album của BCT

album của BCT
một vài hình ảnh chia sẻ với bạn đọc

Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2009

ĐẤT TRỜI VẦN VŨ hay câu chuyện của kẻ chơi dao


CÂU CHUYỆN CỦA KẺ CHƠI DAO
Bùi Công Thuấn đọc tiểu thuyệt Đất Trời Vần Vũ của Nguyễn Một, Nxb Hội Nhà Văn 2009Ai cũng biết rằng văn chương là sự sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ, và tác phẩm văn chương là sự lên tiếng của nhà văn trước hiện thực thông qua hình tượng nghệ thuật. Khi đọc tác phẩm văn chương, tôi thường tìm kiếm sự sáng tạo cuả nhà văn và suy gẫm về những thông điệp nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Quả là thú vị nếu gặp được những sáng tạo mới mẻ , độc đáo. Bây giờ có người coi sáng tác văn chương là trò chơi chữ nghiã, nhưng tôi tin rằng nhà văn không chỉ là người “mua vui” cho thiên hạ, mà còn là người sáng tạo cái đẹp. Ngòi bút cuả nhà văn có sức mạnh…

Tôi sẽ viết những cảm nghĩ cuả mình một cách tự nhiên như nó xuất hiện khi tôi đọc tác phẩm, ngổn ngang như nội dung cuả Đất Trời Vần Vũ, và theo cái cách bây giờ người ta đọc văn bản, văn bản có nhiểu nghiã, diễn giải là vô tận, người đọc muốn giải mã thế nào cũng được (!), có khi không trùng khớp với ý định chủ quan cuả tác giả. Cũng không sao ! vì tác phẩm là một sinh thể biệt lập với tác giả. Khi đứa con tinh thần ra đời thì cũng là lúc tác giả bị khai tử.

Đất Trời Vần Vũ (ĐTVV) có hai câu chuyện được kể theo cấu trúc song song. Một câu chuyện ở hiện tại : đám tang lão Tư Ngồng, một câu chuyện ở quá khứ , do nhân vật Nhà Thơ kể, câu chuyện về dòng họ Tư Ngồng và con dao quyền lực.

Câu chuyện ở hiện tại : Trong quán cafe cuả Lụa, Bảy Tánh thông báo tin Tư Ngồng chết bí ẩn (chương 1), sau đó là việc chuẩn bị đám tang (chương 2) và chôn cất Tư Ngồng (chương 40). Rải khắp 27 chương sau đó là những sự việc và con người liên quan đến Tư Ngồng. Ông đã đi chiến đấu vì lý tưởng, vì tình yêu quê hương đất nước. Khi hoà bình, ông có chức có quyền và đặc biệt nắm trong tay quyền lực bí mật từ con dao, ông đã thay đổi (tr. 316) .Ông chiếm đoạt Lan, cô gái quê từ tay Trần Đình, bằng thủ đoạn. Ông chiếm đoạt Biển, giám đốc ngân hàng bằng quyền lực. Ông chiếm đoạt Diễm bằng tiền(tr.318) ,và sau cùng, chết bằng chính lưỡi dao quyền lực của mình.

Tuyến truyện quá khứ do nhân vật Nhà Thơ (Miên Trường ) kể gồm 13 chương, xen kẽ với tuyến truyên hiện tại. Nhà Thơ kể lại câu chuyện về con dao quyền lực mà dòng họ Trương Phước có được từ thời ông tổ Trương Phước theo Trần Thượng Công. Trương Phước đã dùng con dao quyền lực hãm haị nhà họ Trần. Tội ác chồng chất từ đời Trương Phước đến cháu là Trương Phước Loan, đến người cuối cùng là Trương Phước Tư (Tư Ngồng ). Khi chôn Tư Ngồng, ni cô Diệu Lan (vợ Tư Ngồng) đã ném con dao xuống huyệt.

Nguyễn Một là nhà văn Đồng Nai. Tôi đọc trong ĐTVV, anh chịu ảnh hưởng những sáng tạo nghệ thuật cuả những nhà văn Đồng Nai đi trước anh (điều này có thể anh không ý thức được?).

Cấu trúc truyện theo hai tuyến song song này tôi đã gặp trong Lời Nguyền Hai Trăm Năm cuả Khôi Vũ (1989). Khôi vũ kể hai tuyến truyện, lấy “lời nguyền “ làm yếu tố trung tâm của truyện, lấy năm cụ thể để định chương, có gắn với những sự kiện lịch sử được ghi chéo trong sách sử, tạo nên không khí sử thi cho tác phẩm và sức thuyết phục người đọc. Nguyễn Một lặp lại cấu trúc này, anh cũng dùng “con dao quyền lực” huyền hoặc làm trung tâm truyện, và xử lý chương khác đi. Anh không xác định thời gian những sự kiện lịch sử. Anh gọi đó là hiện thực mà lịch sử không chạm tới được. Nói nôm na thì đó là lịch sử được anh hư cấu, vì thế nó không có giá trị gì về sử liệu. Anh đã dùng “thi pháp ngược “ ( chữ cuả nhà văn Trần Thu Hằng) , xoá bỏ mốc thời gian. Nhân vật chết rồi, sau đó kể lại hành vi cuả anh ta qua những hồi tưởng, những giấc mơ cuả những nhân vậy khác.

Nguyễn Một sử dụng những huyền thoại của người Mạ để tạo ra tính ly kỳ hấp dẫn cho truyện. Cách viết này Lý Văn Sâm đã sử dụng từ những năm 1942 trong Thần Ngư Động và Xác Mu Mi Trên Núi Đá. Người đọc nhận ra điều này, Nguyễn Một viết không hấp dẫn bằng Lý Văn Sâm. Bởi vì, Lý Văn Sâm có bề sâu văn hoá Đồng Nai hơn, vì thế tình yêu quê hương Đồng Nai trở thành một đặc sắc văn chương của ông. Nguyễn Một chưa có được phẩm chất thẩm Mỹ này trong ĐTVV

Hình tượng Thế giới song song như là “sáng tạo” đặc biệt cuà Đất Trời Vần Vũ, cũng đã được dựng thành phim chiếu trên HTV9 ở Việt Nam từ hơn chục năm trước (Phim Vùng Đất Thủ Lĩnh Rồng http://img264.imageshack.us/img264/4139/spellbinderfw5.jpg ), Tuy vậy, nhân vật Nhà Thơ, một nhân vật kể truyện, người có khả năng đi về giữa thế giới song song và thế giới vật chất, để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc. Người đọc nghe được tiếng nói thẳm sâu của tâm hồn Nguyễn Một qua những tự tình của nhân vật này (chương 21).

Chi tiết Diệu Lan phải bú chó để sống cũng đã có trong truyện ngắn Hảo Hớn ( tập Tri Thiên Mệnh của Khôi Vũ) , kỹ thuật để cho Diệu Lan noí chuyện với con nhện (tr.70) cũng là kỹ thuật Khôi Vũ đã sử dụng trong Lời Nguyền Hai Trăm Năm.( Hai Thìn nói chuyện với con két, với gió, biển trên đường về làng biển Cát). Hình ảnh con người bị nhốt trong cũi (Thắng) như một con dã thú cũng đã có trong Đường Đi Không Đến cuả Xuân Vũ (1973). Chương 39, dường như anh viết không định tâm. Trương Phước Tư (Tư Ngồng ) lại đẻ ra Trương Phước Tư ?(tr.331)

Trong ĐTVV có những đoạn miêu tả thiên nhiên lấp lánh chất văn chương, làm cho trang văn của Nguyễn Một mượt mà hơn, tiểu thuyết hơn. Tuy vậy, Lý Văn Sâm đã sử dụng chất liệu thiên nhiên như là một đặc sắc thi pháp trong hầu hết truyện ngắn của ông, những cảnh sắc thiên nhiên đậm đặc chất Đồng Nai, Nguyễn Một chưa có được phẩm chất thẩm mỹ của ngòi bút tài hoa và đôn hậu này.

Như vậy, về nghệ thuật , từ cốt truyện đến chất liệu, Đất Trời Vần Vũ chưa có gì mới, và cũng chưa vượt qua được những nhà văn đi trước.

Nguyễn Một nói gì trong tác phẩm này ?
Có hai dang phát ngôn cuả nhà văn trong tác phẩm : qua lời nhân vật, lời bình ngoại đề, và qua hệ thống hình tượng. Phát ngôn cuả Nguyễn Một qua lời nhân vật có khi còn sống sượng và lộ diện. Người đọc thấy ngay rằng, nhân vật chỉ là cái loa phát rất to lời của tác giả thôi. Còn hệ thống hình tượng lại chưa đủ sức chuyên chở thông điệp Nguyễn Một muốn gửi gắm.

Nguyễn Một phê phán gay gắt nền giáo dục, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện tại . Giáo viên khổ vì chuyện vẽ vời của mấy ông lãnh đạo bên giáo dục (tr.114), đó là một nền giáo dục tồi tệ (tr.121). Muà hè, các thầy cô giáo có một tháng nghỉ ngơi, trước khi vào mùa hành xác với những giáo trình nhàm chán, được đặt tên là ‘bồi dưỡng nghiệp vụ’(tr.196). “Các thầy giáo, những trí thức của đất nước như em mà hàng tháng tranh giành nhau cái lốp xe đẹp theo phân phối. Các cô giáo hàng tháng được phát hai tấc vải mùng để làm băng vệ sinh, xài xong giặt phơi và để dành các tháng còn lại may mùng để ngủ, anh chưa thấy ở đâu trên thế giới này, con người sống nhục nhã như thế “(tr.225). ”thời buổi gì mà ngành giáo dục cũng có tham nhũng thì còn ra cái thể thống gì”(tr.200). “Hoá ra lâu nay lũ trẻ bị lưà dối, Cả nền giáo dục bị lưà dối”(tr.310)

Qua lời bà Năm Trầu, Nguyễn Một cũng chửi thẳng vào mặt loại cán bộ nhà nước tha hoá như Tư Ngồng (cán bộ cấp cao, tr. 285). Đó là “cái đồ dô ơn bạc nghiã “(tr.52), làm quan bây giờ là để hưởng thụ, vì “Kẻ chiến thắng phải được hưởng thụ những chiến lợi phẩm mà họ đã bỏ xương máu ra đổi lấy, đó là lẽ tự nhiên thôi, từ xưa đến giờ là thế, chế độ nào cũng vậy thôi”(tr.61). Chuyện cán bộ lợi dung quy hoạch để cuớp đất khiến cho nhân dân phải đấu tranh, đả đảo (chương 32, tr.264), Nguyễn Hữu Trí đi đòi công lý bị bắt (tr.209) Phải chăng Nguyễn Một tuyệt vọng khi than lên rằng Vân Tiên, Tử Trực chết hết rồi (chương 25)?

Nguyễn Một cũng không ngại khi phải đề cập tới những vấn đề “nhạy cảm”, có thể gây ngộ nhận: Trần Thượng Công suy tư về xứ sở phương Nam, ông cay đắng nhớ lại sự cai trị cuả người Mãn trên đất nước ông. “Ông không thể nào chịu đựng nổi bọn mọi rợ phương bắc lại có thể cai trị đất nước ông”(tr.28), ông còn nghe được lời thề cuả dân chúng “kề vai sát cánh với Chuá chống lại kẻ thù chung là Trung Quốc “(tr.30)

Ấn tượng mạnh mẽ người đọc cảm nhận được là tiếng nói phản kháng chiến tranh. Chiến tranh đồng nghiã với chết chóc. Cha Diệu Lan đã nghĩ thế này :”Ông chẳng có lý tưởng chính trị gì cả, là người nông dân, ông yêu ruộng đồng và ghét chiến tranh, cuộc chiến liên miên trên quê hương ông, người chết như rạ “(tr.72). “người anh hùng “ Trần Đình đi kiếm đàn bà, gây ra hai cuộc tàn sát trên cù lao Dao (chương 11). Nguyễn Một cũng đồng nhất những cuộc tàn sát cuả lính ngoại cuốc thời chống Mỹ với cuộc tàn sát vì hận thù tư lợi cuả Nguyễn Biện (chương 36). Anh không coi đâu là chiến tranh chính nghiã hay phi nghiã. Anh gọi chung là đội quân cứu nước, lính Cộng Hoà, lính ngoại quốc. Anh bảo “Mọi cuộc chiến nhìn từ phiá trước đều là chính nghiã (tr.92), như vậy nếu nhìn từ phiá sau hay nhìn từ phiá khác, thì sẽ thế nào ? chính nghiã hay không là tuỳ thuộc vào phiá người đứng nhìn. Cách đặt vấn đề như thế là rất khác với cách nhìn cuả những nhà văn trực tiếp sống chết ở chiến trường chống Mỹ (Anh Đức, chẳng hạn ). Nói về tàn khốc cuả chiến tranh , Phan Nhật Nam đã có Muà Hè Đỏ Lưả, sau đó Bảo Ninh đã sao chép lại y như vậy trong Nỗi Buồn Chiến Tranh. Nguyễn Một không phải là người trải nghiệm sinh tử trong lửa đạn nên không viết được như hai tác giả đi trước. Tiếng nói phản chiến của anh chỉ là lặp lại ngôn từ của người khác.(Trinh Công Sơn đã nói từ lâu trong Ca Khúc Da Vàng, và gần đây cuốn sách viết về Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn Vết Chân Dã Tràng đã bị phê phán )

“Tư tưởng” được Nguyễn Một khẳng định trong tác phẩm là : “Tình yêu đã cứu thế giới này, tình yêu mới thực sự có quyền lực và sức mạnh”(339). Anh có nói đến Phật, đến sư bà, ni cô Diệu Lan, nhưng họ vẫn vướng bận lòng trần, không siêu thoát được. Anh ca ngợi Chuá Kitô. “Ở đời này chuyện chết, sống là chuyện tương đối. Vì vậy, tôi tin vào sự phục sinh cuả Chuá Kitô, người ta đóng đinh thể xác Ngài vào cây thánh giá, nhưng triết lý ‘yêu thương loài người’ vĩ đại của ngài giúp cho Chuá ‘phục sinh’ trong lòng con người ‘ như bây giờ và hằng có đời đời chẳng cùng’”(232). Tư Ngồng mặc dù có lưỡi dao quyền lực nhưng không thể giết được Diễm khi Diễm đang hạnh phúc trong tình yêu bên Phong, trái lại, lưỡi dao quyền lực ấy quay lại giết lão. Rất tiếc ý tưởng này mới chỉ là ý tưởng của nhân vật chưa chuyển hoá thành hình tượng tư tưởng xuyên suốt tác phẩm. Và dù có thành hình tượng thì tư tưởng tình yêu thương cứu rỗi nhân lọai cũng đã được V.Hugo thể hiện thành công trong Les Misérables từ lâu rồi (1862).

Hình tượng tư tưởng xuyên suốt tác phẩm là “con dao quyền lực” và ý nghiã “ chơi dao có ngày đứt tay”. Chủ đề này đã được Nguyễn Huy Tiệp viết thành Kiếm Sắc rất ấn tượng trước đây. Con dao quyền lực cuả dòng họ Trương Phước đã gây hoạ đến người cuối cùng cuả dòng họ là Tư Ngồng. Nguyễn Một không miêu tả cụ thể Tư Ngồng có quyền lực gì, anh chỉ nói quyền lực ngầm, và vì thế hình tượng naỳ không có sức thuyết phục. Tư Ngồng có ăn chơi, có giết đồng đội, có có tranh quyền (nhưng có lý do), nhưng do đâu anh ta có tiền, do dâu có quyền thì Nguyễn Một không lý giải. Cái chết cuả Tư Ngồng không do hậu quả tranh giành quyền lực giưã các thế lực xả hội, mà chết do vỡ tim, vì lưỡi dao vô hình (Một cách lý giải duy tâm không có cơ sở ). Đây là mâu thuẫn bi kịch của Nguyễn Một. Anh biết rõ “con dao quyền lực “ là gì, ai nắm quyền lực ngầm ấy, họ sử dụng quyền lực ấy để làm gì, nhưng không dám nói thẳng ra hoặc thể hiện tư tưởng bằng hình tượng nghệ thuật, cuối cùng Diệu Lan vứt con dao quyền lực ấy xuống mộ huyệt cuả Tư Ngồng. Hình tượng anh xây dựng suốt tác phẩm bỗng trở nên vô nghiã.

Nguyễn Một giải quyết mọi mâu thuẫn thù hận trong cõi đời vật chất này bằng thế giới song song, vậy hình tượng này có ý nghiã gì? Đó là một thế giới “ không có hận thù, chiến tranh và những tranh chấp vật chất như chùng ta, nhưng tình yêu thì vẫn tồn tại, bởi tình yêu không là dạng vất chất”(tr.85). Có thể đó là một thế giới lý tưởng mà Nguyễn Một mong muốn có được trong cõi đời này khi anh thể hiện tinh thần phê phán chiến tranh. “Tôi đã gặp ông già người Mạ, kẻ đã đưa tôi vào thế giới song song để tránh cuộc chiến mà tôi chán ghét và sợ hãi “(tr.137). Nhưng trong xử lý nghệ thuật, anh đã không đạt được ý nguyện cuả mình. Anh vẫn phải vay mượn tư tưởng về kiếp sau cuả tôn giáo khi cho nhân vật đầu thai lại cõi nhân gian này (Linh Chi treo cổ và đầu thai lại), tất cả các nhân vật chết, đều vào thế giới song song và trở nên vô nghiã, vì anh không miêu tả họ sống thế nào trong thế giới ấy, vưà từ giã thế giới vật chất, họ bị lôi đi, nhẹ tênh, không còn thù hận, thế thôi. Cha mẹ Lụa , Lài đi vớt cá chết không thấy có mặt trên thế giới song song. Trần Đình kể cho Nhà Thơ nghe cuộc hỏi cung cuả Tư Ngồng khi gặp nhà thơ ở thế giới song song. Và Khi đã ở nơi ấy, Thắng vẫn nhìn cô giáo tắm, vuốt ve thân thể cô giáo !!(tr.288)

Tôi nghĩ Nguyễn Một chưa hình dung rõ ràng thế giới song song là gì, dùng thế giới song song để làm gì. Anh mới tưởng tượng ra (thực ra là mượn ý tưởng của người khác ) để lạ hoá văn chương tạo sự hấp dẫn thôi. Xin nhớ rằng thiên đàng, điạ ngục, niết bàn, cõi tiên cuả tôn giáo đã được dân gian miêu tả cụ thể, nơi ấy có thưởng có phạt rạch ròi, không sống chung hoà bình giưã kẻ xấu, kẻ ác với người hiền. Vì thế, thiên đàng, điạ ngục có ý nghiã giáo dục đối với tín đồ. Trái lại, sau cùng, Nguyễn Một phải tự phủ định thế giới song song của mình :”Hoá ra thế giới vật chất này có quy luật riêng cuả nó không lệ thuộc vào thế giới song song”(tr.338). Đặt ra thế giới song song nhưng không xây dựng thành hình tượng có ý nghiã tư tưởng mới lạ, tôi nghĩ Nguyễn Một đã làm nghèo nàn óc tưởng tượng cuả độc giả khi họ đã đọc Liêu Trai Chí Dị, Truyền Kỳ Mạn Lục , đọc các truyện tôn giáo, hoặc xem phim The Gosh

Trong Đất Trời Vần Vũ, Nguyễn Một tỏ ra tham lam quá đỗi khi anh biến tác phẩm thành một cái lẩu đủ mọi món trong đó, nhưng chẳng món nào ra món nào. Chương 28, 29 đưa chuyện Nguyễn Hữu Hà, anh cuả thấy giáo Nguyễn Hữu Trí vượt biên, phải ăn thịt người, được định cư ở Đan Mạch, chán trở về Việt Nam. Có lẽ Nguyễn Một muốn tuyên truyền tư tưởng này, ở nước ngoài (Châu Âu) không hạnh phúc bằng ở Việt Nam chăng. Nếu nghĩ như vậy thì thật đáng buồn cười. vấn đề là chương 28, 29 này chẳng ăn nhập gì với chuyện Tư Ngồng cả. Cũng vậy, anh đưa chuyện Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh vào ( không nói rõ tên ) và lên án cả nền giáo dục, tôi nghĩ cũng là chuyện thưà so với cốt truyện chính (chương 37. Tr. 310). Chuyện kể về tù cải tạo của Bảy Tánh cũng chỉ là để thêm vào cho có mùi vị thời đại. So với Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn thì những gì anh viết không tạo ra hiệu quả nghệ thuật nào.

Chuyện anh gọi cù lao Phố là cù lao Dao cũng là giải pháp nửa vời của chủ nghiã hiện thực. Trong truyện, anh đề cập đến những điạ danh của Đồng Nai (Đá Ba Chồng Định Quán-143, Miệt vườn Long Khánh-198, căn cứ Bàu Hàm-208…) rồi nửa úp nửa mở là cù lao Dao là cù lao Phố trong thế giới song song (chương 14) mà lịch sử không ghi chép lại, không đụng tới. Tại sao lại mập mờ như vậy. Có lẽ anh sợ đụng chạm hiện thực ở cù lao Phố chăng ?Người đọc sẽ nghĩ rằng ở cù lao Phố, cán bộ hầu hết tha hoá như Tư Ngồng? Đó là vùng đất mặc sức chém giết để giành gựt quyền lực. Những người dân thấp cổ bé miệng như bà Năm Trầu, Ba Thược, thầy giáo Trí đành bất lực đi tìm công lý?

Những chuyện vượt biên, chuyện dân khiếu tố vì đất bị quy hoạch, chuyện tiêu cực trong giáo dục, cuốn Hồi Ký cuả GS Nguyễn Đăng Mạnh, của Nhạc sĩ Tô Hải, bút ký chính trị cuả Nguyễn Khải, chuyện cán bộ tha hoá, báo chí đã nói quá nhiều rồi, noí mạnh mẽ. Nguyễn Một có nói lại cũng chỉ là theo đuôi hiện thực thôi, không góp thêm được tiếng nói có giá trị vào vấn đề. Hay anh muốn tác phẩm của mình làm nóng lại vấn đề chăng! Rất tiếc là tiếng nói anh đưa ra không có sức thuyết phục. Chẳng hạn chuyện giáo dục, chẳng lẽ tất cả các thầy cô giáo đều như anh nghĩ? Có thể anh vì lý do nào đó bỏ nghể dạy học (trước đây Nguyễn Một dạy học. tr.177. Đó là chuyện của cá nhân anh), nếu tất cả thầy cô giáo đều vì chán mà bỏ dạy thì đất nước này sẽ thế nào. Chỉ một lời nói của em bé với người tù cải tạo mà anh thoá mạ cả nền giáo dục của miền Bắc (tr.121), anh ca ngợi người tù cải tạo miền Nam. Tôi nghĩ tác giả hoàn toàn có quyền đưa ra ý kiến chủ quan của mình, thậm chí kể cả những ý kiến sai lầm trong nhất thời. Tuy nhiên, chỉ qua lời một em bé (trẻ con chưa có ý thức chính trị) mà xổ toẹt mọi giá trị của nền giáo dục miền Bắc, tôi nghĩ, nhận định như vậy là xuyên tạc hiện thực. Vì nền giáo dục ấy đã tạo nên những thế hệ anh hùng, và rất nhiều người tài giỏi làm rạng rỡ dân tộc này. Điều này không có gì phải nghi ngờ.
Người đọc còn tìm thấy nhiều phát ngôn cuả Nguyễn Một về nhà thơ (tr.174), về Bùi Giáng, về “văn học khai khẩn “(tr.199), “tính đặc thù” cuả miền Đông gian lao mà anh dũng (tr.14), những câu triết lý vặt về cuộc đời, chẳng hạn :” biết bao cuộc chiến tranh trên thế giới này vì người đàn bà “(164)’ hoặc, “ chỉ cần họ tin có thần thánh, cho dù điều đó có tồn tại hay không thì thần thánh và linh hồn cũng giúp con người sống tốt hơn em ạ”(tr.233)

Như vậy từ nội dung đến nghệ thuật, Đất Trời Vần Vũ không mới. Tôi noí ĐTVV không mới không có nghiã là không hay, không hấp dẫn.

Vậy ngòi bút Nguyễn Một có gì để người đọc hy vọng ?
Nếu đọc truyện ngắn và bút ký cuả Nguyễn Một, so sánh với ĐTVV, người đọc sẽ nhận thấy anh đã có một bước tiến khá dài và đáng trân trọng. Viết một tiểu thuyết 40 chương, 344 trang ,quả là công việc lao động tổn hao nhiều sức lực và tâm huyết. Anh muốn tác phẩm cuả mình chuyên chở được những vấn đề lớn như kiểu tác phẩm tư tưởng. Điều ấy anh chưa làm được trong ĐTVV. Tuy vậy, anh đã thể hiện một khả năng dàn dựng tiểu thuyết có tầm vóc lớn về thời gian, không gian với nhiều số phận . Văn chương của anh đã trau chuốt hơn , có chất Văn hơn, anh ít phô trương “cái tôi” hơn (mặc dù chất tự truyện vẫn còn rất rõ- chương 21). Nhiều chương anh viết rất sinh dộng, hấp dẫn, đã lộ ra cá tính thẩm mỹ của ngòi bút. Năng lực sáng tạo của trở nên hào sảng khi anh noí về thế giới song song, khi anh dựng lại chuyện lịch sử không ghi trong sách sử.Tôi nghĩ rồi đây anh sẽ vượt được những người đi trước nếu anh có được một ý thức sáng tạo mới mẻ và vẫn giữ được phong độ sáng tác như thế này.

12/2009

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét