album của BCT

album của BCT
một vài hình ảnh chia sẻ với bạn đọc

Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

CHÚC MỪNG NĂM MỚI TÂN MÃO


CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI AN VUI VÀ THÀNH ĐẠT MỌI Ý NGUYỆN

Mời bạn nghe MÙA XUÂN HÁT CA của Bùi Công Thuấn qua tiếng hát Thiên Duyên
http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Mua-Xuan-Hat-Ca-Thien-Duyen.IW66606Z.html

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

VỠ DẦN NHỮNG ẢO TƯỞNG

VỠ DẦN NHỮNG ẢO TƯỞNG
Đọc tiểu thuyết Vỡ Dần Trong Mắt của Khôi Vũ
Bùi Công Thuấn

1.Nội dung truyện kể lại 40 ngày nhân vật Tôi chung sống với cái bọt bong bóng trong mắt sau kì mổ vá võng mạc. Tôi đã mơ 8 giấc mơ. Ngày có, đêm có. Sau mỗi giấc mơ tôi đã cố gắng lý giải những yếu tố hiện thực tạo nên những giấc mơ đó.

Câu chuyện về anh Trần chỉ thấp thoáng ở những chương đầu, dần dần hiện ra và kết ở chương cuối. Anh Trần từ Giám đốc sở Văn Hoá, thành Cục phó. Anh là người giúp đỡ “Tôi “. Từ một nhân viên cấp huyện Tôi được anh chuyển làm chuyên viên âm nhạc phòng nghiệp vụ Sở.Anh cũng can thiệp cho tôi được ở nhà tập thể cơ quan. Sau đó tôi được đi học ĐH tại chức và tốt nghiệp khoa sáng tác nhạc viện TP HCM. Chính anh là người giới thiệu và kết nạp tôi vào Đảng. Tôi được coi như là cậu em út cuả anh và tôi coi anh như người ruột thịt cuả mình. Chuyện anh đánh bạc bị bắt, tai tiếng chuyện xây nhà, con tự tử, con trai ma tuý là thảm cảnh đau lòng.

2.Trong suốt câu chuyện, tình cảm thái độ cuả Tôi với anh Trần là sự kính trọng, mang ơn, là cái nhìn bênh vực và chia sẻ, vì anh đã giúp đỡ và cất nhắc tôi. Tôi không muốn tin những gì báo chí nói. Chỉ khi bọt bóng trong mắt Tôi tan hết và anh Trần bị bắt, Tôi mới hết ảo tưởng. Nhưng phải đối diện với thực tại đau lòng Tôi chịu không nổi. Tôi vẫn nuối tíếc ảo tưởng. Thực ra Tôi cũng dần nhận ra ảo tưởng cuả mình khi nhìn thấy nhà cô Tư Phú Lợi chỉ là nhà cấp bốn, cô chết vì nhiễm chất độc da cam, trong khi nhà anh Trần cách đó vài trăm mét là nhà nhiều tầng sang trọng. Trong một giấc mơ ( chương 11), Tôi được anh Trần cho 200 triệu, lúc đầu tôi mừng rỡ, sau biết là tiền âm phủ , tôi đã giận anh trần, và tin Anh Trần chính là cục phó bị bắt vì đánh bạc và xây nhà.

Kính trọng và yêu mến về anh Trần, bênh vực anh Trần, đau xót nỗi bi thương cuả gia đình anh Trần , nhân vật Tôi thể hiện cái nhìn độ lượng cuả tác giả, Tuy nhiên KV đã không có một dòng miêu tả nào về thực chất con người anh Trần ( anh ta lương thiện hay gian manh, bị oan hay là có tội ). Nhân vật Trần chỉ hiện lên qua thông tin báo chí, qua dư luận trong quán, qua cái nhìn thiện cảm cuả Tôi. Người đọc không rõ những hành động hay những “ thủ đoạn “ tham nhũng cuả Trần. Khuynh hướng cuả truyện là bên vực anh Trần, nhưng tác giả không cung cấp đủ dữ liệu làm căn cứ cho sự bênh vực ấy

3.Từ chuyện cuả Tôi và anh Trần, Khôi Vũ nâng nội dung truyện thành khuynh hướng tư tưởng. Khi người ta có cái ảo tưởng trong mắt ( cái bọt bóng ) thì người ta sẽ nhìn thiên lệch. Nhân vật Tôi đã nhìn anh Trần bằng con mắt ảo giác chăng. Không chỉ có nhân vật tôi sống ảo tưởng, mà mọi nơi, mọi lúc “ người ta đi tìm cái không có thật cuả mình ở khắp mọi nơi có thể “(31). Các bạn trẻ mơ làm ca sĩ, kể cả con gái cuả Tôi, Anh bạn nhà thơ trẻ trình diễn thơ trước tay giám đốc du lịch, trước nhà văn Đà Lạt và Tôi là để mưu cầu vào Hội Nhà Văn. Người đời hiện diện trong mắt người khác bằng các “trò diễn“, trông bề ngoài có vẻ thực tâm mà bên trong là lưu manh. Đấy là chuyện ông Trưởng phòng tài vụ sở văn Hoá tổ chức tiệc ra mắt tập thơ để mọi người tán tụng trong khi tập thơ ấy chẳng có giá trị gì ( nhiều trang trắng, nhiều bài chỉ có một dòng ..) vì chính ông ta lúc ra mắt tập thơ cũng ngủ vùi khiến mọi người tưởng ông ta ngất xỉu. Nhân vật tôi rất tỉnh táo giải mã các giấc mơ cuả mình nhưng không thoát khỏi cái ảo tưởng.

4.Có một khoảng chông chênh giưã nghiã hiện thực và nghiã tư tưởng. Người đọc dễ liên tưởng tới vụ tiêu cực MU 18 cuả một vị thứ trưởng. Một dạo, báo chí làm rầm rộ, tạo ra một dư luận rất lớn trong người đọc.Vụ này sau đó “ chìm xuồng “ . Vị thứ trưởng ra tù. Trớ trêu thay, có những phóng viên ( Nguyễn Việt Chiến báo Thanh Niên), những tờ báo đăng tin tiêu cực vi phạm luật báo chí bị đi tù, cả tướng Quắc, người phụ trách điều tra cũng đi tù. Đọc truyện , người đọc dễ nhận ra thái độ “bênh “ cục phó Trần là đồng nghãi với việc bênh vị thức trưởng nọ trong thực tế. Điều này sẽ tạo nên phản cảm nơi người đọc. Thành ra tác phẩm cuả Khôi Vũ lại nói tiếng nói bênh tiêu cực (?). Khôi Vũ viết :” Tôi buồn vì báo chí cuả ta, cứ khi có vụ việc gì tương đối nổi cộm, là đua nhau khai thác đến từng chân tơ kẽ tóc. Người có chút công trạng cũng xúm nhau khen lên tận mây xanh. Rồi lúc họ bị phát hiện tiêu cực, lại “đánh “họ xuống tận bùn đen “(58). Khôi Vũ chưa nâng được những hiện tượng đời thường thành ẩn dụ khái quát mang tính tư tưởng.

5.Có hai nhân vật phiếm chỉ là anh bạn nhạc sĩ ở Vũng Tàu và anh bạn nhà văn ở Đà Lạt. Hai nhân vật này có vai trò gì ? cả hai chỉ thăm hỏi Tôi và mời đi ăn. Anh bạn nhạc sĩ Vũng Tàu mời đi ăn hải sản, còn anh bạn nhà văn mời đi ăn tiểu hổ. Bộ ba Tôi- Nhạc sĩ Cá Mắm- Nhà văn Đà Lạt thể hiện sự không ngoan trong nhận thức những “trò diễn “ cuả thiên hạ, Nhà văn Đà Lạt chỉ ra chân lý : “Tớ nghĩ, dù sao đối phó với một sự thật cay nghiệt vẫn còn dễ chịu hơn phải đắm mình vào ảo ảnh”. Còn người bạn nhạc sĩ ở Vũng Tàu chỉ cho Tôi ảo ảnh về thằng Lam là vị bác sĩ đã mổ mắt cho tôi. Con đường tiến thân cuả vị bác sĩ này là từ nghèo khổ, vất vả , cố gắng học tập làm việc, đạt được những giá trị thật cuả mình. Không như nhân vật Tôi , sự tiến thân là nhờ anh Trần. Tuy cả ba người đều tỉnh táo, nhưng cũng không giúp được nhân vật Tôi tránh ảo tưởng. Vậy ảo tưởng là do đâu?

5. Nhân vật Thằng Lam là một ám ảnh hay một ảo giác ?
Nhân vật này chỉ xuất hiện trong những giấc mơ cuả tôi.

Lần thứ nhất tôi mơ đi Vũng Tàu gặp anh bạn nhạc sĩ, được thằng Lam chiêu đãi món hải sản cá chết vì tràn dầu, Tôi đã tung cú đá sập cái chòi cuả nó ( chương2).Nó là hình ảnh đưá bé 15 tuổi đen đủi, sống một mình trong cái chòi nát , nhặt cá chết đãi khách (tr.13. Hình ảnh này Tôi khó giải thích

Lần thứ hai (chương3),Tôi mơ đi công tác. Xe anh Trần bị mìn nổ, thằng Lam hiện ra đưa cho trái bắp nướng có vết máu người chết, Tôi để rơi trái bắp, nó nổ tung, thằng Lam cười :”Thích quá, anh nhạc sĩ đã biết sợ rồi “(19). Tôi không giải thích được sự hiện diện cuả thằng Lam “Đó chỉ là một giấc mơ thôi mà “

Lần thứ ba, (Chương5) trong mơ, đi du lịch, gặp thằng Lam, nó mặc veston trắng, cavạt đỏ, đội mũ cao bồi đỏ. Nó bảo ở Thượng Hải Trung quốc. Tôi giải thích, thằng Lam nói láo . thằng Lam chỉ là mơ “ có lần nào là thực tế đâu mà tôi phải băn khoăn”(38)

Lần thứ 4 (chương 7) Tôi mơ mình đi thi tuyển vào công ty tin học bị rớt, thằng Lam xuất hiện hỏi đã nhìn thấy rõ hơn chưa, tức là hỏi tôi đã hiểu thực tế thi cử là phải có phong bì chưa, có lẽ lời thằng Lam là “lời cuả phần lý trí trong tôi nói với phần tình cảm cuả mình về chuyện anh Trần “(50)

Lần 5 (chương 9)Tôi mơ thấy thằng Lam phát biểu ý kiến trong buổi ra mắt tập thơ cuả ông trưởng phòng tài vụ sở Văn Hoá. Nó được giới thiệu là “thần đồng văn học”. Nó nói “ tập thơ rất xứng đáng đạt giải văn chương Nobel vào năm tới “(60). Tôi lý giải, đó là hình ảnh nhà thơ thần đồng nước ngoài mới tới VN.

Lần 6. (chương12) Bác sĩ mổ mắt là hiện thân cuả Lam, từ cực khổ mà vươn lên.Tôi lý giải :” Chính câu chuyện về cuộc đời cuả anh bác sĩ mà tôi quên mất đã hiện ra trong hình ảnh cuả thằng Lam “(80)

Nhân vật Lam hoàn toàn chỉ xuất hiện trong giấc mơ cuả Tôi, đó là nhân vật có nhiều bộ mặt: trẻ em nghèo nhặt cá, trẻ em trong chiến tranh nghịch ngợm súng đạn, một hướng dẫn viên du lịch trong những công ty lưà, một tay cơ hội giỏi tâng bốc trong những trò quảng cáo và sau cùng hoá thân trong vị bác sĩ từ nghèo khó phấn đấu thành tài. Nhân vật Tôi không lý giải được sự hiện diện cuả Lam, Tôi chỉ lờ đi bằng lý luận trong mơ thôi, có thực tế đâu mà phải băn khoăn. Nhưng nhân vật này nhiều lần gây shock cho Tôi ở sự xuất hiện ngẫu nhiên cuả nó, mà lẽ ra đó không phải là chỗ nó xuất hiện. Nó đâu có sinh trước 1975 mà biết chiến tranh, nó đâu có làm du lịch Thượng Hải. Trình độ nhặt cá cuả nó đâu cho phép nó diễn thuyết rằng tập thơ đáng được giải Nobel.. và một khuôn mặt nhem nhuốc như thế không thể là bị bác sĩ nghèo khó lương thiện thành tài được. Dường như Khôi Vũ cũng không lý giải được nhân vật này. Ta thấy thấp thoáng bóng dáng Xuân Tóc Đỏ trong Lam ? Nhưng số phận, tính cách cuả Lam không thuần nhất, vì thế vai trò chuyển tải tư tưởng cuả Lam chưa hiển lộ ra được. Hay phải chăng Lam chính là những ảo tưởng khác nhau cuả Tôi về cuộc đời ? Ảo tưởng về kiếp nghèo, về chiến tranh về thực tế tiêu cực làm gì cũng cần phong bì, về những trò diễn lưu manh, mà Khôi Vũ không lý giải được? rất có thể, bởi anh không truy đến tận cùng nnhững nguyên nhân và những giải pháp xử lý vấn đề.

5.Ảo tưởng cuả Tôi là do bọt bong bóng trong mắt chăng ? Tôi ngẫu nhiên bị bịnh bong võng mạc. Cái bọt bong bóng cũng là hậu quả cuả việc giải phẫn dán võng mạc. Tất cả là hiện thực, Khôi Vũ không đặt nó trong môi trường siêu thực nào. Và Sự thực thì cái bọt bong bóng ấy không hề tạo nên ảo tưởng gì. Đôi khi nó có làm phồng to hình ảnh hay làm cho đường thẳng trở thành đường gẫy, nhưng đó là miêu tả vật lý. Những giấc mơ cuả Tôi cũng không do bọt bong bóng gây ra , trong những giấc mơ ấy cũng không có sự hiện diện cuả anh bạn bọt bóng. Về mặt hình tượng, bọt bong bóng trong mắt chưa thành một nhân vật, chưa gây ra những ảo tưởng trong cách nhìn cho Tôi, chưa thành một ẩn dụ tư tưởng , đơn thuần chỉ là cái cớ để tác giả kể chuyện và bày tỏ tâm sự. “Tôi đã kể cho bạn nghe những gì xảy ra với tôi, tất cả những suy nghĩ cuả tôi trong thời gian đó. Tôi tìm được sự chia sẻ cuả bạn, một sự chia sẻ tâm giao, ruột thịt. Nhưng từ nay trong tôi không còn bạn nưã. Những ngày sắp tới tôi sẽ tâm sự với ai thay bạn ?” Đó là chỗ non tay cuả Khôi Vũ (?).

6.Khôi Vũ có cách kể truyện có duyên. Anh khai thác đến từng chi tiết những sinh hoạt đời thường, đôi khi có “ma quái “ hoá vài chi tiết như chiếc điện thoại Nokia đen bị mất ở nơi công tác và hiện diện nơi bàn nước ở nhà. Sự khai thác này tạo nên tính chân thực cuả cách kể chuyện. Sự sáng tạo những giấc mơ và cách kể những giấc mơ bộc lộ năng lực sáng tạo dồi dào cuả Khôi Vũ. Tôi tin rằng Khôi Vũ đã tốn không ít công sức để xây dựng những giấc mơ này, nhờ đó tạo ra cái không khí hư hư thực thực cuả truyện, hay nói cách khác Khôi Vũ đã huyền thoại hoá đời thực thành mơ mà qua đó lên tiếng nói với hiện thực. Anh ohê phán rất mạnh chuyện các em không có năng lực ca hát mà muốn chạy chọt đạt điểm trong kỳ thi hát, chuyện làm du lịch lưà gạt cuả một số công ty, chuyện “báo chí ở ta”, chuyện những kẻ mua danh hão ( ông trưởng phòng tài vụ ra mắt tập thơ, chuyện nhà thơ trẻ diễn trò văn chương ) và những chuyện quan chức tiêu cực, chuyện nạn nhân da cam, chuyện viên chức nghèo ước mơ xây nhà…

Có một cấu trúc song hành tạo nên tính tư tưởng cuả truyện : câu chuyện về sự tan dần cuả bọt bong bóng, và mức độ trầm trọng ngày càng tăng lên cuả câu chuyện anh Trần. Hai cấu trúc này gặp nhau ở cuối truyện, khi bọt bóng tan, Tôi hết ảo tưởng về anh Trần.

Dù sao, Vỡ Dần Trong Mắt là tác phẩm không dễ đọc. Tôi cứ ngờ ngợ về những gì mình đã viết, rằng mình chưa hiểu thấu đáo tư tưởng Khôi Vũ gửi trong tác phẩm. Văn của Khôi Vũ là vậy, mới đọc, tưởng rằng anh viết những điều đời thường, đơn giản, dễ hiểu. Vậy mà, khi gấp trang văn lại, Tôi luôn bị ám ảnh về những gì đằng sau những cái đơn giản ấy. Sự đơn giản nghệ thuật ấy bắt tôi phải tra hỏi lại về nhữhg gì mình đã giải mã. Vỡ Dần Trong Mắt là một thành công mới cuả Khôi Vũ. Anh vẫn giữ được chất hiền lành , độ lượng cuả ngòi bút và giữ được phong độ sáng tạo dồi dào như khi viết Lời Nguyền Hai Trăm Năm. Có điều, sức hấp dẫn cuả Vỡ Dần Trong Mắt rất khác với Lời Nguyễn Hai Trăm Năm
Bùi Công Thuấn 27/4/09

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Ý KIẾN NGẮN VỀ DỊ HƯƠNG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH

ý kíến ngắn về DỊ HƯƠNG của Sương Nguyệt Minh

DỊ HƯƠNG vừa đạt giải của Hội Nhà Văn Việt Nam.

Mình đọc Dị Hương với cảm giác thất vọng không sao ngăn được.

DỊ HƯƠNG sao chép cách viết của Nguyễn Huy Thiệp trong KIẾM SẮC, từ chủ đề đến nội dung, tư tưởng, cách viết và văn phong. Nhưng câu văn của Sương Nguyệt Minh thiếu hẳn chất văn chương . Bắt chước câu văn Nguyễn Huy Thiệp nhưng câu văn của Sương Nguyệt Minh chỉ là băm bổ dung tục. Bút lực của Sương Nguyệt Minh không sao sánh được Nguyễn Huy Thiệp. Nếu bút lực Nguyễn Huy Thiệp mạnh mẽ bao nhiêu thì bút lực Sương Nguyệt Minh èo ọt bấy nhiêu. Từ việc chọn bút pháp đến xử lý chi tiết, câu đối thọai và xây dựng tính cách nhân vật, Dị Hươg của Sương Ngiyệt Minh chỉ là bản nháp của Kiếm Sắc, bản đã bị Nguyễn Huy Thiệp vứt vào sọt rác.

Trong sáng tác nghệ thuật, tối kỵ là sao sao chép. Nhà văn chỉ tồn tại khi anh là người sáng tạo. Thật tiếc cho một giải thưởng dỏm ( vì đánh lừa lòng tin của độc giả) và tiếc cho một cây bút không tự đứng được bằng chính đôi chân của mình

Bùi Công Thuấn
15.01.2011

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

ĐỌC KÒNTRÔ CỦA LÝ VĂN SÂM

LÝ VĂN SÂM LÀ NHÀ VĂN LỚN CỦA ĐỒNG NAI. ÔNG VỪA LÀ NHÀ HỌAT ĐỘNG CHÍNH TRỊ, VỪA LÀ NHÀ VĂN. SÁNG TÁC CỦA ÔNG TRẢI DÀI TRONG MỘT HÒAN CẢNH LỊCH SỬ HẾT SỨC KHÓ KHĂN. ĐỌC LÝ VĂN SÂM ĐỂ THẤY NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG ÔNG ĐÃ TRĂN TRỞ THẾ NÀO VỀ NHỮNG ƯỚC NGUYỆN CỦA MÌNH
Bùi Công Thuấn
____________________________________
Đọc Lý Văn Sâm
KÒN TRÔ
(Nxb Tân Việt 1949, Nxb Tổng Hợp Đồng Nai 2008)
Bùi Công Thuấn


KònTrô là tập truyện ngắn gồm 7 truyện. Tập truyện chưá đựng được nhiều đặc sắc ngòi bút Lý Văn Sâm (LVS) cả về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật. Ông cũng bộc lộ đôi nét về mình trong lời tưạ Thâm U và Cao Cả, và đặc biệt, ông ghi lại được đậm nét hình ảnh đất nước, con người Nồng Nai một thời quá vãng.

Truyện KònTrô (1941?) kể rằng : Phụng bị lạc trong một cuộc đi săn trong rừng. Trời tối, nàng tìm đến thác Mu Mi. Khi tỉnh dậy, nàng biết mình bị rơi xuống vực và được KònTrô cứu. Nghe tiếng KònTrô là một tướng cướp, nàng sợ hãi chống trả. Nhưng khi nghe KònTrô nói về hoàn cảnh cuả mình, Phụng an tâm. KònTrô đưa nàng đi thăm trại. Trái tim anh đã thuộc về nàng. Nàng trao cho KònTro một chiếc khăn tay làm kỷ niệm khi nàng trở về tỉnh. KònTro hẹn 3 giờ chiều sẽ tiễn nàng ở cây số 90 đầu dốc lớn. Bốn năm sau một đôi vợ chồng trẻ thăm thác Mu Mi. Người chồng kể cho vợ nghe cái chết của KònTrô. Hôm ấy, KònTrô hẹn tiễn một cô gái. Hắn bị lính đồn Châu Mạ phục kích bắn chết ở cây số 90, phủ mặt bằng một chiếc khăn. Nguyên nhân cái chết cuả KònTrô là do cô gái ấy nói cho hai người bạn biết cuộc hẹn của KònTrô. Họ liền báo tin cho đồn Châu Mạ. Nghe chuyện, người vợ hốt hoảng.

Đó là câu chuyện tình lãng mạn của một tướng cướp và cô gái thành thị. LVS ca ngợi KònTrô như một người anh hùng mã thượng, một tướng cướp lương thiện, vì lòng thù ghét của loài người mà phải sống ngoài vòng pháp luật và vì tình mà chết bi thảm. “Chỉ vì một năm gạo thua, lúa kém, chúng tôi mới phải ép lòng đón người giật của và cướp kho lương của ông đồn tại đây..chúng tôi chỉ bạo động trong một năm ấy thôi, rồi thì cải ác tùng thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cày, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời lương thiện như những kẻ nông dân “(tr.45). LVS cũng mơ ước một xã hội công bằng tốt đẹp. Trại của KònTrô, là ”Một thế giới riêng phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn thành thị”(tr.45) “Ở đây không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tỵ, nó làm cho người ta phải cực lòng lo nghĩ về nhau. Tâm hồn họ đã hoà chung cùng cỏ cây hoang dại “(tr.44).

Kòntrô là kiểu truyệntình lãng mạn phiêu lưu đường rừng. Tư tưởng của tác phẩm khá mờ nhạt, mơ hồ. Bởi vì nhân vật chính KònTrô không phải là kiểu nhân vật tư tưởng, không thể hiện tư tưởng chính trị xã hội, có chăng là cái nhìn nhân ái cuả LVS đối với nhân vật.

Truyện Thần Ngư Động (1942) là kiểu truyền thuyết về danh lam thắng cảnh thác Trị An, nơi có Thần Ngư Động.

Có hai viễn khách, trên đường về quê, đứng nhìn con thác mà lòng buồn man mác. Một người bỗng thấy hai ngọn đèn lóng lánh như hai vì sao nơi ngọn thác. Đêm ấy họ ngủ lại. Lương Điền, một trong hai người, nằm mơ thấy một thiếu nữ đến dẫn đi. Hai người băng trên sóng nước đếnThần Ngư Động. Ở đây Lương Điền gặp được Thuỷ Thần ở biển Đại Thanh. Thuỷ thần cho Điền tất cả kho tàng đã tích luỹ hàng ngàn năm. Điền không về quê mà quyết định ở lại để đi tìm kho báu như được chỉ dẫn trong giấc mơ. Nhân vật “tôi”(tác giả), sau những năm tháng làm khách lãng du mã thượng giang hồ không thành sự nghiệp, đã trở về Trị An, quê ngoại lập nghiệp. Ở đây “tôi” được Lê Tùng, người bạn cùng đi với Lương Điền, cho biết Lương Điền đã chết. Ông cũng cho “tôi” coi lá thư tuyệt mệnh của Lương Điền. Lê Tùng cũng đã đi tìm Điền, may mà thoát chết. Ngày nay Thần Ngư Động chỉ là một hang lạnh. Tác giả viết truyện để nhớ người xưa.

Thần Ngư Động là truyện phiêu lưu đường rừng, có pha chất thần thoại ( như Từ Thức lên tiên ) , để giải thích một hang động cuả thác Trị An. LVS có pha chút ít tư tưởng vào truyện, đó là lòng tham tiền bạc. “Điền đã bị cám dỗ bởi giấc mộng kim ngân nó ăn sâu vào tâm hồn chàng thành ám ảnh”. Điền chết vì giấc mộng ấy.

Xác Mu Mi Trên Núi Đá cũng là truyền thuyết (“người ta kể lại rằng” –tr.82) về sông La Ngà, núi đá Định Quán, về phong tục thờ cá sấu ở Võ Đắc.

Ở chốn sơn lâm vô danh có loại Mọi (chữ của LVS) ở hai bên sông La Ngà, ngày nào cũng chém giết lẫn nhau. Vợ của tù trưởng tả ngạn bị quân hữu ngạn bắt. Người chồng mới nhốt nàng vào hang đá. Rồi người chồng ấy chết. Nàng tự cởi trói ra khỏi hang. Nàng cứu một con sấu lớn, được sấu đưa qua sông và cho viên ngọc sấu. Quân tả ngạn bầu nàng làm nữ chuá. Nữ chúa dùng phép thuật của ngọc sấu mà tàn sát quân hữu ngạn. Từ đó thái bình. Họ đi về phương nam, mở làng mạc mới, rồi lại đi. Giữa sóc Mọi Cao Cang (định Quán) có hai trái núi. Xưa là hai sơn thần vì giận nhau mà thành xa cách. Người anh đã giết Ngạc Ngư Thần (cá sấu thần ). Hồn thần sấu báo mộng Nữ chuá. Nữ chuá quy tập dân Võ Đắc kéo về toan đạp bằng hai ngọn núi đó. Núi biến thành đá, nữ chuá buồn rầu kéo binh về. Ngày nay người Mọi làng Võ Đắc còn thờ cá sấu.

Răng Sa Mát là một cậu bé lặn lội đi tìm con người kỳ quái có tiếng hú thảm thiết trong rừng. Thực ra đó là cha của Sa Mát đã biến thành xà niên. Người đi săn thường ngậm ngải để tránh thú dữ. Cha Răng Sa Mat đi săn, bất ngờ trở về, mẹ Sa Mát không mở cửa, vì lúc ấy bà ta đang ngoại tình với tên Bướm. Thế là ông biến thành xà niên . Lão Bống cho Sa Mát ngậm 100 củ ngải rừng đi tìm cha và hiến mạng sống cho cha. Sa Mát đến chỗ xà niên, bị xà niên hút máu. Xà niên trở lại thành người, về làng tìm giết Bướm, nhưng tha chết cho vợ, vì mụ đang mang thai.

Truyện đề cao tình cha con, phê phán thói gian dâm độc ác. Truyện cũng kể về những phong tục lạ dân tộc , như ngậm ngải đi săn, dùng ngải đổi mạng. Đây là loại truyện phong tục đường rừng. Sự hấp dẫn của loại truyện này là ở những sinh hoạt lạ của người dân tộc xưa.

Voi Đội Đèn là câu chuyện của nhà thiện xạ gác súng vì thua một bà già mù trong việc đuổi đàn voi phá hại mùa màng. Nhà thiện xạ dùng súng để bắn điếc tai con voi đoàn. Nhưng nó chỉ bị thương nhẹ, cả đoàn voi quay ra phá nát ruộng. Khi đoàn voi đến ruộng bà gìa mù. Bà chửi đoàn voi thậm tệ, vô tình cục lửa trong chiếc đèn của bà rớt xuống lưng con voi đoàn bốc cháy. Voi đoàn bỏ chạy vào rừng , cả đoàn chạy theo.

Đây là kiểu truyện thường đàm trong dân gian. Kể để rút kinh nghiệm hoặc rút ra bài học nào đó.

Ngăn Rạch Bắt Sấu là một câu chuyện nghĩa tình cảm động. Nhân vật ông Ba kể: ông Bader là một người Đức, đến Nam bộ, mở đồn điền cao su ở làng Đại An (Biên Hoà). Sau đó lấy một người vợ VN tên Trang. Một lần, cô Trang ra sông tắm bị sấu quắp tha ra giữa sông. Ông Bader cùng mọi người truy bắt, nhưng sấu trốn vào một cái rạch sâu tìm không ra. Ông Bader kêu gọi dân đắp rạch ngăn đường ra sông để bắt sấu. Hàng tháng trời ông Bader và dân làng lùng sục con rạch nhưng không tìm thấy sấu. Một đêm kia có một ông già xin mở khẩu cho coi rạch. Những người coi đập lúc đầu từ chối, sau họ chiều ý ông, dở khẩu lên. Ngay lúc đó sấu bơi ra sông mất tăm.Người ta bảo đó là thần linh cứu sấu. Năm sau, ông Bader lập đàn tế vợ bên sông, con sấu bò lên bãi, bị ông Bader bắn và dân làng đập chết. Trong bụng nó còn nguyên dây chuyền của vợ ông. Ông Bader băm con sấu tan tành. Đến bây giờ có một ông già ngoài 90 ngày ngày ra đứng bờ sông.” Tuổi già lẩm cẩm, ông hầu quên hết mọi sự ở đời…”

Mũi Tổ là gì ? Vùng Hố Nai nhiều thú hoang dã. Tối đến người ta sợ “ông thầy “(cọp) về bắt gà bắt chó. Cứ đêm đến là dân chúng khiếp đảm. Rồi một hôm có ông cả Tiến về sống. Thú hoang xa dần, người đông thêm. Đó là một người bí mật, một con người chiến bại trong một cuộc khởi nghiã, sống lẩn lút ngoài vòng pháp luật (tr.125).Ông coi tổ quốc VN là gia đình, thân quyến là đồng bào đau khổ (tr.130). Năm 24 tuổi, tôi (tác gỉa) quen thân với Cả Tiễn, được cả Tiễn dạy bắn ná. Cả Tiễn noí rằng không được phạm vào mũi tổ (tức là bắn trúng mắt thú) . Vì như thế, sẽ bị tai nạn mù mắt. Tháng 8/1945 tôi tham gia phong trào chống xâm lăng và bị bắt. Quân Anh -Ấn đóng chốt. Cả Tiễn được yêu cầu bắn hạ tên lính Ấn. Tiễn nói sẽ phạm vào mũi tổ. Dù vậy, đây là mũi tên cuối cùng Tiễn dành cho tổ quốc. Tên lính Ấn bị Tiễn bắn trúng mắt. Sau đó Tiễn bị bắt bị đánh mù mắt.Tôi ớn lạnh vì mũi tổ. Một năm sau tôi được trả tự do, một buổi chiều mưa, qua sông trên một con đò, gặp một người mù nghe tiếng quen.Tôi mong người ấy đừng là Cả Tiễn. Lòng tôi đau xót

Mũi Tổ là truyện lạ của nghề săn bắn, có lồng tư tưởng yêu nước. Người chiến sĩ, mặc dù chiến bại vẫn sẵn sàng hy sinh vì nước. LVS khai thác yếu tố duy tâm dân gian trong sự linh ứng về Mũi Tổ .

Lược qua những truyện kể trên, người đọc có thể nhận thấy KònTrô là tập truyện đường rừng vì hầu hết bối cảnh truyện là rừng núi, sự việc, con người diễn ra trong rừng núi. Nhân vật Kòntrô là tướng cướp chọn núi rừng để ẩn mình, Răng Sa Mát đi tìm cha trong rừng, người đã bị biến thành xà niên..

Đặc điểm chính của tập KònTrô là kiểu truyện xứ lạ đường rừng . LVS kể lại những truyền thuyết, những chuyện lạ (Thần Ngư động, người biến thành xà niên, bắt sấu, mũi tổ, bà già mù đuổi voi,..) ở vùng Đồng Nai, Hố Nai, Trị An, Định Quán, La Ngà..Tác giả dẫn chúng ta đi ngược thời gian về mãi tận thời buổi “loài người còn sống chung với muông thú và cùng ngơ ngác như nhau”(tr.71), đến những ngày Cách mạng tháng tám Ất Dậu 1945. Vì thế truyện vưà có không khí dã sử (truyện Xác Mu Mi Trên Đá ), vưà có thời sự lịch sử (truyện Mũi Tổ). KònTrô phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người, để giữ lấy cái thiện, giữ lấy nhân tâm, giữ lấy tình nghiã , giữ lấy cuộc sống bình yên, giữ lấy tổ quốc.

Thấp thoáng trong những câu chuyện đường rừng, là tư tưởng của LVS. Đó là tình cảm yêu nước của kẻ chiến bại (Mũi Tổ), tình gia đình của người đàn ông mất vợ, con mất cha (Ngăn rạch bắt sấu, Răng Sa Mat), tình yêu lứa đôi không tròn (Kòntrô). LVS phê phán sự gian ác bất nghĩa của người vợ, sự ác tâm của người đời khiến tướng cướp lương thiện Kòntrô phải xa lánh cõi người, phê phán những cuộc chém giết dã man thời mông muội (Xác Mu Mi Trên Đá), thói tham kim ngân (Thần Ngư Động ). Ông cũng ước vọng về một xã hội lương thiện, một đất nước đậc lập tự do.

Tập Kòntrô là sự pha tạp nhiều kiểu bút pháp , từ lãng mạn, đến thần thoại, truyền thuyết, truyện đời thường dân dã, và thời sự hiện đại. Không khí truyện hư hư thực thực. LVS xử dụng nhiều yếu tố duy tâm dân gian để câu truyện thêm lạ lùng hấp dẫn. KònTrô giúp người đọc hiểu được ít nhiều thiên nhiên, đất nước, con người một vùng đất Đồng Nai từ xa xưa đến thời Cách mạng tháng tám. Bút lực của LVS thật mạnh mẽ, cách kể trong sáng và biến hoá. Cốt truyện phát triển khá phức tạp và hấp dẫn. LVS thường sử dụng kỹ thuật kể chuyện trong truyện, tác già chỉ như một khách thể đứng xa quan sát và ghi lại ; Ông cũng tạo ra những nhân vật phiếm chỉ, đọng lại nỗi bâng khuâng trong lòng người đọc. Kết thúc Ngăn Rạch Bắt Sấu, LVS viết :” Đến bây giờ có một ông già ngoài 90 cứ ngày ngày ra đứng bờ sông, nhìn dòng nước chảy…Ông sống để nhìn trò đời thay đổi, để khóc một tâm sự gì đau đớn tận ngày xưa. Nhưng hình như nước mắt long ông đã khô rồi. Bởi tuổi cao, lòng nguội.Tuổi già lẩm cẩm, ông hầu quên hết mọi sự ở đời…”. Nhân vật “tôi” (tác giả) có xuất hiện , song chưa có vai trò gì quan trong tác phẩm.

KònTrô là một tập truyện đường rừng có nội dung khá đặc sắc. Tuy vậy, tư tưởng của KònTrô còn mờ nhạt. KònTrô không cắt được những vết sâu vào thực tại , tác phẩm khó có được sức lắng đọng lâu bền với thời gian.

Bùi Công Thuấn 09/09

Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

IM LẶNG GHÊ NGƯỜI CỦA GIỚI PHÊ BÌNH

CÓ MỘT SỰ IM LẶNG GHÊ NGƯỜI CỦA GIỚI PHÊ BÌNH…
( Bùi Công Thuấn trả lời phỏng vấn của Văn Nghệ Trẻ)



Văn nghệ Trẻ trò chuyện với nhà phê bình văn học Bùi Công Thuấn



“Phê bình mà phẳng lặng như mặt nước ao tù, không gây cho bạn đọc ấn tượng gì, không đem đến cho bạn đọc những khám phá nào về giá trị của tác phẩm, không hé lộ cho bạn đọc thấy được tài năng của nhà văn là gì, mình nghĩ, văn chương chẳng cần đế thứ phê bình như thế. “




VNT: Thời gian qua, nhiều bạn đọc đã rất chú ý đến loạt bài “Bùi Công Thuấn đọc văn trẻ”. Những tác phẩm mới của các bạn viết trẻ đã lọt vào “tầm ngắm” của anh. Xin hỏi anh, vì sao anh dành sự nhiều sự quan tâm của mình cho văn trẻ mà không phải là văn… “già”?

BCT : Mình yêu quý nhà văn trẻ, vì thời trẻ là thời của sáng tạo, thời của ý thức dấn thân, thời của sự bộc lộ tài năng và cá tính mạnh mẽ. Khi người ta lớn tuổi, kinh nghiệm sống và nghĩ suy có thể dày dạn hơn, nhưng năng lực sáng tạo, khả năng làm ra cái mới là hạn chế, rất khó vượt ra khỏi lối mòn , sức ì sẽ là trở lực rất nặng của ngòi bút.

Còn một lý do nữa, mình nghe nhiều ý kiến khen chê các tác giả trẻ, phần nhiều là PR cho tác phẩm, vì thế mình muốn tự mình tìm hiểu xem thực chất của vấn đề là gì, bởi quảng cáo thường hướng vào thị trường, với mục đích lợi nhuận, không phải mục đích văn chương.

Về sâu xa, mình muốn tìm biết điều này, đã hết thập niên đầu của thế kỷ 21, đa số nhà văn lớp trước đã luống tuổi, họ thuộc về thời đã qua, người đọc không thể đòi hỏi họ nhập cuộc với thời hôm nay, không thể đòi hỏi họ sáng tạo cái mới (*). Chẳng hạn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp lâu nay không viết, khi trả lời Hồng Thanh Quang, ông bảo “Tôi nghĩ là, có lẽ cái việc của mình nó xong rồi. Tôi cũng là nhà văn của một giai đoạn, mình cũng đã đến tuổi 60 rồi…” (1).Vậy đội ngũ nhà văn trẻ có thể tiếp bước thế hệ trước đưa văn chương VN tiến lên những chặng đường sáng tạo mới hay không. Đây là một vấn đề quan trọng. Dường như lớp nhà văn “già” còn hoài nghi nhiều về nhà văn trẻ.

VNT : Có những bài phê bình của anh nhận được sự phản hồi khá gay gắt. Thậm chí có ý kiến cho rằng anh không phải là nhà phê bình chuyên nghiệp nên các bài phê bình không đáng tin cậy. Anh tiếp nhận điều này như thế nào?

BCT : Mình tổng hợp nhiều phương pháp phê bình khác nhau để đọc tác phẩm, nhờ đó có thể có được cái nhìn đa diện về tác phẩm. Mình chú ý đặc biệt đến ý thức sáng tạo của tác giả, bởi lần theo ý thức sáng tạo của nhà văn, người đọc có thể hiểu đúng tác phẩm hơn. Có một sự thật là chỉ những nhà văn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ mới làm nên tác phẩm giá trị và họ có khả năng đi xa (Thí dụ Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu… )

Trong việc sử dụng các phương pháp phê bình, mình quan tâm đến những phương pháp có cơ sở khoa học, để tìm kiếm những kết quả khách quan, vì thế những gì mình phát hiện về tác phẩm là khả tín. Bạn có thể đọc trong bài viết của mình những góc nhìn của Phê Bình Mới, của chủ nghiã Cấu Trúc, Giải Cấu Trúc, cuả Phân Tâm Học, Thi Pháp Học, Phong Cách Học và phê bình Marxist …, tuỳ theo kiểu tác phẩm và bút pháp của tác giả. Với tư cách là người đọc (tiếp nhận văn học), mình chú ý điều này: nhà văn có năng lực sáng tạo hay không, nhà văn có cái riêng độc đáo hay không, nhà văn có khả năng đi xa hay không. Những nhà văn viết theo bản năng thì không có được những phẩm chất ấy.

Và vì thế, những phản hồi “gay gắt” dựa trên cảm tính không tạo cho mình chút hứng thú nào trong khám phá tác gỉa và tác phẩm. Mình luôn lắng nghe và mong muốn được trao đổi với những bạn đọc có ý kiến dựa trên những phương pháp phê bình khoa học. Rất tiếc hiện nay những phản hồi như thế là rất ít. Với lại, phê bình mà phẳng lặng như mặt nước ao tù, không gây cho bạn đọc ấn tượng gì, không đem đến cho bạn đọc những khám phá nào về giá trị của tác phẩm, không hé lộ cho bạn đọc thấy được tài năng của nhà văn là gì, mình nghĩ, văn chương chẳng cần đế thứ phê bình như thế.

VNT : Quan tâm, theo dõi sự chuyển động của văn học trẻ vậy, theo anh, sự chuyển động ấy có điểm gì đáng chú ý?

BCT : Mình rất mừng vì đội ngũ viết văn trẻ nhiều tài năng, và sung sức. Họ đang đem đến cho văn chương Việt Nam niềm hy vọng. Họ đang dần dần nhận lấy trách nhiệm làm nên một thời đại mới cho văn chương VN ở TK 21. Những khuôn mặt sáng giá về năng lực sáng tạo có thể kể là Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Bình Phương, Phong Điệp, Trần Thu Hằng, Nguyễn Ngọc Tư, Dương Thụy, Uông Triều…

Ở thế hệ nhà văn trẻ hôm nay, có một nỗ lực rất đáng trân trọng là nỗ lực cách tân trong bút pháp, khiến cho văn chương của người trẻ hiện nay đã rất khác với thế hệ trước đó . Họ đang vượt lên để theo kịp với thời đại. Sự thành công ở nỗi lực này còn hạn chế, nhưng người đọc có thể nhận ra họ đã làm nên một thế hệ nhà văn mới.

VNT : Theo anh, điểm yếu của văn trẻ hiện nay là gì?

BCT : Nhiều nhà văn trẻ có tài năng , nhưng họ chưa có được tác phẩm ngang tầm với tài năng ấy bởi họ chưa có được quan điểm sáng tạo riêng , độc đáo . Nhận thức về chức năng của văn chương, thiên chức của nhà văn còn rất hẹp. Có người coi sáng tác văn chương là trò chơi chữ nghĩa, có người coi văn chương là cách để nổi danh, trong khi cách chúng ta rất xa, Phan Bội Châu đã nhận ra “văn chương quan thế đạo thịnh suy”(2), Nam Cao, Nguyễn Minh Châu đã trăn trở khôn nguôi về ngòi bút của mình và Nguyễn Tuân đã để lại kinh nghiệm lao động văn chương nghiêm túc thế nào.

Văn trẻ thiếu tư tưởng nhân văn tiến bộ làm cốt lõi . Những câu chuyện được kể sẽ qua đi nhưng tư tưởng sẽ đọng lại mãi. Đoạn Trường Tân Thanh (nguyễn Du), Những Người Khốn Khổ (V. Hugo), Ông Già và Biển Cả (E. Hemingway), Số Phận Con Người(Sôlôkhốp)… dù đã cách xa chúng ta, vẫn là ánh sáng soi dẫn bạn đọc đi về phiá trước, bởi tư tưởng nhân văn tiến bộ toát ra từ những hình tượng nghệ thuật được xây dựng chân thật.

Văn Trẻ chưa chạm được những vấn đề trung tâm của đời sống, để lên tiếng nói với thực tại, để trở thành ánh sáng lương tri ở phiá trước . Nhiều ngòi bút chỉ hướng đến thị trường, đáp ứng những thị hiếu hời hợt, văn chương chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí. Văn trẻ hôm nay không có được tiếng nói mạnh mẽ trước những vấn đề cuả đất nước như trước đây Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng đã từng lên tiếng.

Tôi cũng thấy có nhà văn trẻ chịu ảnh hưởng những quan điểm nghệ thuật suy đồi. Họ không coi sáng tác văn chương là sự sáng tạo “cái đẹp” bằng ngôn từ nghệ thuật, và vì thế họ hăng say miêu tả “cái xấu”, họ ngỡ rằng như thế mới là văn chương của thời đại mới. Họ dựa vào thái độ phủ định những “đại tự sự” của chủ nghiã Hậu Hiện Đại mà đạp đổ những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc. Họ nhân danh “cái mới” mà chà đạp lên những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng. Nhiều nhà văn trẻ thiếu chiều sâu và bản lĩnh văn hoá dân tộc, thiếu chiều sâu của vẻ đẹp nhân văn phương Đông. Chúng ta biết rằng E. Hemingway được Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển trao giải Nobel văn chương vì trước hết ông là nhà văn Mỹ, đồng thời là “một trong những nhà kiến tạo phong cách vĩ đại nhất trong kỷ nguyên này ở nghệ thuật tự sự của cả Mỹ và châu Âu.”(3)

VNT : Xu hướng viết/ kể về mình đang được nhiều tác giả mới ưa chuộng. Những câu chuyện tình yêu mang tính riêng tư, những entry trên blog được tập hợp lại và dán nhãn “tiểu thuyết” hoặc “truyện ngắn”. Anh đánh giá thế nào về xu hướng này?

BCT : Có một thực tế này, nhà văn nào ở chặng đường đầu đời cũng bắt đầu viết khởi đi từ chính mình, rồi dần dần mới tách mình ra, mới vươn tới chân trời sáng tạo. Con đường sáng tạo là là con đường không có lối đi. Thiên tài tự mở lối cho chính mình. Nhưng nhiều người đã không vượt qua được giai đọan tập sự. Họ chỉ là những thợ chữ. Nam Cao bảo rằng văn chương không cần đến những người thợ chữ như thế.

Chỉ khi nhà văn thoát khỏi chính mình, hoá thân vào nhân lọai, lúc ấy họ mới có tác phẩm văn chương đích thực.

VNT : Có một thực tế là : Nhiều tác phẩm văn học mới xuất hiện, gây tranh cãi. Độc giả rất muốn lắng nghe tiếng nói của những người làm công tác phê bình văn học. Thế nhưng dường như các nhà phê bình chưa (không ?) muốn nhập cuộc. Việc nghiên cứu các bậc tiền bối là cần thiết, nhưng đời sống văn học cũng cần sự nhập cuộc mạnh mẽ của các nhà phê bình. Quan điểm của anh về vấn đề này?

BCT : Đây cũng là một vấn đề lý thú. Quả thực có một sự im lặng ghê người của giới phê bình đối với văn chương trẻ thời gian qua. Đội ngũ phê bình văn chương hiện nay khá đông đảo nhưng không biết họ bỏ đi đâu.

Đối tượng của nhà phê bình trước hết là tác phẩm văn chương của ngày hôm nay. Phê bình là tiếng nói của công luận đối với tác phẩm ấy. Một nền văn học mạnh khoẻ nhất thiết phải có tiếng nói phê bình sôi nổi, vậy mà trong những năm gần đây, văn đàn thật im ắng.

Có thể có nhiều lý do .

Nhà văn trẻ còn đang trưởng thành, đang tự khẳng định, con đường sáng tác họ còn dài phiá trước, chưa cần phải vội vã đọc họ, cứ để thời gian lắng dần những eo sèo thời thượng, lúc ấy hãy đọc. Sự sàng lọc của thời gian giúp cho nhà phê bình nhìn rõ hơn giá trị văn chương của họ.

Cũng có một thực tế này, có nhà phê bình đã quen với phương pháp phê bình của chủ nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, khi đối diện với tác phẩm được viết với những phương pháp sáng tác khác, thì họ không đọc được.

Cái lúng túng thấy rõ là nhà phê bình không có được một phương pháp phê bình khoa học, không có những tiêu chí văn chương (tiêu chí cái đẹp) khả dĩ có thể đánh giá được tác phẩm , khi thực tế sáng tác của nhà văn trẻ là trái hẳn với những tiêu chí trước đây, vì thế nhà phê bình không biết nên phê bình thế nào.

Còn một lý do nữa là ngại đụng chạm. Có một nhà văn đàn anh đã nhắc nhở mình thế này, cậu viết phê bình như vậy nhà xuất bản họ không bằng lòng đâu. Vậy theo bạn mình phải viết phê bình thế nào để làm vừa lòng tất cả mọi người?

VNT : "Nguyên tắc tối cao" của anh khi làm phê bình là gì?

BCT : Đối tượng của phê bình là tác phẩm văn chương. Đó là một hệ thống ký hiệu, một thế giới nghệ thuật, một sáng tạo mang dấu ấn cá tính tác giả và thời đại, cũng đồng thời là một sinh mệnh. Trước tiên mình cố gắng giải mã cho được ý nghĩa của hệ thống ký hiệu ấy, khám phá cho được thế giới nghệ thuật của tác phẩm, và nhìn tác phẩm như một sinh mệnh trong tương quan nhiều chiều đối với xã hội và
tác giả. Nguyên tắc tối cao của mình là tính khách quan, khoa học trong khám phá những giá trị của tác phẩm. Những nhận định, đánh giá phải được lý giải tường minh dựa trên những tiêu chí được xác lập theo những chuẩn mực của truyền thống văn hoá xã hội. Mục tiêu mình mong đạt đến là khám phá cho được cá tính sáng tạo của nhà văn và những giá trị đặc sắc và mới mẻ mà tác giả mang đến cho văn học. Còn điều này nữa, phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, mình cố gắng trình bày vấn đề sao cho hấp dẫn và có văn phong riêng.

Một nguyên tắc khác của mình khi viết phê bình là thể hiện tình tri âm với tác giả. Mình cố gắng hết sức để hiểu đúng ý tác giả, trân trọng những nỗ lực sáng tạo và chia sẻ những thông điệp tác giả gửi trong tác phẩm. Điều này thật khó, vì ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ hàm hồ, không dễ có thể hiểu được những gỉ tác giả đã mã hoá, và vì thế không tránh khỏi độ kênh trong đánh giá tác phẩm. Điều này có thể làm buồn lòng tác giả.

PV VNT

_________________________________________________________________

(*) Theo nhà văn Khôi Vũ, Hội Nhà Văn có hơn 70% trên 60 tuổi, rất nhiều hội viên 15 năm nay
không có thêm tác phẩm nào mới

(1)http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/nhanvat/2010/8/54066.cand?Page=1

(2)Phan Bội Châu- Quan niệm của tôi đối với văn chương- Thơ Văn Phan Bội Châu-Nxb Văn Học.1985.tr. 266

(3)Tuyên Dương của Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển- Tân Đôn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

ĐĂNG TRÊN WWW.PHONGDIEP.NET NGÀY 18.11.2010:
http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11525

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

THÁNG HOA HỌC TRÒ



KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ SỨC KHOẺ, NIỀM VUI VÀ NHIỀU HOA HỒNG TRONG THÁNG HOA NÀY

Mời các bạn nghe ca khúc HOA DÂNG THẦY CÔ của Bùi Công Thuấn

http://amnhac.yume.vn/nghe-bai-hat/hoa-dang-thay-co.buicongthuan.35B5F440.html

HOA DÂNG THẦY CÔ
Nhạc và lời : Bùi Công Thuấn

Dâng lên thầy cô / hoa hồng thắm tươi trong ngày tết vui
Dâng lên thầy cô / lòng yêu mến nhiều tháng ngày vất vả
Dâng lên thầy cô / như rừng xanh lá / ước mơ ngọc ngà
Dâng lên thầy cô / những lời em hưá sẽ học rất ngoan

Này em xin hưá / sẽ là học trò ngoan
Dâng bao niềm tin / xây đời bao ước vọng
Này em xin hưá / sẽ là học trò ngoan
Dâng đôi bàn tay/ xây đời xây tương lai

Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

GIỮA DÒNG HIỆN SINH

Bùi Công Thuấn đọc Văn trẻ
GIỮA DÒNG HIỆN SINH
Tiểu thuyết GIỮA DÒNG CHẢY LẠC, của Nguyễn Danh Lam,Nxb Văn Nghệ 2010

GIỮA DÒNG CHẢY LẠC (GDCL) là câu chuyện của một gã tâm thần đơn độc với tuổi già phiá trước (tr.373). Vợ mới cưới được ba tháng đã bỏ đi. Người bạn hoạ sĩ tâm giao cũng chết đột ngột không rõ nguồn cơn. Người bạn thời sinh viên, sau tai nạn phải sống thực vật cũng đã ra đi. Mấy lần đi xin việc rồi phải bỏ việc. Nhiều lần lên cơn điên hiện sinh tưởng đã chia lià cõi đời phù du này. Chỉ còn lại một con người đơn độc, bất lực, vô vọng, không biết về đâu, không chốn nương thân (NO COUNTRY FOR OLD MEN.tr.375) giữa dòng chảy cuộc đời.

Nếu tác phẩm chỉ là như thế, hẳn bạn đọc sẽ nghĩ đây là một câu chuyện nặng đầu, khô khan và lạc lõng giữa những cuốn tiểu thuyết khác đầy sex, đầy hoan lạc. Trái lại , ngòi bút Nguyễn Danh Lam (NDL) miêu tả tuyệt hay chuyện tình của nhân vật Anh, dựng những cảnh đối thoại chàng và nàng sinh động và trí tuệ đến không ngờ, thâm nhập rất sâu vào tâm thức nhân vật để phát hiện những trạng thái hiện sinh mê cuồng. NDL cũng có những chi tiết miêu tả chân thật đến độ sững sờ. Một giọng văn đôn hậu ấm áp và một cách viết hấp dẫn đến những dòng cuối cùng.

Đọc GDCL , người đọc bị treo lửng lơ giữa nhiều tầng ý nghiã, mà chưa hẳn đã nhận ra rạch ròi ý nghiã nào là thông điệp đích thực của tác phẩm. Ý nghiã hiện thực hay ý nghiã tư tưởng. Lòng yêu thương hay thái độ phê phán? Phải chăng GDCL là một thách thức về cách đọc? Chỉ điều này là rất thực: Tiếng nói của NDL trong tác phẩm là tiếng nói tỉnh táo, trải nghiệm và rất hồn hậu. NDL có khả năng nhìn xuyên qua nhiều thế giới, để đi đến tận cùng của phận người, kiếp người, lạc lõng giữa dòng chảy khốc liệt ngoài kia, những con người mà anh gọi là một “Lost Generation”, khi cái cũ đã qua mà cái mới còn chưa tới.(1)

Những câu chuyện tình lãng mạn nhưng nhiều vị đắng

Anh là một người cô đơn nên chân thành tìm kiếm tình yêu. Khi bất chợt gặp Cô trong công ty Bảo Hiểm lúc chờ phỏng vấn, Anh đã tạo được sự tư tin trước mặt cô lúc có đám cháy làm mọi người hoản loạn. Sau đó Anh mong chờ mỏi mòn một tin nhắn, một cuộc gọi cuả Cô. Tất cả bặt tăm, rồi đột nhiên Anh nhận tin nhắn của Cô, hẹn đi uống café, rồi cùng đi chơi biển. Cuộc đi chơi với bao nhiêu hào hứng bỗng khựng lại vì Cô đòi về. Sau đó lại mất tăm. Anh chạy theo Cô như trong một cuộc chơi cút bắt. Lại mong chờ mỏi mòn, và rồi Cô lại đến. Lần này Cô yêu cầu Anh chở ra ngoại thành chơi. Quả là một dịp tuyệt vời để tỏ tình, để những quan hệ tình thân trở nên thắm thiết. Cô nằm trên cỏ, hai người tâm tình. Chiều xuống, trước khi trở về thành phố, Cô nói một lời làm anh hụt hẫng, Anh chỉ là bạn thôi. Cô lại biến mất. May mà trong mobile còn tấm hình Anh chụp lén lúc cô nằm trên cỏ. Anh để làm hình nền.

Cô mất tích. Anh trở lại cô đơn hơn bao giờ. Khi đi đăng ký đi học tiếng Anh, Anh gặp một cô gái khác, xinh đẹp và hơn anh về trình độ hội thoại. Lại mong chờ, đón đợi để được làm quen, Anh mua tặng cô bô CD học tiếng Anh. Rồi bât ngờ, cô nhờ Anh chở về nhà. Cô nói rõ gia cảnh khốn khó của mình. Cô đi học tiếng Anh là để mong quen một người xuất cảnh đem cô theo. Một lần không tiện về nhà, cô xin Anh chở cô về nhà Anh. Anh nghĩ đây sẽ là dịp thuận tiện nhất để bày tỏ lòng mình. Nhà chỉ có hai người. Khi cô ngủ, Anh thức bên cô để bảo vệ giấc ngủ của cô, có lúc không kềm được xúc động. Rồi Anh thiếp đi. Khi Anh thức dậy, cô đã bỏ đi, đồng thời số phone cuả cô trong máy Anh cũng bị xoá mất. Cô để lại một lá thư chia tay. Chúc Anh và vợ hạnh phúc. Cô ngỡ hình nền cô gái trong mobile là người vợ của Anh . Cô bỏ đi để lại một là thư chia tay. “Trái tim anh thắt nghẹn. Yêu thương. Nuối tiếc. Ân hận. Dằn vặt. Tuyệt vọng…Mớ cảm xúc hỗn mang, nhào lộn…”(tr.179)

Anh bấm máy và gặp lại Cô (làm ở công ty bảo hiểm ), hiện Cô đang thất nghiệp và cô đơn. Anh đến nhà thăm cha mẹ cô, được sự đồng ý của ông bà, Anh quyết định lấy cô. Ngày hẹn Anh đi lấy thiệp cưới, cô lại bỏ đi chơi với bạn. Anh giận điên người nhưng nhẫn nhịn. Đám cưới vẫn diễn ra vui vẻ với bao nhiêu hy vọng đổi đởi. Nhưng thực tiễn lại héo hắt vì tiền bà chị gửi mừng đám cưới, sau khi thanh toán mọi khoản, còn lại anh phải bù đắp cho một người bạn bị tai nạn nằm viện. Trăng mật diễn ra tẻ nhạt hiu hắt trong một nhà nghỉ nghèo ở biển. Những ngày sau đó, Cô đi công tác hoài. Nhiều đêm không về nhà. Có gí đó bí mật về Cô mà anh chưa biết. Cuộc sống căng thẳng và lạnh lẽo. Nhiều lần Cô từ chối những đề nghị của Anh. Hôm kỷ niệm 3 tháng ngày cưới, Anh mua quà chờ Cô về để tặng, nhưng Cô không về. Anh tìm Cô ở cổng cơ quan. Có thấy bóng Cô nhưng rồi mất hút. Anh phóng xe đuổi theo. Như một mật thám xem Cô đi đâu, với ai. Anh biết điều ấy là tồi tệ, nhưng không thể khác. Rất may Cô đi với một cô bạn tới một khách sạn. Khi Cô trở về, hai người đối mặt nhau quyết liệt trước sự thật. Cô ra đi trong tan vỡ phũ phàng.”…anh cảm thấy sự sống đang trôi ra khỏi mình, chầm chậm, như những giọt máu đang kiệt dần trong huyết quản. Những giờ dài không uống , không ăn, nối nhau tan lìm lịm”(tr.324)

Anh nhận ra điều này : “Hai lá thư để lại.Hai người con gái. Hai cung cách biến mất vô dấu tích, ngay cả đến số điện thoại của họ anh cũng chẳng còn. Hai phiên bản chồng lên nhau, tạo nên một độ mờ nhoè khiến cả hai càng gần với ảo giác “(tr.327) và cả Anh nưã, tất cả cũng chỉ là một phiên bản những con người cô đơn, dở dang, vô vọng “Tất cả đều lạc nẻo, càng cố trở về càng trôi xa hút, càng cố kiếm tìm càng hoài công mệt mỏi”(tr.304). Hai cuộc tình mà anh tốn nhiều công sức theo đuổi, cuối cùng vuột khỏi tay anh, dù anh cố sức đến kiệt lực, đến mỏi mòn để giữ. Điều gì làm Anh thất bại? Trong tình yêu, Anh rất trân trọng Cô, rất cảm thông hiều biết từng tình huống cụ thể, Anh chịu nhận phần thiệt về mình. Cả hai cô đều xinh đẹp, lịch lãm, tinh tế, và mạnh mẽ. Cả hai đều có lòng tự trọng rất cao, thẳng thắn và chủ động trong tình yêu, trong sự định đoạt số phận mình. Vậy mà họ phải chia tay nhau.
Bởi vì có độ kênh trong ý thức về tình yêu giữa Anh và hai cô. Anh là người cô đơn, tìm đến Cô là để có người chia sẻ, là để đổi đời, đổi số phận. Cô gái học Anh văn tìm đến Anh vì ngỡ Anh là người sắp đi xuất cảnh, nhưng khi phát hiện ra trong mobile của anh có hình cô gái, cô ngỡ là vợ anh, nên bỏ đi, đó là lẽ tất nhiên, cũng là tự trọng. Rõ ràng giữa họ có sự ngộ nhận, và chưa hề có tình yêu. Cô gái chỉ muốn nương vào Anh để thoát cảnh nghèo của gia đình. Với Cô (Bảo Hiểm ), hai người đã có những kỷ niệm đầy ấn tượng, đã hiểu biết nhau nhiều hơn, đã đi đến hôn nhân và chung sống được 3 tháng, nhưng tại sao Cô ra đi. Cô đã trách anh thờ ơ, không quan tâm đến cô. Còn Anh, mỏi mòn trông đợi ở Cô hạnh phúc gia đình như anh hằng mong mỏi (có con ), mong một cuộc sống đầm ấm như bao người, nhưng Cô cứ bỏ nhà đi suốt. Anh hỏi thì Cô nói là đi công tác hoặc bận việc công ty. Chỉ khi không còn cách nào che dấu, Cô mới thú nhận với anh mình có tình yêu đồng tính với cô bạn gái cùng cơ quan. Họ đi nhà nghỉ với nhau ngay trước ngày đám cưới và những ngày sau đám cưới. Có thể Anh đã không giúp cô trở lại bản năng phụ nữ, để rồi Cô lại băng mình đi, còn Anh thì xót xa thương cảm. Cả hai đều không có tình yêu. Đám cưới của họ là do ước muốn thiết tha cuả hai gia đình. Dù Anh tha thiết xin sống với cô như bạn, nhưng cô đã rũ bỏ sạch mọi quan hệ với Anh. Dù sao đó cũng là lòng tự trọng đáng thương.
Cũng phải kể đến cuộc tình năm ngày của chị gái Anh với anh rể. Anh rể về nước, quen chị năm ngày thế là thành vợ hồng. Anh về nước để xả stress và hưởng thụ nhà hang, rượu và gái, chẳng cần dấu diếm cậu em vợ.

Tất cả những cuộc tình ấy hé lộ điều gì về thực trạng gia đình Việt Nam hôm nay. Cái nghèo vẫn chi phối quay quắt. Tháng lương làm thuê của Anh bèo bọt đến nỗi Anh không dám về nhà. Cô gái học Anh văn chỉ mong tìm người xuất để thoát nghèo. Tuần trăng mật của Anh và Cô (Bảo hiểm) hiu hắt thê lương trong nhà trọ rẻ tiền, chỉ vì Anh và Cô cùng đang thất nghiệp. Tiền bà chị gửi cho thì đã nhẵn túi. Chủ nghiã thực dụng làm sụp đổ tất cả. Cô bảo Hiểm lấy Anh chỉ là để che dấu cái thực tại đồng tính của mình trước mặt cha mẹ và mọi người. Vì thế, dù gia đình cha mẹ cô, gia đình cha mẹ và chị của Anh, và cả Anh nữa, có khao khát thế naò, vun đắp thế nào cũng chỉ là xây nhà trên cát. Tất cả đều thật đáng thương trước sự phũ phàng của dòng đời hôm nay. Nó cứ băng về trước và hất ra bên lề những con người cố giữ lấy những giá trị truyền thống, giá trị nhân bản. Tiếng kêu cứu của tác phẩm là tiếng kêu thống thiết. Số phận của Anh và cái chết của ông Hoạ Sĩ như một lời cảnh báo cho mọi gia đình, mọi người trẻ về thực tại kiếm tìm hạnh phúc của họ. Tác giả không đưa ra lời giải đáp, nhưng người đọc có thể hiểu được những gì tác giả gửi gắm trong những trang văn nặng lòng của mình

Có thể nói sức cuốn hút của GDCL là từ những cuộc tình được miêu tả thật hấp dẫn này. Người đọc khát khao tìm biết xem diễn cuộc tình sẽ ra sao. Điều bí mật luôn ở trước mặt họ. Rồi những kết thúc đột ngột làm sững sờ và tiếc nuối. Ai cũng mong cho Anh và Cô tìm được hạnh phúc, bởi vì họ thực tình tìm kiếm nhau, bởi họ rất tự trọng và giữ gìn nhân cách. Những cuộc đối thoại của họ được viết rất tài năng, nó vưà tự nhiên như ngoài đời, nhưng lại là những cuộc thách đố trí tuệ giưã hai con người. Tất cả đều được soi chiếu qua óc quan sát tinh tế và giàu kinh nghiệm cuả Anh. Điều đáng quý là trong tác phẩm này NDL không hề miêu tả sex, mặc dù anh có nhiều cơ hội để phơi bày những hành vi giao cấu (như nhiều nhà văn trẻ khác đã làm để câu khách). Thế nhưng truyện vẫn hấp dẫn. Người đọc không thể rời tay trước khi đọc hết dòng cuối cùng cuả tập truyện. Kinh nghiệm khám phá và miêu tả thế giới bên trong con người, khám phá ý thức về bản thể tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm, có thể sẽ là rất tốt cho cho sự thử nghiệm của các cây bút trẻ khác.

Một thế giới yêu thương rất mực

Người chị gái của Anh ở Mỹ là một hình ảnh của thế giới ấy. Tất cả dành cho em, lo cho em. Ngòai tiền chị gửi về cho em ăn xài, chị còn lo cho công việc cuả em, lo cho em lập gia đình. Chuyện gì khó khăn của em chị cũng nhận lấy “để chị tính”. :”Anh lặng người.”để chị tính”, với anh bà luôn là vậy. Sống giữa cái đất nước ‘chẳng ai lo cho ai’, sự tự thân tồn tại đã trở thành văn hoá, thành động lực xã hội, bà chị Anh vẫn thế, vắt kiệt sức mình để lo cho những người thân”(tr.226). Dường như tình yêu thương cuả chị với em là không vơi cạn. Tình yêu thương ấy bao trùm suốt tác phẩm, suốt đời em, cả khi em đã lập gia đình và hưá không làm phiền chị.

Tình yêu thương cuả gia đình Cô (Bảo hiểm ) đối với con gái và con rể (Anh) cũng thật sâu nặng và cảm động. Họ mong cho con hạnh phúc, tuy vậy họ vẫn tôn trọng cá tính và cuộc sống riêng cuả con. Họ rất mừng khi thấy con gái có nơi có chỗ, nhưng họ bất lực trước thực tại. NDL nói tiếng nói chính thống về gia đình qua lời Ông bà già Cô nói với Anh :
-“Nó là con gái út, cá tính lại mạnh mẽ. Bao nhiêu người quen, nó chẳng chịu người nào. Chẳng phải là con gái mình hư, nhưng bác chỉ sợ nó theo cái mốt cuả xã hội bây giờ, nhiều cô chẳng muốn ràng buộc gia đình, cứ thế tự sinh rồi tự nuôi. Giờ biết nó muốn đến với con, hai bác mừng lắm
-Mỗi người có một quan điểm mà hai bác…
-Không –Ông cương quyết lắc đầu -Thời nào thì cũng phải vậy. Tạo hoá đã quy định rồi. Người cha có phần của người cha, người mẹ có phần của người mẹ. Có cha có mẹ đầy đủ mới tác động tốt đến tâm sinh lý đưá con sau này. Thiếu một trong hai, chắc chắn đưá trẻ sẽ mất cân bằng, phát triển không tốt về sau. Và chính xã hội sẽ phải gánh chịu sự mất cân bằng ấy. Mình muốn tự do mà tước đi sự cân bằng cuả đưá trẻ, là mình ích kỷ. Bác không ủng hộ điều đó”(tr.193)

Khi cô bỏ đi chơi với bạn ngay trước ngày cưới, cả gia đình hoảng loạn, anh cũng giận điên người . Mọi người sôi lên như trong vạc dầu lửa bỏng. Rất dễ cáu gắt nặng lời, rất dễ tổn thương lòng tự trọng . Đó là tình huống bẽ bàng cho cả cha mẹ cô dâu và chú rể. Tình huống có thể đẩy cao nghi ngờ thành đổ vỡ. Phải chăng cô đi chơi với người tình lần cuối trước khi lấy chồng. Vậy thì chẳng còn gì để mà níu kéo. Tàn nhẫn và xỉ nhục nhau đến thế sao. Nhưng tình yêu thương đã vượt lên. Mẹ cô nói với anh những lời trĩu lòng thế này

-“ Nó còn trẻ lắm, mới để xảy ra chuyện như thế này. Hai bác mong con tha lỗi cho nó, cho hai bác ! Rồi còn sau này nữa chứ…Thật khổ quá, chẳng dạy nổi con…
Anh phải gắng cười, đặt tay lên tay bà:
-Hai bác đừng nghĩ ngợi gì cả. Cô ấy đi chơi lần cuối với bạn bè, trước khi lấy chồng, để chia tay thời con gái cũng là phải thôi bác ạ”(tr.202)

Trong lời đối thoại ấy, không chỉ có lòng yêu thương sâu thẳm của cha mẹ, mà có cả một nền văn hoá nhân bản hàng nghìn năm. Những con người yêu thương chia sẻ nỗi buồn đau xé lòng bằng những lời dịu êm để nỗi đau đằm xuống. Trong hành xử, họ lấy sự tương kính làm trọng. Họ thành thật nhận lỗi với nhau, và cùng giữ gìn sao cho mọi chuyện đều tốt đẹp, có ý thức tránh gây ra những đổ vỡ.

Hình ảnh bà mẹ già chăm sóc người con đang sống thực vật cũng là một hình ảnh ấn tượng. Cô em gái người bạn nói với Anh :”Trước đây mẹ tôi lẫn lắm, nhưng chẳng hiểu sao từ ngày anh đổ xuống, cụ lại mạnh lên. Cụ làm tất cả như cái máy. Có lẽ là nhờ thương ảnh quá “(tr329)

Qủa thực, rất ít cây bút trẻ hiểu và diễn đạt được cái đẹp văn hoá, cái đẹp nhân văn của con người Việt Nam như thế. Những điều ấy tạo nên chiều sâu giá trị của tác phẩm và ánh lên những màu sắc thẩm mỹ lấp lánh trên nền những bóng tối, bất lực và vô vọng của dòng chảy hiện sinh

NDL cũng miêu tả tình quê hương thật lắng đọng. Ông hoạ sĩ bạn Anh, sau khi đã xuất cảnh, không sống nổi trong sự cô đơn và bất lực ở nước ngoài, đã trở về Việt Nam và nói với Anh những lời gan ruột thế này:

“…có ly cà phê, điếu thuốc, hít thở không khí quê nhà. Tao như tỉnh lại. Rớm nước mắt mày ạ “
- Em hiểu
- Mày không thể nào hiểu được! Chắc chắn không thể nào, nếu mày chưa trải qua những ngày tháng vừa rồi như tao! Nghe một tiếng chó sủa cũng rơi nước mắt!

Ông rút một hơi thuốc, nhấp ngụm cà phê. Khoé mắt bắt đầu tinh anh, hấp háy
- Sướng lắm mày ơi. Đêm qua tao vừa nghe tiếng rao! Chỉ vì cái tiếng rao nửa khuya ấy mà tao trở dậy. Nằm trên giường cũ mà cứ run lên từng chặp! Nhắc lại điều này có vẻ cũ, nhưng sự thực nó là vậy.”(tr.342)

Ấy là những dòng miêu tả được tình quê hương sâu nặng và cụ thể trong lòng lão họa sĩ. Lão đã trở về, tìm lại quán cà phê trước đây, lần ra bờ sông và rồi gửi mình trên sông nước quê hương. Cả khi đã vào cõ hư vô, lão vẫn nói với Anh cái khát vọng được gửi mình nơi dòng sông quê hương mênh mang, mát rượi. Có thể nói NDL đã viết được một bài thơ đẹp về tình quê hương, dù rằng những chuyện anh viết, nhiều người đã kể. Quê hương không phải là cái gì trừu tượng, mà là tiếng rao đêm, là ly ca phê quán cóc, là những con người nghèo khó nghiã tình, là cả cái không khí hít thở hàng ngày. Nhiều người muốn đi nước ngoài để có cuộc sống sung túc hơn thoải mài hơn, điều ấy cũng là bình thường trong thế giới toàn cầu hoá, thế nhưng khi hội nhập với thế giới ta không được để mất đi cái bản sắc văn hoá của mình, và tình yêu quê hương là một trong những bản sắc văn hoá Việt Nam cần giữ gìn.Trong GDCL, Nguyễn Danh Lam, đã khẳng định được điều ấy.

Tình bạn cũng được NDL miêu tả thật cảm động. Với người bạn bị tai nạn chấn thương sọ não phải sống đời thực vật, mỗi lần đến thăm, nhìn bạn , Anh đau xót vô vàn. “Anh lại gần, nhìn vào gương mặt gã bạn có phần ngổ ngáo xưa. Chỉ là một cái sọ đúng nghiã, trên ấy phủ qua một lớp da dính hai sợi lông mày và cặp mắt khép hờ, bất động tuyệt đối”(tr.331), Anh đứng đó và chìm vào “trạng thái tê dại toàn thân”. Với ông hoạ sĩ già, sau khi về nước sống đời cô độc với, Anh chứng kiến những giờ phút tàn tạ cuả ông.”Nhưng chuyện đáng buồn hơn cả là sự bi quan bắt đầu đẩy ông qua bên kia ranh giới của bệ rạc.Cơ thể ông bay ra một thứ mùi ngày càng khó tả. Có những lần anh phải lôi ông vào nhà tắm, mở vòi nước, xối và kỳ cọ cho ông như giặt một cái quần. Ông ngồi thở phập phào, tấm lưng xanh rớt, sống lưng gồ lên, lủng củng dưới đám bọt xà phòng. Anh có cảm giác nếu mình kỳ mạnh, những đám da ông sẽ tuột ra thành từng mảng, như những bệt thịt từ một con cá hấp”(tr 350). Khi ông chết, chỉ có mình Anh bên ông. Hoả táng ông xong, Anh đem cái hũ tro cốt của ông về nhà, hàng ngày đối ẩm với cái hũ tro ấy, nghe ông nói chuyện, và làm theo mọi điều như ý nguyện của ông, như không hề có cách trở âm dương. Tình bạn của Anh đã vượt qua cõi tử sinh. Miêu tả một tình bạn như thế là hiếm có trong tác phẩm cuả những cây bút trẻ như NDL

Có thể nói GDCL là một bài ca của yêu thương nặng lòng, yêu thương vượt không gian thời gian, yêu thương vượt cả lẽ tử sinh ở đời.

Một cái nhìn rất sâu vào bản thể

Có hai con người trong nhân vật Anh. Con người xã hội của Anh, một con người “vốn đầy mặc cảm sau vẻ bề ngoài cố tạo sự ngạo nghễ”, một sinh viên đã tốt nghiệp Đại Học, đã sống lăn lộn với cuộc đời. Đó là một con người rất tinh tế, khôn ngoan, chu tất, biết nhẫn nhịn, biết tự trọng và tôn trọng người khác, lấy cái đẹp làm chuẩn mực ứng xử với mọi người. Những phẩm chất ấy bộc lộ trong những đoạn đối thoại của anh với hai cô gái mà anh theo đuổi buổi đầu, những trao đổi của anh với cha mẹ vợ, những chia sẻ cuả anh với lão hoạ sĩ. Đây là một con người đằm thắm, nghĩa tình, tỉnh táo, có trình độ, có một bề dày văn hoá truyền thống, nhưng cũng rất hiện đại..
Ông hoạ sĩ bị xe tông phải nằm viện . Anh đến thăm không gặp. Khi Anh đến nhà thì ông đã đang ngồi vẽ. Ông kể lại tai nạn xe, kể lại trải nghiệm cái chết. Ông bảo Anh, thời gian của ông chẳng còn, phải tranh thủ vẽ. Anh bảo, nếu vì vậy mà bố vẽ thêm được nhiều thì cũng tốt. Anh can ông khi ông đòi uống bia. Ông bảo :

- “Kệ, nhiêù khi mình cũng yếu đuối, phải vịn vô mấy thứ này
Anh mở nắp hai lon. Họ cụng nhẹ trong im lặng. Qua một lúc, ông nhìn mặt anh
- Hình như mày cũng đang gặp chuyện gì phải không?
- Con xưa giờ vẫn thế. Có gì buồn, có gì vui?
- Mày sống thế là nhạt. Chẳng còn gì tệ hơn một thằng sống nhạt.!
- Cũng nhiều khi con muốn sống khác đi đấy chứ?
- Không phải muốn mà hãy bắt tay vào. Khả năng mày không phải là không có. Cũng vì điều đó mà tao chơi với mày đến ngày hôm nay. Tao hy vọng.
- Con thấy ngổn ngang quá, chẳng biết bắt đầu lại từ đâu?
Ông hoạ sĩ đề nghị Anh đến ở và vẽ với ông.”Anh thừ người. Quả thật đây cũng là một lời đề nghị khá đúng lúc. Về khiá cạnh thực tế, anh đã hết tiền, hết sạch đồ ăn. Về tâm lý, anh cũng chẳng hơn gì ông, đang trong những ngày u uất”(tr.72)

Đoạn đối thoại ngắn trên chỉ ra rằng, Anh hiểu rõ hoàn cảnh cuả mình, hiểu rõ cả tâm tính cuả mình, biết phân tích và hành động theo nhận thức mà lý trí mách bảo là đúng. Anh còn có cách trả lời ông hoạ sĩ rất khôn ngoan khi ông nói khích :” Mày sống thế là nhạt. Chẳng còn gì tệ hơn một thằng sống nhạt”, rồi nhân đó tranh thủ ý kiến của ông :” Con thấy ngổn ngang quá, chẳng biết bắt đầu lại từ đâu? Quả thật ông hoạ sĩ đã vẽ ra cho anh một phương cách.

Nhiều lần anh đã đứng dậy để quyết tâm bắt đầu một bước ngoặt mới, chẳng hạn, việc anh lấy vợ ,“Cuộc hôn nhân này sẽ là mốc giới cho những thay đổi trong anh. Nếu không thay đổi, sẽ chẳng còn bước ngoặt nào khác để đổi thay được nữa”(tr.277)Tuy nhiên, số phận Anh cứ trôi đi ngoài tầm tay với.Tất cả đều bỏ Anh mà đi. Anh chẳng còn gì để mất. Nguyên nhân số phận Anh đã được ông hoạ sỹ lý giải :”Phần mày, vấn đề nằm ở chỗ, mày quen nhận sự bao cấp của bà chị mày rồi. Cứ sống mãi như vậy, đến một hôm mày đánh mất đi kỹ năng để vươn ra thế giới quanh mình”(tr.346). Một lần khác ông nói rõ hơn :” Cứ sống mãi bằng sự bao cấp, chẳng làm gì cả, rồi sau này có muốn làm cũng chẳng làm nổi gì nữa đâu”(tr.34), “Cái thói ỷ lại, tủi thân con nít đã ăn vào máu”(tr.151). Ông anh rể thì đốp thẳng vào mặt Anh :”Đàn ông con trai mà không có việc làm là hỏng”,”Mày đừng tự ái, tao không chửi mày đâu, anh em trong nhà mà. Nhưng tao muốn cho mày cái cần câu, chứ không cho mày con cá”,”… mày cứ chơi hoài, đến lúc muốn chơi cũng chẳng có tiền mà chơi “(tr94)

Tôi ngờ rằng NDL không nói về con người xã hội của Anh, vì trong đời thực, chẳng thể có một người như thế. Anh có bằng Đại Học, lại khôn ngoan, nhẫn nhục, hơn thế, anh còn có cái tâm yêu thương, thì trước sau gì anh cũng có nơi có chỗ, :”có phúc có phần “. NDL nói đến Anh như một con người tư tưởng. Bởi nhân vật này luôn tra hỏi về hiện sinh. “Câu hỏi thường trực trong đầu, tại sao mình lại ở đây, trong một thế giới mênh mông, đầy xa lạ…Chẳng nơi đâu là nhà, chẳng nơi nào là quê hương?”(tr.320). Đi hưởng trăng mật với vợ, anh ngồi một mình ở bãi biển và tự hỏi “Sao mình lại ngồi đây “(tr232). Trên đường đưa gia đình ra sân bay, Anh lại tự hỏi “không biết mình đang đi đâu, tại sao lại đi.”(tr.277).Ở chỗ làm, Anh lại tự hỏi “còn ở nơi này, anh có chỗ của mình không?”(tr 146)

Anh nhìn sâu vào chính bản thể của mình. Một thân phận cô đơn, cô đơn tuyệt đối.” anh không thể làm với bất kỳ ai được nữa”(115).Căn nhà trống không, con mèo là người bạn duy nhất đã chết, để lại cho anh một nỗi buồn mất mát chưa từng nếm trải (tr.133)” Anh ngồi phịch xuống sàn. Lòng trống trải mênh mộng. Vậy là bóng dáng sinh thể cuối cùng bên anh giờ đây đã mất”(tr 132). Hai cô gái anh miệt mài tìm kiếm, sau cùng cũng bỏ anh đi không còn tăm tích gì, đẩy anh vào những tháng ngày “mang tâm trạng cận kề hư vô”(tr326). Người bạn sống đời thực vật chết, ”Hình vóc đang phân huỷ từng giờ của gã bạn ám ảnh anh suốt nhiều ngày sau đó”(tr333).Anh lâm vào nỗi hoảng sợ vô cớ, bởi những ám ảnh bên trong”(334). Sau cùng người bạn hoạ sĩ chết. Anh mất hẳn điểm tựa tinh thần, anh thực sự sống trong hai cõi thực và ảo trộn hoà (tr.360).

Những cái chết liên tiếp luôn đặt anh vào sự tra hỏi ý nghiã của tồn tại.”cái chết dù chỉ là của con mèo, dường như cũng nhắc nhở anh một điều gì đó”(tr133)” Điều gì đó ấy là :Chúng ta từ đâu đến, chúng ta là ai, chúng ta về đâu “(tr.133) Hiện sinh là phù du (tr.371), là xa lạ (tr.305), phi lý (tr.13), là trần trụi “không còn gì để mất”(tr.328, 336,349). Hiện sinh không chốn nương thân (tr.336), là biến mất không dấu tích (hai cô gái), là đi về cái chết không cưỡng lại được. Hiện sinh ấy là số phận không thể khác đi. Anh nhận ra điều này khi chứng kiến những tháng ngày sau cùng của ông họa sĩ :”Vậy là số phận đã dồn đuổi tiếp đến ông, trong các danh sách không mấy dài những người mà anh thân thiết. Bằng cách này cách khác, chẳng thân phận nào thoát được cái lưới vô hình đang bủa vây tứ phía”(tr.337). Trước những bủa vậy của hiện sinh như vậy, Anh sống trong trạng thái” nghe như có oan hồn nào đang kêu réo từ trong chính khoang bụng của mình…cả tâm trí chìm trong nỗi sợ đến bấn loạn”(tr 355)

Người đọc nhận ra ngay những ý tưởng của NDL là ý tưởng của văn chương Hiện Sinh thế kỷ XX trong những tác phẩm của Kafka, A.Camus, J.P.Sartre. NDL nói rõ những gì anh chịu ảnh hưởng :”Những tác giả văn học tôi yêu nhất và chắc chắn chịu ảnh hưởng là A. Camus, F. Kafka, E. Hemingway, F. S. Fitzgerald, R. Carver... và gần đây là H. Murakami.” (2). Vậy anh đã kế thừa văn chương Hiện Sinh thế nào ?

NDL đã có những thành công trong việc sử dụng kỹ thuật miêu tả dòng ý thức của nhân vật Anh, đặc biệt miêu tả cảm giác hiện sinh trong từng khoảnh khắc cụ thể. Ngôn ngữ anh giàu có. NDL đẩy đến cao độ suy tư của nhân vật Anh về nỗi cô đơn, xa lạ, phi lý, buồn nôn, tồn tại và hư vô, trôi dạt. Con người không chốn nương thân, hiện sinh là tồn tại đi về cái chết. Anh cũng miêu tả được dòng thời gian đặc quánh, nung mủ trong não trạng hiện sinh. Miêu tả được trạng thái nhân vật Anh kề cận cái chết. Ý thức chỉ còn chập chờn như ngọn lửa sắp tắt.Tuy nhiên phần thành công của anh chỉ là ở kỹ thuật. Anh chưa thực sự xây dựng được nhân vật của tư tưởng hiện sinh. Bởi con người của nhân vật Anh chao đảo qua lại giữa con người xã hội và con người tư tưởng, để sau cùng, nhân vật Anh tồn tại như một kẻ tâm thần. Anh phải đi bác sĩ và uống thuốc chưã trị.

Đọc GDCL, người đọc thấy rõ ngòi bút NDL cố gán cho nhân vật Anh những cô đơn, những nỗi buồn, những cảm giác xa lạ, trạng thái không chốn nương thân. Thực sự con người Anh, cuộc sống của Anh không phải là như thế. Anh được sống trong tình yêu thương của cha mẹ, anh chị và bạn bè. Tuy Anh có thất nghiệp và thất bại trong xin việc, nhưng nguyên nhân chính là ở thói ỷ lại và quen sống nhờ vào chị gái. Anh vẫn có khả năng làm việc, khả năng chịu đựng và rất tỉnh táo, sáng suốt phân tích mọi diễn biến đang xảy ra để có phản ứng thích nghi. Sự trở về cuả nhân vật hoạ sĩ cũng chỉ là để hoàn thành cái mệnh đề Hiện sinh quy tử, gượng ép đến thô thiển. Lão họa sĩ là người có triết lý sống tích cực, sống phản tỉnh mạnh mẽ, người có ý thức rất cao về giá trị đời sống, không thể bỗng chốc lại trở nên tê liệt, cứng đờ “thần thái xưa trong ánh mắt gần như chết hẳn. Cái hấp háy tinh anh bị phủ lên một sắc thái lờ nhờ, đờ đẫn “(tr.347)

Nhân vật Anh là ngườiViệt Nam, đắm mình trong văn hoá Việt Nam, thì ít nhất trong tâm thức cũng có ít nhiều tư tưởng phương Đông. Và khi tiếp xúc với tư tưởng Hiện sinh, nhất định là không tránh khỏi sự va chạm. Ấy là những triết lý hành động của Nho giáo, về Tứ Diệu Đế và chữ Tâm của Phật giáo, là tư tưởng trở về với Đạo, sống an nhiên của Lão Trang. Những tư tưởng ấy có khả năng giải thoát con người khỏi những bi kịch cuả hiện sinh. Anh không thể trôi dạt vô định buông xuôi số phận trôi vào bi kịch của hư vô như NDL miêu tả. Cũng xin lưu ý rằng Triết học Hiện sinh là triết học chống lại sự thống trị của chủ nghiã duy lý trong xã hội phương tây..”Nguồn gốc của chủ nghiã hiện sinh và các hình thức khác của chủ nghiã phi duy lý hiện đại là sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do chủ nghiã duy lý gây nên trong xã hội phươnbg Tây hiện đại “(3) Văn chương Sài Gòn trước 1975 đã nói quá nhiều về những lo âu xao xuyến, cô đơn, buồn nôn, vong thân, tự do , hành động dấn thân, bởi xã hội miền Nam lúc đó ngập tràn bi quan, chiến tranh, lo âu và chết chóc, bế tắc về chính trị và tư tưởng. Người ta tìm đến J.P.Sartre , Simone de Beauvoir, F.Sagan. Trong bối cảnh toàn cầu hoá cuả xã hội tiêu thụ hiện nay, thống trị một bộ phận người trẻ là chủ nghiã thực dụng, vị kỷ, vô luân. Chủ nghiã Hiện Sinh đã lùi vào quá khứ. Kiểu nhân vật như nhân vật Anh là lạc lõng. Như chính NDL gọi nhân vật cuả mình là những phiên bản lạc giữa giòng đời.”tất cả đều lạc nẻo, càng cố trở về càng trôi xa hút, càng cố kiếm tìm càng hoài công , mòn mỏi…”(tr.304)

Tuy nhiên, những cảm thức về hiện sinh, về bản thể, về thân phận con người vẫn luôn tồn tại. Do đâu NDL có những cảm thức Hiện sinh như vậy. Anh giải thích :” Tương ứng với giai đoạn “mười mấy đôi mươi” của thế hệ tôi là thời kì thoát khỏi nền kinh tế bao cấp, cùng nhiều thứ liên quan. Kế theo một khoảng nôn nao chuyển đổi, những “giá trị sống mới” bắt đầu hình thành, rồi “lên ngôi”. Khi tôi ngồi học trong nhà trường, thì lí tưởng vẫn là những thứ rất… sách vở, nhưng bước ra khỏi cổng lại là một thực tế rất khác. Tôi bắt đầu cảm nhận, mình là thành viên của một “Lost Generation”, khi cái cũ đã qua mà cái mới còn chưa tới.”(4)Anh giải thích về nội dung của GDCL :” Tôi viết về những con người không kịp chuẩn bị kĩ năng sống, giữa dòng chảy cuồn cuộn và hối hả của thế giới hôm nay. Chân phải bước lên “đoàn tàu mới”, nhưng chân trái bị kẹt lại “sân ga cũ”. Thành thử bị… xé làm đôi! Ðại ý vậy”(theo ANTG, đd). Như vậy NDL không định viết kiểu nhân vật tư tưởng như kiểu nhân vật cuả chủ nghiã Hiện Sinh, anh chỉ phản ánh một kiểu người cuả thực tại không hội nhập được với cuộc sống đang cuồn cuộn chảy.

Chương cuối anh viết rất hay, rất xúc động và vượt trội về tư tưởng khi nhân vật Anh đối ẩm với cái hũ đựng tro cốt ông hoạ sĩ, như thể ông vẫn đang sống, đang chia sẻ những cảm nghiệm hiện sinh mặc dù ông đã vượt qua tử sinh. “Vậy thì với ông, trước mặt anh phút này đây, có ý nghiã gì trong việc phân chia tồn tại với hư vô. Anh thật sự thấy ông đang ngồi đó, cũng như đương nhiên rằng ông đã chết. Hai cõi thực và ảo trộn hoà”(tr.360) Đoạn đối thoại sau đây của Anh với linh hồn ông hoạ sĩ chứa đựng nhiều tư tưởng cuả NDL:
- “Sao anh đi mà không báo em một tiếng?
- Tao đã đi đâu, vẫn đang ngồi trước mặt mày đó thôi
- Có thật thế không anh? Em đang tỉnh hay mơ?
- Mày đừng bắt tao triết lý nữa. Nào, mình cùng uống.
- Chị đang về đó anh ạ. Chị về đón anh đi!
- Tao chẳng đi đâu cả! Mày đem tao ra cái chỗ hôm rồi ngồi nhậu. Tao thích chỗ đó!Mày nhớ cái kè đá chứ?
- Để làm gì anh?
- Hãy cho tao xuống dòng sông…(tr.360)
- ..Mày hãy đưa tao đi khi nào thấy lòng thật bình an, đừng nghĩ đến chia ly hay ngậm ngùi gì cả
- Em đã thấy bình an
- Nào, vậy hãy lên đường” ”(tr.363)

NDL đã vượt qua hiện sinh, vượt qua cái duy tâm siêu hình, vượt qua cõi chết bước vào được cõi thường hằng, an nhiên. NDL không giải quyết vấn đề sinh tử theo quan điểm hư vô chủ nghiã hay bằng niềm tin tôn giáo. Anh cũng không theo kiểu duy tâm dân gian cho linh hồn người chết trở về báo mộng. Nhân vật Anh đối thoại với ông hoạ sĩ ngay trong cõi hiện sinh, với tâm thế an nhiên tĩnh tại, đằm thắm tình nghiã, dứt khoát về tư tưởng. Có thể nói NDL đã thâm nhập được rất sâu vào bản thể của tồn tại.

Trở về với dòng sông

Thái độ cuả NDL trước hiện thực là thế nào ?

Anh miêu tả cách làm việc của một cơ quan thật quái gở. Nơi ấy sếp là Chị Hai, chủ trì bàn nhậu, hết tăng một rồi tăng hai, tuần nào cũng nhậu, nhậu đến khi gục tại bàn mới thôi, không nhậu được là không thể trụ với cơ quan. Nơi ấy không thể dung chưá những người muốn làm việc như Anh. (chương 8.tr,149)

NDLcũng miêu tả với một nỗi xót xa vô hạn cái thực tại khó nghèo đến tận cùng cuả vợ chồng Anh ngay trong những ngày trăng mật. Anh không còn tiền, phải trọ nhà nghỉ rẻ tiền. Không khí thê lương u uất. Trên chuyến tàu trở về Anh chỉ còn biết khóc (tr246). Cảnh cùng cực của những người làm công ăn lương là vậy. Tháng lương Anh nhận ở dịch vụ vi tính bèo bọt đến nỗi làm Anh sụp đổ mọi dự tính, Anh không dám về nhà.(tr.258)

NDL cũng có thái độ rõ rệt với việc xuất cảnh. Nhiều ngươi coi việc đi Mỹ là một khát vọng cháy bỏng. Họ hình dung ra đất Mỹ như thiên đàng, giàu có, sung sướng, tự do. NDL đã phủ định cái nhận thức ấy. Người bạn rẫy khuyên Anh dứt khoát không đi. Ông hoạ sĩ trở về cũng khẳng định không đâu bằng quê nhà. Cô gái học Anh văn để tìm người xuất cảnh biến mất không còn tăm tích gì. Thái độ chần chừ của Anh về việc chị bảo lãnh tuy không phải là một thái dộ có ý thức về tình yêu quê hương hay thái độ từ bỏ lối sống thực dụng Mỹ, nhưng phần nào có ý nghiã phản ánh thái độ cuả NDL về vấn đề xuất cảnh.

Nhìn rộng ra các quan hệ xã hội, NDL thấy có một lớp trẻ sống vật vờ, thực dụng. Cô Bảo hiểm đã khai thác Anh để đi chơi biển rồi lấy Anh là để che dấu hành vi đồng tính nữ, còn cô học Anh văn, có lẽ lấy anh vì nghĩ rằng anh sẽ xuất cảnh và đem cô theo. Hai cô dong dỏng và lùn trong cơ quan trở thành chuẩn mực đo tửu lượng của nhân viên nam cho đến khi họ bị đánh gục. Lại có những người sống ỷ lại, chỉ ăn nhậu và ngủ. Nhân vật Anh có thể trở thành điển hình cho thói đại lãn . Nhân vậy bí mật trong bàn nhậu, gã quái đản (tr.352), nhiều lần Anh gặp ở quán, có lần suýt gây lộn, là nỗi ám ảnh suốt tác phẩm. Các quan hệ tình nghiã truyền thống trở nên vỡ vụn. Ông Hoạ sĩ bị vợ con đặt sang bên lề (tr.336), bạn bè hất hủi , đành trở về bến sông. Không còn khái niệm thuỷ chung trong tình yêu , không còn hình ảnh quen thuộc một gia đình đầm ấm có con cái cha mẹ, ông bà yêu thương quây quần bên nhau. Những tưởng cuộc tình duyên của Anh và Cô sẽ hạnh phúc, ông bà già vợ Anh đốc thúc hai người mau có con, vậy mà chỉ ba tháng họ đã chia tay. Ở một ý nghiã nào đó, tương lai đang trôi vô định không biết về đâu.

Con đường nào cho thực tại đang vỡ vụn ấy?
Phải trở về với dòng sông.

Trở về với dòng sông là trở về với cuộc sống đang trôi chảy, đang vượt lên phiá trước. Có một tiếng nói khẳng định mạnh mẽ trong tác phẩm. Những suy tư siêu hình chẳng ích gì, những trăn trở lo âu phải biến thành hành động. Phải bước theo cho kịp với mạch sống của thời đại. Những thói ỷ lại sống bám vào sự bao cấp của người khác chỉ dẫn đến cái chết. Phải làm chủ cuộc sống, làm chủ số phận cuả mình. Chương miêu tả nhân vật Anh đi thăm một người bạn làm rẫy là một chương có ý nghiã tư tưởng tích cực. Nhân vật Anh luôn tra hỏi về ngày mai:”Ngày mai sẽ ra sao “ một câu hỏi làm nát đầu Anh. Người bạn trả lời:”Cái ngày mai của ông đang ở trước mắt ông mà ông cứ lo tìm kiếm tận đẩu tận đâu. Chán bỏ mẹ! Ông đừng tưởng tui không biết tính ông!”(tr317). Anh ta nói về việc làm ăn thật sôi nổi. Anh có hàng chục mẫu cà phê, làm việc không ngơi tay, nhà đầy đủ tiện nghi. Vợ chồng, con cái vui vẻ, đầm ấm, hiếu khách. Bị cúp điện thì chạy máy nổ để thắp sáng và cho vợ con xem tivi. Nhìn cơ ngơi của bạn, Anh nhận định :

“Thế thì ông giàu to là phải!
Chớ sao. Phi nông bất ổn, ông bà noí vậy rồi. Nói thiệt, giờ tôi thấy cứ như mình là chắc cú nhất! Trí thức các ông phức tạp bỏ mẹ. Buông mấy thằng nông dân này ra là chết ngắc! Phải cho mấy ông lên đây, mỗi ông vài năm là tỉnh ra ngay!”(tr.312)
Khi Anh nói ý định đi xuất cảnh của mình thì người bạn gạt đi ngay.
- Ông điên à
- Sao lại điên?
- Tui thấy chẳng nơi nào bằng ở chỗ này! Có cho tui tỷ tấn vàng tui cũng chẳng đi đâu hết! Ông phải nghĩ lại, nghĩ lại ngay!...
- ..Ừ theo ý ông tôi sẽ nghĩ lại.(tr.316)
- Ông hiểu được ra như vậy là sáng suốt. Nhớ đó nghe, đừng đi đâu cả! Nếu cần thì ông lên đây hợp tác làm ăn với tui. Bán mẹ cái nhà thành phố mà lên. Đấy là biết nhìn xa trông rộng, biết đầu tư đúng chỗ. Cái nhà ông ở đó thử hỏi lên giá được bao nhiêu nữa? Còn đất đai trên này lên từng ngày một. Ông bán cái nhà ấy, hôm nay mua được hai ba, ít năm nữa mua được hai mươi, ba mươi. Tui nói dóc ông, tui đi đầu xuống đất”(tr.317)

NDL đã nói điều này : phải sống tích cực, thực tiễn. Phải làm chủ số phận của chính mình, không nên ảo tưởng về những cái gì ở ngoài mình, phải biết nắm bắt thời cơ, biết nhìn ra vấn đề về lâu dài.

Ông hoạ sĩ cũng truyền lại cho Anh những điều trải nghiệm, nhất là sau lần bị tai nạn tưởng chết:
”Tao nợ cuộc đời này nhiều. Nợ hội họa càng nhiều. Mất bao năm chẳng vẽ vời được gì. Những khát vọng tuổi trẻ bị vùi lấp. Cho đến lúc ý thức được ra cũng chỉ vẽ cầm chừng, bởi tự tôn. Qua sự việc vừa rồi, tao thấy mình cần làm một cái gì đó”(tr71)
Ông cũng nói với anh về trách nhiệm hôn nhân:

“Về cuộc hôn nhân của mày, tao không bàn thêm, chỉ dặn, nếu đã quyết thì phải ráng giữ gìn hạnh phúc. Quen nhau nhiều năm, lấy nhau rồi vẫn không tránh khỏi những cú sốc, có thể sẽ phải đối diện với thời gian đầu. Mày mới gặp nó chỉ vài tháng, đã tổ chức đám cưới ngay, vì thế càng cần phải sáng suốt, bình tĩnh. Cái sự xốc nổi của mày, tao lo lắm. Chuyện công việc làm ăn có thể đổi thay, còn hôn nhân nếu đã xác định bước vào nghiã là đã ký thác cả cuộc đời mày vào đó. Lỡ một lần là trượt dài, không đứng dậy nổi đâu. Mà có đứng dậy nổi, nhìn lên mọi thứ cũng đã cạn kiệt, ngày tháng, tâm trí, sức khoẻ..Trẻ còn chẳng làm gì nên chuyện, huống hồ già cả”(tr.198)
Ông anh rể cũng là hiện thân của cái triết lý hành động. “Ông ra đi ngót nghét ba chục năm, từng lăn lê với đủ thứ nghề trên đất khách. Từ đánh cá ở cực bắc, đến bắt gà bỏ bao trong mấy cái nhà máy chế biến thực phẩm ở miền trung, cắt cỏ ở miền đông, cuồi cùng là sang miền tây mở tiềm làm móng.”(tr.80) Ông nói với Anh :” Tao là vậy, làm hết mình, chơi hết sức. Đâu ra đó”(tr.94)

Vâng, phải hành động tích cực cho cuộc sống, phải thích ứng được với thời đại, đồng thời phải giữ cho được những giá trị truyền thống văn hoá Việt trước những cơn bão lũ vật vã của thời đại. Ta phải làm chủ vận mệnh của ta, bằng nội lực của chính mình.Trở về với dòng sông là trở về với những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc, cũng là vượt qua tử sinh, đạt đến cõi an nhiên trong tâm thức trước những biến động không ngừng của cuộc sống, trước những thực dụng, vị kỷ và vô luân. Trong tất cả chiều kích của tác phẩm, có thể nói điều này : đâu là ý nghiã của tồn tại?
Tháng 10. 2010
_______________________________
(1) www.thotre.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1397
(2) Phong Điệp trò chuyện với nhà văn Nguyễn Danh Lam
http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=2907
(3) Chủ nghiã Hiện Sinh – Nguyễn Tiến Dũng.Nxb Tổng hợp Tp HCM.2006. tr.10
(4) /www.thotre.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1397
(5) Nguyễn Danh Lam Sinh năm 1972.Tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật TP.HCM. Hiện sống và làm việc tại Sài Gòn.
Đã xuất bản:
- Tìm (thơ)
- Bến vô thường (tiểu thuyết)
- Giữa vòng vây trần gian (tiểu thuyết)
- Mưa tháng mười một (tập truyện ngắn

ĐÃ ĐĂNG :
http://hoinhavanvietnam.vn/Details/nha-van-tre/giua-dong-hien-sinh/32/0/2614.star,
ngày 26.10.2010
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=14113&LOAIID=28&LOAIREF=1&TGID=743. Ngày 28.10.2010
http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11384. Ngày 28.10.2010