đó là món nợ mà chưa nhà văn nhà thơ Đồng Nai nào trả được (ngoại trừ Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn). Ngày xưa (1925-1940), M.Sôlôkhôp chỉ viết về sông Đông cũng trở thành nhà văn thế giới (tác phẩm Sông Đông Êm Đềm). Sông Đồng Nai vẫn đang nhẫn nại chờ các nhà văn nhà thơ Đồng Nai viết về mình, như thể Sông Đồng Nai Êm Đềm (tôi giả định vậy).
Tháng 1.2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





